Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG, VỆ SINH LAO ĐỘNG VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 1. Khái niệm an toàn lao động, vệ sinh lao động Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, an toàn lao động được hiểu là “ tình trạng điều kiện lao động không gây ra sự nguy hiểm trong sản xuất”. Vệ sinh lao động được hiểu là “tổng thể các tiêu chuẩn môi trường lao động (ánh sáng, chống bụi, nóng lạnh, gió, tiếng ồn, độ ẩm…); bảo hộ an toàn lao dộng, trang thiết bị bảo hộ lao động, máy móc, thiết bị sản xuất, chế độ ăn uống tối ưu thích hợp lao động với mỗi loại lao động; vệ sinh cá nhân của người lao động; nhà ở và các tiện nghi sinh hoạt; quản lý sức khỏe cho người lao động và gia đình,…”. “An toàn lao động, vệ sinh lao động” theo nghĩa rộng được hiểu là tổng hợp các biện pháp về khoa học- kĩ thuật, y tế- vệ sinh học, kinh tế học… được tiến hành nhằm thiết lập điều kiện làm việc đảm bảo an toàn, vệ sinh cho người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất khả năng bị tai nạn lao động hoặc giảm thiểu tỉ lệ người bị mắc bệnh nghề nghiệp trong môi trường làm việc.
Với tính cách là một chế định pháp luật, an toàn lao động, vệ sinh lao động là tập hợp các quy định của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động, có tính chất bắt buộc chung đối với các đơn vị sử dụng lao động, quy định các điều kiện an toàn lao động, vệ sinh lao động trong môi trường làm việc, các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hoặc khắc phục những yếu tố nguy hiểm, độc hại trong môi trường làm việc nhằm bảo vệ sức khỏe người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất các tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các đặc trưng của an toàn lao động, vệ sinh lao động Một là, các quy định về an toàn, vệ sinh lao động mang tính chất khoa học kĩ thuật rõ nét. Các biện pháp nhằm hạn chế, loại trừ các yếu tố nguy hiểm, có hại đến sức khỏe người lao động trong môi trường làm việc đều dựa trên những cơ sở khoa học- tự nhiên và được thực hiện bằng các giải pháp kinh tế.
Nó bao gồm các hoạt động điều tra, kiểm soát điều kiện lao động; phân tích, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố nguy hiểm, có hại đối với người lao động; giải quyết xử lý điều kiện, môi trường lao động; ban hành các tiêu chuẩn kĩ thuật về an toàn, vệ sinh lao động đối với từng ngành nghề, lĩnh vực; cải tiến trang thiết bị kĩ thuật, công nghệ sản xuất… Do đặc thù nói trên nên phần lớn các quy định điều chỉnh hoạt động an toàn lao động, vệ sinh lao động cũng mang tính chất khoa học- kĩ thuật. Như vậy, tính khoa học và tính pháp lý sẽ cùng tồn tại trong rất nhiều quy phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động. Các quy định về tiêu chuẩn ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm không khí, độ ồn, độ rung, nồng độ bụi tối đa trong môi trường làm việc…. là những quy định thể hiện kết quả cuối cùng của việc nghiên cứu các yếu tố khoa học- kĩ thuật, sinh học trong môi trường làm việc và sự ảnh hưởng của nó đến sức khỏe của người làm việc trong môi trường tương ứng.
Với việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chuyển hóa các kết quả này thành các quy định có tính quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động trong các văn bản pháp luật có hiệu lực bắt buộc chung trong phạm vi toàn quốc hoặc trong phạm vi từng ngành đã cho thấy tính khoa học kĩ thuật là một trong những đặc điểm riêng biệt của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động so với các chế định pháp luật lao động khác. Một trong những khía cạnh quan trọng của công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực an toàn lao động, vệ sinh lao động là ban hành và quản lý thống nhất hệ thống quy phạm, tiêu chuẩn kĩ thuật về an toàn, vệ sinh lao 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Theo quy định hiện hành, các bộ ngành chức năng có trách nhiệm phối hợp với nhau trong việc ban hành và quản lí thống nhất hệ thống tiêu chuẩn, quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động. Về hình thức, các quy định, tiêu chuẩn về an toàn- vệ sinh lao động chứa đầy đủ những yếu tố của một quy phạm pháp luật (như tính bắt buộc chung).
Bên cạnh đó, về nội dung còn chứa đựng những yêu cầu về mặt kĩ thuật nghiêm ngặt dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học về an toàn, vệ sinh lao động. Những quy chuẩn này (150 loại) có thể được áp dụng ở cấp Nhà nước hoặc cấp ngành nhằm mục đích hạn chế, ngăn ngừa các bệnh nghề nghiệp trong quá trình lao động. Đối tượng quản lý về an toàn lao động, vệ sinh lao động của Bộ LĐ- TBXH là các loại máy, thiết bị, vật tư và các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động trong cả nước. Trước đây, các thiết bị, máy móc trên được quản lý theo tiêu chuẩn do Nhà nước ban hành, hiện nay những quy phạm an toàn thường mang tên gọi chung là “ tiêu chuẩn Việt Nam”.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc ban hành các “tiêu chuẩn Việt Nam” nhưng do điều kiện về kinh phí hạn chế (3-5 triệu/1 Tiêu chuẩn Việt Nam), chịu ảnh hưởng của hệ thống tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động của Liên Xô cũ. một số tiêu chuẩn đã cũ, nội dung đã lạc hậu không phù hợp với khu vực và quốc tế như các quy phạm về an toàn lao động trong hầm lò than, điện lạnh, nồi hơi, các thiết bị nóng. cần được xem xét lại tiêu chuẩn và ban hành tiêu chuẩn mới phù hợp. Hai là, các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động mang tính bắt buộc cao: Để các giải pháp khoa học- kĩ thuật về an toàn, vệ sinh lao động được thực hiện, Nhà nước đã thể chế các biện pháp này thành quy định, tiêu chuẩn, yêu cầu cụ thể có tính chất bắt buộc chung đối với các đơn vị sử dụng lao động, các cá nhân người lao động và các chủ thể có liên quan trong quá trình áp dụng pháp luật.
Có thể thấy, phần lớn các văn bản pháp luật trong lĩnh vực 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com an toàn lao động, vệ sinh lao động đều chứa đựng các quy định “cứng”, không thể thỏa thuận giữa các chủ thể khi tham gia, ví dụ như các quy định về điều kiện làm việc, trang thiết bị bảo hộ lao động cá nhân, việc khám sức khỏe định kì cho người lao động. Trong chế định pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động vẫn có một số quy định mang tính “ định khung” khi xác định quyền lợi tối thiểu của người lao động trong việc thực hiện chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật, hay tiền bồi thường cho người bị tai nạn lao động, nhưng xét một cách khái quát và so sánh với cơ chế điều chỉnh của nhiều chế định khác của Luật lao động, có thể thấy: các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động mang tính “ cứng nhắc” hơn và khó có thể có phần linh hoạt để các bên thực hiện trong hợp đồng lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể. Đó cũng là nguyên nhân khách quan khiến các chủ thể khi thỏa thuận về điều kiện an toàn, vệ sinh lao động trong hợp đồng lao động hay thỏa ước lao động tập thể thường ghi là “ theo quy định của Pháp luật hiện hành”. Ba là, các quy phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động mang tính xã hội rộng rãi.
Việc thực hiện các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động đòi hỏi sự tham gia rộng rãi của tất cả các chủ thể, bao gồm: người lao động, người sử dụng lao động, các cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực lao động và các chủ thể khác ( như các tổ chức xã hội và các đoàn thể quần chúng có liên quan). Việc thực hiện đúng, đủ các quy định, tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động cũng chính là hoạt động đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động của mọi chủ thể tham gia quan hệ lao động. Họ là người thực hiện, giám sát việc thực hiện các quy định và cũng là người phát hiện các yếu tố nguy hiểm, có hại; từ đó yêu cầu, đề xuất biện pháp giải quyết nhằm góp phần đảm bảo và cải thiện điều kiện lao động ngày một tốt hơn. Do vậy, công tác an toàn, vệ sinh lao động chỉ có hiệu quả khi mọi ngành, mọi tổ chức, mọi cá nhân tự giác 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động.
Do đó, các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động thường mang tính xã hội rộng rãi và có liên quan đến nhiều đối tượng trong xã hội. Bốn là, quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người lao động. Lao động an toàn là yêu cầu tất yếu khách quan của quá trình sản xuất. Khi tiến hành hoạt động sản xuất, người lao động vừa tác động tới môi trường xung quanh vừa chịu các tác động ngược trở lại của môi trường nơi họ lao động.
Ngay từ thời sơ khai, con người đã biết cải tiến công cụ, điều kiện lao động để tự bảo vệ mình. Do hoạt động sản xuất là một trong những nguyên nhân gây tác hại đến môi trường sống, cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại, những tiến bộ về trình độ khoa học- kĩ thuật, công nghệ sản xuất cũng tăng lên góp phần đáng kể vào sự tiến bộ của xã hội nhưng mặt khác lại làm cho môi trường sống, trong đó có môi trường lao động ngày càng xấu đi do những tác động ngày càng nhiều với các yếu tố nguy hiểm độc hại như phóng xạ, tia tử ngoại. Môi trường lao động ngày càng đa dạng, phức tạp, nguy hiểm đòi hỏi công tác an toàn, vệ sinh lao động phải được phát triển tương xứng.