ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới. Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang phương thức sản xuất mới, hiện đại. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiến trình phát triển xã hội đã có sự thay đổi cơ bản, đó là phát triển đô thị kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn; là thay đổi căn bản xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp.
Để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa cần phải thực hiện việc thu hồi đất cho xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội,… đó là xu hướng tất yếu của quá trình phát triển. Ở nước ta, trong những năm qua trên khắp các vùng, miền của đất nước, nhiều khu công nghiệp, khu đô thị mới được xây dựng, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được nâng cấp, xây mới ngày càng đồng bộ và hiện đại. Nhờ đó, bộ mặt kinh tế - xã hội của đất nước đã thay đổi nhanh chóng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại và văn minh. Việc quy hoạch dân cư nhằm chỉnh trang đô thị, nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật, tạo điều kiện cho việc mở rộng, phát triển kinh tế - xã hội là một chính sách lớn được các cấp ủy Đảng và chính quyền nhân dân tỉnh Quảng Bình nói chung và huyện Quảng Ninh nói riêng đặc biệt quan tâm.
Chính sách này đã và đang mang lại hiệu quả hết sức to lớn. Quá trình kiến tạo lại môi trường đô thị ở huyện Quảng Ninh đã không chỉ tạo được môi trường sống, chất lượng sống tốt hơn mà còn đem lại niềm tin yêu, lòng tự hào cho người dân đối với Đảng, Nhà nước(NN) và chính quyền nơi đây. Tuy nhiên, đằng sau bất kỳ một chính sách nào, dù thành công đến mấy cũng thường có những vấn đề xã hội nhất định. Điều này đòi hỏi các cấp, các ngành phải có cái nhìn toàn diện, hợp lý để tăng cường hiệu quả cho xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Để thực hiện chủ trương quy hoạch lại đô thị, trong những năm qua ở tỉnh Quảng Bình, hàng chục dự án đã triển khai giúp hàng chục nghìn hộ dân được di dời đến các khu tái định cư (TĐC) mới. Trên nhiều mặt, SVTH: Nguyễn Thị Thuỳ Nhung – K46A KH-ĐT 1 Khoá luận tốt nghiệp đời sống của dân cư trong các khu vực này được cải thiện rõ rệt. Cơ sở hạ tầng(CSHT) như: Điện, đường, hệ thống cấp thoát nước, vệ sinh môi trường. đều được nâng cấp đạt tiêu chuẩn đô thị.
Nhưng một bộ phận dân cư vẫn còn băn khoăn về khả năng tìm việc làm, tạo thu nhập đảm bảo mức sống của dân cư thời "hậu tái định cư", đặc biệt là đối với nhóm cư dân nghèo. Vì vậy, ở một số nơi, một số người chưa thích nghi được với môi trường sống mới hoặc chưa tìm được việc làm ổn định sinh tâm lý thiếu an tâm. Mức sống ở một bộ phận dân cư chưa ổn định nhất là số người làm các nghề tự do đang cần tiếp tục hỗ trợ để tìm hướng giải quyết. Đây là vấn đề của không chỉ công tác truyền thông, giáo dục mà còn là một kế hoạch phát triển kinh tế, ổn định xã hội cả trước mắt lẫn lâu dài.
Do vậy, em đã chọn đề tài “Thực trạng mức sống của người dân sau tái định cư từ dự án khu đô thị mới thị trấn Quán Hàu, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình” để có cái nhìn tổng quát hơn về quá trình TĐC cũng như thấy được mức độ ảnh hưởng của nó đến đời sống người dân. Đây là yêu cầu khoa học cấp thiết giúp lãnh đạo huyện Quảng Ninh hoạch định và thực hiện những chính sách phù hợp nhằm phát triển sản xuất, ổn định đời sống, tạo tâm lý an tâm cho cộng đồng dân cư đã, đang và sẽ phải di dời, giải toả ở huyện Quảng Ninh. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Nghiên cứu, điều tra, so sánh đời sống, việc làm của người dân trước và sau khi tái định cư trên địa bàn huyện Quảng Ninh, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm ổn định, nâng cao đời sống của người dân sau tái định cư và làm giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực của việc tái định cư đến đời sống của người dân tại địa bàn nghiên cứu.
Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tái định cư. - Điều tra, phỏng vấn, thu thập thực trạng mức sống của người dân tái định cư trên địa bàn nghiên cứu. SVTH: Nguyễn Thị Thuỳ Nhung – K46A KH-ĐT 2 Khoá luận tốt nghiệp - Đề xuất một số giải pháp nhằm ổn định, nâng cao mức sống bền vững của người dân sau tái định cư và làm giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực của việc tái định cư đến đời sống của người dân tại địa bàn nghiên cứu. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.
Đối tƣợng nghiên cứu Đề tài nghiên cứu mức sống của người dân sau tái định cư từ dự án khu đô thị mới thị trấn Quán Hàu, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi thời gian: Từ năm 2012 đến năm 2015 đối với số liệu sơ cấp và 2016 đối với sô liệu thứ cấp. - Phạm vi không gian: Đề tài thực hiện trên địa bàn huyện Quảng Ninh, tập trung điều tra việc làm, thu nhập và cảm nhận của các hộ dân sau tái định cư từ dự án khu đô thị mới thị trấn Quán Hàu. Phƣơng pháp nghiên cứu 4.
Phƣơng pháp thu thập thông tin, số liệu, tài liệu 4. Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp - Thu thập số liệu thứ cấp: Từ các cơ quan nhà nước như Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Quảng Ninh, UBND huyện Quảng Ninh, Phòng Tài nguyên và Môi trường, UBND thị trấn Quán Hàu, các Báo cáo, tài liệu, những văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trung ương và địa phương về tái định cư; thu thập từ các số liệu trên sách báo, sách chuyên khảo, tham khảo các tạp chí, niên giám thống kê huyện Quảng Ninh và một số tài liệu báo cáo của các tác giả, các cơ quan trên các website. - Đề xuất của chuyên gia về giải pháp nhằm ổn định và nâng cao mức sống hộ dân sau tái định cư. Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp - Điều tra, phỏng vấn các hộ gia đình về đời sống, thu nhập và sự thay đổi ngành nghề, việc làm của các hộ dân trước và sau khi tái định cư.
Để làm rõ ảnh SVTH: Nguyễn Thị Thuỳ Nhung – K46A KH-ĐT 3 Khoá luận tốt nghiệp hưởng của việc tái định cư từ dự án khu đô thị mới thị trấn Quán Hàu đến đời sống, việc làm của người dân, tôi tiến hành điều tra 40 hộ dân thuộc các dự án trên. - Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Phƣơng pháp tổng hợp và xử lý số liệu - Trên cơ sở các tài liệu, số liệu thu thập được và kết quả điều tra, tiến hành lựa chọn, phân tích tổng hợp những thông tin liên quan đến đề tài; thống kê và xử lý số liệu theo mục đích, nội dung nghiên cứu; phân nhóm hộ và lựa chọn hộ điều tra phỏng vấn. - Minh họa bằng các bản đồ, biểu đồ và hình ảnh liên quan đến đề tài nghiên cứu để làm cho đề tài nghiên cứu sinh động hơn.
Phƣơng pháp phân tích số liệu - Thống kê mô tả; - Chuyên gia chuyên khảo; - Phân tích mô hình SWOT. SVTH: Nguyễn Thị Thuỳ Nhung – K46A KH-ĐT 4 Khoá luận tốt nghiệp PHẦN II. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VẤN ĐỀ TÁI ĐỊNH CƢ 1.
Cơ sở lý luận về vấn đề tái định cƣ 1.Khái niệm di dân Biến động dân số nói chung được chia thành hai bộ phận chủ yếu tương đối riêng biệt: biến động tự nhiên và biến động cơ học. Biến động tự nhiên mô tả sự thay đổi dân số gắn liền với sự ra đời, tồn tại và mất đi của con người theo thời gian. Khác với biến động tự nhiên, biến động cơ học biểu thị sự thay đổi dân số về mặt không gian, lãnh thổ. Trong cuộc sống con người di dời bởi nhiều nguyên nhân, với nhiều mục đích khác nhau, với khoảng cách xa gần khác nhau và vào những thời điểm khác nhau.
Quá trình này chịu tác động bởi nhiều những nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội do vậy nó mang bản chất kinh tế, chính trị, xã hội sâu sắc. Vậy di dân là gì? Có rất nhiều định nghĩa về di dân, mỗi định nghĩa xuất phát từ những mục đích nghiên cứu khác nhau, do đó rất khó tổng hợp thành một định nghĩa thống nhất bởi tính phức tạp và đa dạng của hiện tượng. Như vậy, có thể quan niệm: Di dân là khái niệm để chỉ trạng thái chuyển dịch dân số từ nơi này sang nơi khác, từ đơn vị này sang đơn vị khác, từ khu vực này sang khu vực khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác; thời gian định cư tùy theo mục đích di dân[7]. Xét gốc độ cá nhân, nhóm xã hội, di dân là sự dịch chuyển chỗ ở, nơi sinh sống.
Song trong từng trạng thái, tùy theo tính chất, có thể có những tên gọi khác nhau. Trog quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, để có đất xây dựng các công trình công nghiệp phải di chuyển dân đến nơi ở mới gọi là di dân tái định cư.Phân loại di dân Theo đặc trưng di dân, di dân được chia làm 4 loại: - Di dân có tổ chức: là hình thái di chuyển dân cư được thực hiện theo kế hoạch và các chương trình mục tiêu nhất định do nhà nước, chính quyền các cấp vạch ra và tổ chức, chỉ đạo thực hiện, với sự tham gia của các tổ chức đoàn thể xã hội. SVTH: Nguyễn Thị Thuỳ Nhung – K46A KH-ĐT 5 Khoá luận tốt nghiệp - Di dân tự phát: di dân mang tính chất cá nhân do bản thân người di chuyển hoặc bộ phận gia đình quyết định, không có và không phụ thuộc vào kế hoạch và sự hỗ trợ của Nhà nước và các cấp chính quyền.