Chương 1: F.Dostoevsky và triết học hiện sinh Chương 2: Xung đột giữa cá nhân và xã hội Chương 3: Ứng xử với Tự do. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: F.DOSTOEVSKY VÀ TRIẾT HỌC HIỆN SINH 1. Triết học hiện sinh và chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Thuật ngữ “Chủ nghĩa hiện sinh” (tiếng Anh: Existentialism) có gốc latin ex(s)ítentia nghĩa là Tồn tại hay còn gọi là "triết học sinh tồn”, là một trong những trào lưu triết học lớn vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Trào lưu này cho rằng tư duy triết học xuất phát từ chủ thể con người, không chỉ là chủ thể tư duy mà là cá thể sống, cảm xúc và hành động.
Trong triết học hiện sinh, xuất phát điểm của con người được đặc tả bởi cái từng được gọi là “thái độ hiện sinh” hay là một tình trạng nhất định hướng vào bối cảnh khi đứng trước một thế giới có vẻ như vô nghĩa và phi lý. Nhiều nhà hiện sinh cũng coi triết học hàn lâm hoặc triết học truyền thống ở phong cách cũng như nội dung là quá trừu tượng và tách biệt khỏi trải nghiệm cụ thể của con người. Vì thế, họ đưa tính đặc thù độc đáo của tồn tại con người lên vị trí hàng đầu. Tính độc đáo này không thể nhận thức bằng khái niệm và cũng không thể diễn đạt qua ngôn ngữ.
Chủ nghĩa hiện sinh bắt nguồn từ học thuyết của S. Kierkegaard và trở thành một trào lưu tư tưởng phổ biến ở Đức vào những năm 20 của thế kỷ XX. Khi đó nước Đức thua trận trong chiến tranh thế giới thứ nhất và bị tàn phá nghiêm trọng. Triết học hiện sinh của Martin Heidegger phản ánh tâm trạng bi quan của xã hội Đức trước sự tàn phá đó.
Trong chiến tranh thế giới thứ hai, trung tâm của chủ nghĩa hiện sinh từ Đức chuyển sang Pháp. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, mâu thuẫn trong chủ nghĩa tư bản tiếp tục phát triển gay gắt. Các cuộc khủng hoảng nhiên liệu, khủng hoảng sinh thái cùng với đạo đức xã hội suy thoái đã làm tăng sự khủng hoảng về tâm hồn của con người trong xã hội các nước tư bản chủ nghĩa, khiến cho tư tưởng hiện sinh 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lan tràn trên nước Mỹ và sang nhiều nước phương Tây khác. Phương thức sản xuất chạy theo lợi nhuận tối đa đã đẩy con người vào tình trạng tha hoá cùng cực, lấy đi của họ cái vị trí làm người đích thực.
Những tệ nạn xã hội cùng với sự tàn phá khủng khiếp từ hai cuộc thế chiến do chủ nghĩa đế quốc gây ra đã đẩy con người vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc trong đời sống tinh thần. Nhiều luận điểm của chủ nghĩa hiện sinh cùng với phong trào hiện sinh ra đời thể hiện sự nổi loạn trong lòng xã hội tư bản nhằm lên án xã hội, chống lại xã hội, kêu gọi con người phải tự cứu lấy mình. Nhưng con người chưa xác định được họ cần dựa vào cái gì để cứu mình và cứu xã hội. Nguyên nhân nữa là con người phản ứng trước việc các nước phương Tây tuyệt đối hoá vai trò của khoa học, sùng bái kỹ thuật đã hạ thấp, bỏ rơi con người hoặc chỉ quan tâm đến mặt vật chất mà xem nhẹ mặt tâm hồn, đời sống tình cảm của họ.
Triết học duy lý đã từng có vai trò tích cực nhất định trong việc làm cho các nước phương Tây đạt được những thành tựu vượt bậc trong chinh phục tự nhiên bằng khoa học, công nghệ hiện đại. Nhưng mặt trái của nó là bắt con người phải gánh chịu những hậu quả nặng nề về xã hội, về môi trường sinh thái. Một xã hội phương Tây giàu có về vật chất lại nghèo nàn về văn hoá, tinh thần; tăng trưởng nhanh về kinh tế lại suy thoái nhanh về văn hóa, đạo đức. Các nhà triết học hiện sinh hoàn toàn có lý khi họ kịch liệt phê phán sự tuyệt đối hoá vai trò của lý trí, của khoa học khi họ vạch rõ sự thiếu hụt tinh thần nhân đạo trong chính nền tảng của văn minh phương Tây.
Họ chỉ thừa nhận vai trò của cảm giác, của xúc cảm cá nhân, tức là ngả sang chủ quan phi duy lý. Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng, tự do là bản chất hiện sinh của cá nhân con người, nó không phục tùng Thượng đế hoặc bất cứ quyền uy nào, cũng không chịu sự ràng buộc của bất cứ tính tất yếu khách quan nào, nó là tuyệt đối. Giá trị hiện sinh của cá nhân được thể hiện trong sự lựa chọn của tự do cá nhân. Chủ nghĩa hiện sinh còn đặt tự do của cá nhân này đối chọi với tự do 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của cá nhân khác.
Tự do của cá nhân không bị gò bó bởi người khác hay bất kỳ lực lượng xã hội nào. Chủ nghĩa hiện sinh xuất phát từ tự do cá nhân tuyệt đối, cho rằng chỉ có cá nhân mới là hiện sinh chân thực, xã hội chỉ là một phương thức hiện sinh của cá nhân, hơn nữa là phương thức hiện sinh không chân thực. Bởi vì xã hội và cá nhân liên hệ chặt chẽ thì sự tồn tại của cá nhân sẽ không còn là cá nhân thực sự mà là cá nhân bị đối tượng hoá, bị mất cá tính do bị ràng buộc với người khác và với xã hội, là cá nhân bị tập thể, bị xã hội lấn át. Do đó, tồn tại xã hội đã bóp chết hiện sinh chân chính của con người.
Để khôi phục sự hiện sinh chân chính của mình, con người cần thoát khỏi sự ràng buộc của những người khác và của xã hội. Xã hội chính là sản vật tha hoá của con người, bản thân nó không phải là cái tồn tại khách quan tự thân phát triển theo quy luật mà là một mớ ngẫu nhiên những con người bị tha hoá. Động lực phát triển tất nhiên cũng không nằm trong bản thân xã hội mà là do hiện sinh của cá nhân quyết định. Vì thế cần tìm hiểu tiến trình và đặc điểm của lịch sử thế giới ở bên trong cá nhân con người.
Theo chủ nghĩa hiện sinh, một mặt lịch sử xã hội là sự tha hoá của tồn tại cá nhân, nên bản thân nó không có thực tại khách quan; mặt khác con người lại bị nô dịch bởi những cái mà họ sáng tạo ra, đó là sức mạnh tha hóa. Hơn nữa, mọi cố gắng thoát khỏi sự nô dịch đó đều vô ích, đều bị thất bại. Do đó, lịch sử loài người chỉ là một bi kịch không có kết thúc. Vậy con người làm thế nào để giải thoát khỏi sức mạnh tha hoá và bi kịch của họ? Chủ nghĩa hiện sinh nhận định rằng không thể dựa vào khoa học và lý tính hay bất cứ cái gì khác mà chỉ có thể tự cứu mình bằng những hành động tự phát, mạo hiểm hoặc chờ mong sự giải thoát ở các lực lượng tôn giáo thần bí.
Đó là con đường bế tắc mà chủ nghĩa hiện sinh chỉ ra cho con người. Chủ nghĩa hiện sinh là một trường phái triết học rất phức tạp. Tuy rằng, tất cả những người theo chủ nghĩa hiện sinh đều coi sự hiện sinh của cá nhân 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là nội dung cơ bản trong triết học của mình, đều coi hiện sinh là sự cảm thụ chủ quan, sự thể nghiệm tâm lý có tính chất phi lý tính của cá nhân, hiện sinh có trước bản chất (có nghĩa là con người hiện hữu trước, tự nổi lên trong thế giới, và sau đó nó mới được định nghĩa với câu nói rất nổi tiếng: con người không có cái gì khác ngoài cái mà nó đang hiện ra); nhưng quan điểm của những đại biểu triết học lại có sự khác nhau. Ngoài phân biệt quốc gia như chủ nghĩa hiện sinh Đức, chủ nghĩa hiện sinh Pháp và chủ nghĩa hiện sinh của Mỹ, còn có thể phân biệt chủ nghĩa hiện sinh theo thái độ với tôn giáo như chủ nghĩa hiện sinh vô thần và chủ nghĩa hiện sinh hữu thần.
Kế thừa tri thức của nhiều nhà tư tưởng, chủ nghĩa hiện sinh ra đời như là một kết quả tất yếu sau các cuộc chiến tranh đẫm máu, hướng mọi suy tư, mọi câu hỏi về thân phận của con người. Theo họ, con người có thể tự do lựa chọn cách sống, thái độ sống của mình. Họ kêu gọi con người quay về với cá nhân bởi không gì tha thiết với con người bằng chính con người. Bởi vậy, tiếng nói của hiện sinh được mọi người, nhất là tầng lớp thanh niên sống trong xã hội khủng hoảng với nhiều chuyển biến, lớp người nhiều lo âu về thân phận mình, chào đón một cách nồng nhiệt.
Và vì thế, từ một trào lưu triết học, nó đã ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến văn học và các ngành nghệ thuật khác. Các nhà hiện sinh không chỉ trình bày những quan điểm của mình qua sách báo lý luận thuần túy mà họ còn truyền tải tới đông đảo bạn đọc bằng các hình thức tác phẩm văn chương như truyện ngắn, kịch, tiểu thuyết, nghiên cứu văn học… Cùng chung một đối tượng: con người, cuộc sống và cái chết của con người nên triết học hiện sinh thường gắn liền với văn học. Do vậy, triết học hiện sinh đã đi vào đời sống và văn học một cách trực tiếp mà các triết thuyết khác không có, vô cùng tự nhiên và với mức độ phổ biến ngày càng sâu rộng. Từ đó, một trào lưu văn học hiện sinh xuất hiện ở châu Âu với các đại diện là những nhà văn đồng thời là những triết gia hiện sinh.
Tuy nhiên, 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khi ảnh hưởng đến tư tưởng của các nhà văn thì chủ nghĩa hiện sinh lại được phân hóa một cách rõ nét hơn với hai khuynh hướng: hữu thần (hay còn gọi là hiện sinh tôn giáo) và vô thần. Các khuynh hướng này được thể hiện rõ nét trong các tác phẩm cụ thể của họ. Đối với hiện sinh hữu thần: Kierkegaard2, Gabriel Marcel3, Karl Jaspers, Martin Buber, Nikolai Berdyaev, Lev Shestov, … là những đại diện tiêu biểu. Trường phái này cho rằng: ý nghĩa của tất cả hiện hữu là hướng lên một cách mạnh mẽ, từ lĩnh vực những sự vật vật chất lầm lỳ, qua hiện sinh tinh thần của con người đến miền siêu việt của Thiên Chúa mà họ gọi là “Tồn tại tự nó” (An-sich-Sein).