chương 1. 50 CHƯƠNG 2: CẢM THỨC HIỆN SINH TRONG THƠ HOÀI KHANH NHÌN TỪ NỘI DUNG, TƯ TƯỞNG. Cảm thức về nỗi buồn, cô đơn và khao khát đi tìm cái tôi bản thể. Cảm thức về nỗi buồn của kiếp người.
Cảm thức nỗi cô đơn thân phận. Cảm thức khát khao đi tìm cái tôi bản thể. Cảm thức bơ vơ, lo âu và nỗi ám ảnh hư vô về kiếp nhân sinh. Cảm thức bơ vơ về sự lạc loài trước cuộc đời.
Cảm thức lo âu về sự mất mát trong tình yêu. Cảm thức ảm ảnh hư vô về kiếp nhân sinh. Cảm thức về cái chết, thân phận lưu đày, nỗi khắc khoải nhân sinh 78 2. Cảm thức về cái chết trước một thế giới đổ vỡ.
Cảm thức về thân phận lưu đày. Cảm thức về nỗi khắc khoải nhân sinh. 84 Tiểu kết chương 2. 88 CHƯƠNG 3: CẢM THỨC HIỆN SINH TRONG THƠ HOÀI KHANH NHÌN TỪ NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN.
Không-thời gian trong thơ Hoài Khanh nhìn từ cảm thức hiện sinh 89 3. Cảm thức hiện sinh từ không gian suy nghiệm của cái tôi bản thể89 3. Cảm thức hiện sinh từ thời gian tâm tưởng theo dòng ý thức. Cảm thức hiện sinh nhìn từ sự chuyển hóa không-thời gian.
Giọng điệu thơ Hoài Khanh nhìn từ cảm thức hiện sinh. Cảm thức hiện sinh từ giọng điệu buồn bã, hoài niệm. Cảm thức hiện sinh từ giọng điệu lo âu, hoài nghi. Cảm thức hiện sinh từ giọng điệu suy tư, tự vấn.
Ngôn ngữ và biểu tượng dòng sông trong thơ Hoài Khanh nhìn từ cảm thức hiện sinh. Cảm thức hiện sinh qua ngôn ngữ mờ hóa. Cảm thức hiện sinh từ vẻ đẹp hài hòa qua ngôn ngữ thơ Lục bát115 3. Cảm thức hiện sinh nhìn từ biểu tượng dòng sông.
118 Tiểu kết chương 3. 124 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ. 127 DANH MỤC KHẢO SÁT. 128 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
Lý do chọn đề tài Văn học Việt Nam thế kỉ XX là những dòng chảy độc đáo, vừa kế thừa truyền thống, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nước ngoài, gắn liền với sự vận động không ngừng của lịch sử dân tộc. Trong giai đoạn 1954-1975, văn học Việt Nam phân hóa thành hai nền văn học khác nhau. Nếu như ở miền Bắc dưới sự lãnh đạo của Đảng, với một nền văn nghệ phục vụ cách mạng, kháng chiến, mang khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa thì văn học miền Nam lại phát triển trong sự đa khuynh hướng do ảnh hưởng từ sự tiếp nhận văn hóa phương Tây. Đời sống văn nghệ miền Nam giai đoạn này hết sức phức tạp gắn liền với những biến động thời cuộc.
Từ tiểu thuyết, thơ ca, đến lý luận, phê bình trong văn học miền Nam đều đạt được nhiều thành tựu đáng kể, trong đó thơ ca có bước phát triển mạnh mẽ với một diện mạo mới. Thơ ca giai đoạn này là một bức tranh mang tính lập thể nhiều màu sắc, là một dàn hợp xướng đa thanh, với những gương mặt thơ tiêu biểu như: Bùi Giáng, Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Thanh Tâm Tuyền, Du Tử Lê, Tô Thùy Yên, Nguyễn Đức Sơn, Hoài Khanh, Vũ Hữu Định, Trần Dạ Từ, Trần Thị Tuệ Mai, Trần Thy Nhã Ca, Trụ Vũ, Ngô Kha, Lê Văn Ngăn, Trần Quang Long… Trong văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975, Hoài Khanh được quan tâm nhiều trong giới lý luận, phê bình. Thơ ông xuất hiện trong các công trình nghiên cứu như: Đi vào cõi thơ của Bùi Giáng; Thi ca Việt Nam hiện đại của Trần Tuấn Kiệt; Thơ Việt Nam hiện đại của Uyên Thao; Những nhà thơ hôm nay của Nguyễn Đình Tuyến; Văn học hiện đại: thi ca và thi nhân của Cao Thế Dung…Hoài Khanh đã khẳng định được vị trí xứng đáng trong lòng bạn đọc với một hồn thơ mộng mị, u huyền qua các tập: Thân phận (1962), Lục bát (1968), Gió bấc - Trẻ nhỏ - Đóa hồng và Dế (1970). Qua đó, người đọc không ngừng suy tư, trăn trở khi đi vào thế giới thơ của Hoài Khanh “như đi vào cõi 2 như lai tịch mịch ngậm ngùi.
Như đi vào một cung đàn diễm ảo nhớ nhung khép mở, gây một trận tịch hạp chon von, cho nảy ra một niềm đốn ngộ” (Bùi Giáng, 1969, trang 123). Nếu như chúng ta có một Thanh Tâm Tuyền mang vẻ đẹp hiện đại với âm hưởng hợp xướng Tây phương, bao trùm bởi cái “tôi hiện sinh, đang kiêu hãnh sống, bên cạnh cuộc đời và con người đáng chán và buồn nôn” (Nguyễn Vy Khanh, 2021, trang 1384); một “Bùi Giáng đi vào thơ, luôn mang theo bên mình niềm ám ảnh của triết học để rẫy rụa trong đó với băn khoăn” (Tạ Tỵ, 1971, trang 571); một Tô Thùy Yên “là dấu vết khảo cổ, nhân chủng học cho một phương Đông huyền diệu, thần bí” (Nguyễn Vy Khanh, 2021, trang 1464); một Nguyễn Bắc Sơn mang một hồn thơ khinh bạc của tâm tính con người bất lực trước sự tàn bạo của chiến tranh, mang âm hưởng “bi tráng ở đường cùng không lối thoát” (Nguyễn Vy Khanh, 2021, trang 1180); một Du Tử Lê “hóa giải muôn trùng định kiến, bay lên những đứt gãy thế cuộc lẫn đời riêng” (Du Tử Lê, 2019, trang 10) thì ta có một Hoài Khanh mang khuynh hướng triết lý về phận người về cái tôi hiện hữu “của một kẻ bị đày giữa bãi đất hoang tàn của nghĩa địa trần gian” (Hoài Khanh, 2014, trang 6). Có thể nói, hơn bao giờ hết tiếng thơ của Hoài Khanh trong Thân phận luôn ý thức rõ những miền đau mất mát của kiếp người, trong sự vô định của cuộc đời. Đó là cảm thức hiện sinh của con người trước một thế giới cô đơn, đầy những đổ vỡ, dị biệt.
Dòng chảy thơ Hoài Khanh cũng luôn biến động vô thường với dòng đời va đập bởi những biến cố của thời đại. Đọc thơ Hoài Khanh, chúng tôi bắt gặp một cõi thơ mang tâm sự đồng cảm của con người trong nỗi đau, bơ vơ của số phận, cùng những thanh âm trầm lặng mang dư vang của một thời. Với một tình yêu thơ tha thiết trong sự đồng điệu tâm hồn cùng tác giả và việc sử dụng lý thuyết của triết học hiện sinh để soi chiếu, chúng tôi mong 3 muốn chạm vào những vỉa tầng nhân bản trong thơ Hoài Khanh. Qua đó, chúng tôi hy vọng đưa ra những kiến giải về thế giới nghệ thuật mang cảm thức hiện sinh trong thơ ông.
Đồng thời khẳng định vị trí thơ Hoài Khanh trong dòng chảy văn học miền Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung. Vì thế, chúng tôi chọn đề tài: Cảm thức hiện sinh trong thơ Hoài Khanh. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2. Lược sử quá trình nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam 2.
Trước năm 1975 Cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, triết học hiện sinh hay chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism - còn gọi là: Thuyết sinh tồn-Thuyết hiện sinh-Triết hiện sinh- Phong trào hiện sinh) xuất hiện và nhanh chóng chiếm ưu thế, trở thành trào lưu văn hóa lớn của phương Tây và nhân loại. Các đại diện tiêu biểu của chủ nghĩa hiện sinh trong thế kỉ XIX là Soren Kierkegaard (1813-1855), Arthur Schopenhauer (1788-1860), Friedrich Nietzshe (1844-1890) về sau được tiếp nối bởi Jean-Paul Sartre (1905-1980), Albert Camus (1913-1960), Simone de Beauvoir (1908-1986) ở thế kỉ XX. Triết học hiện sinh có tác động sâu rộng trên nhiều lĩnh vực và ở nhiều quốc gia với những quan điểm có ý nghĩa nhân văn. Chủ nghĩa hiện sinh ra đời ở châu Âu nhưng đã ảnh hưởng lan rộng sang châu Mỹ và châu Á trong đó có Việt Nam.
Chủ nghĩa hiện sinh đã được tiếp nhận trong đời sống văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 một cách hệ thống từ con đường dịch thuật, nghiên cứu. Ta có các công trình tiêu biểu như: Triết học hiện sinh của Trần Thái Đỉnh (1967); Nguyên Tử hiện sinh và hư vô của Nghiêm Xuân Hồng (1969); Hiện tượng luận về hiện sinh của Lê Thành Trị (1969); Sartre và Heidegge trên thảm xanh của Tam Ích (1969); Heidegger trước sự phá sản của tư tưởng Tây phương; Đâu là con đường tư tưởng? hay con đường triết lý từ Kant đến Heidegger Lê Tôn Nghiêm (1970); Mổ xẻ nhà văn hiện sinh Jean - paul 4 Sartre của Nguyễn Quang Lục (1970); Những chủ đề triết học hiện sinh của E. Mounier, Thụ nhân dịch (1970); Cuộc phiêu lưu tư tưởng văn học Âu Châu thế kỉ XX, của R. Albérès Vũ Đình Lưu dịch (1971); Martin Heidegger - Hữu thể và thời gian, Lê Tôn Nghiêm giới thiệu, Trần công Tiến dịch (1973); Triết lý là gì? của Martin Heidegger, Phạm Công Thiện dịch (1974).
Cùng với quá trình nghiên cứu, dịch thuật thì khuynh hướng hiện sinh dần có tầm ảnh hưởng lớn trong đời sống văn học miền Nam giai đoạn 1954- 1975. Trên bình diện sáng tác, xuất hiện nhiều cây bút tiêu biểu như: Dương Nghiễm Mậu (Địa ngục có thật, Gào thét), Thanh Tâm Tuyền (Mù khơi, Tôi không còn cô độc), Bình Nguyên Lộc (Ái ân thâu ngắn cho dài tiếc thương, Những bước lang thang trên hè phố, Trăm nhớ ngàn thương), Doãn Quốc Sỹ (Dòng sông định mệnh, Sầu mây), Nguyễn Mộng Giác (Tiếng chim vườn cũ, Qua cầu gió bay), Nhã Ca (Bóng tối thời con gái, Mưa trên cây sầu đông), Mai Thảo (Mười đêm ngà ngọc, Chỉ là ảo tưởng), Võ Phiến (Mưa đêm cuối năm, Thương hoài ngàn năm), Nguyễn Thị Hoàng (Vòng tay học trò, Tiếng chuông gọi người tình trở về), Duyên Anh (Ảo vọng tuổi trẻ, Hồn say phấn lạ), Vũ Hoàng Chương (Tâm sự kẻ sang Tần, Đời vắng em rồi say với ai), Đinh Hùng (Đường vào tình sử), Bùi Giáng (Mưa nguồn, Mưa nguồn hòa âm), Hoài Khanh (Lục bát, Thân phận), Nhật Tiến (Những vì sao lạc, Thềm hoang, Giấc ngủ chập chờn), Nguyễn Thị Thụy Vũ (Mèo đêm, Lao vào lửa, Thú hoang), Vũ Khắc Khoan (Thành Cát Tư Hãn, Những người không chịu chết)…Có thể nói, đội ngũ sáng tác giai đoạn này vô cùng phong phú và đa dạng, đạt nhiều thành tựu ở nhiều thể loại văn học như: Truyện ngắn, tiểu thuyết, ký, thơ ca, kịch… Ngày nay, sau tiến trình mở cửa, hội nhập khi nhìn lại quá khứ, chúng tôi nhận thấy rất nhiều những sáng tác của những tác giả trên có giá trị nghệ thuật cũng như nội dung, tư tưởng. Vì thế văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 là một bộ phận không thể tách rời của nền văn học dân tộc.