CHƯƠNG 1 QUAN ĐIỂM DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ MÂU THUẪN VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN 1. KHÁI NIỆM, CẤU TRÚC VÀ PHÂN LOẠI MÂU THUẪN BIỆN CHỨNG TRONG TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN 1. Khái niệm mặt đối lập và mâu thuẫn Kế thừa có chọn lọc những thành quả của các nhà triết học tiền bối, mà trực tiếp là phép biện chứng của Hêghen và quan điểm duy vật của Phoiơbắc, cùng với sự khái quát những thành tựu mới nhất của khoa học đương thời, vào giữa thế kỷ XIX, C. Ăngghen đã sáng lập ra triết học duy vật biện chứng và phép biện chứng duy vật.
Trong phép biện chứng duy vật có sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật. Một trong những công lao to lớn của C. Ăngghen là hai ông đã khắc phục được những hạn chế vốn có của phép biện chứng tự phát thời cổ đại, đồng thời cứu phép biện chứng ra khỏi cái vỏ duy tâm thần bí trong triết học Hêghen, làm cho phép biện chứng duy vật trở thành một khoa học. Phép biện chứng duy vật đã khái quát một cách đúng đắn những quy luật vận động và phát triển chung nhất của thế giới.
Nội dung cơ bản của phép biện chứng gồm hai nguyên lý (nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển), các cặp phạm trù và các quy luật cơ bản. Mâu thuẫn biện chứng là một trong những vấn đề quan trọng của triết học Mác - Lênin nói chung và của phép biện chứng duy vật nói riêng. Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan, phổ biến ở mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Lịch sử xã hội loài người trước Mác đã sớm phát hiện và tìm cách giải quyết mâu thuẫn theo những cách tiếp cận Luan van khác nhau.
Thuyết Âm – Dương ra đời rất sớm (từ thời thượng cổ - thiên niên kỉ II, thời Phục Hy) ở Trung Hoa cổ đại. Thuyết này đã giải thích khởi nguyên sự vận hành của vũ trụ từ sự phân đôi cái thống nhất thành hai mặt đối lập Dương và Âm. Âm và Dương là hai mặt đối lập, đối chọi nhau nhưng thống nhất với nhau trong vạn vật; là động lực của mọi sự vận động, phát triển; là khởi nguyên của mọi sinh thành và biến hóa. Trong đó, người Trung Hoa thời bấy giờ luôn luôn nhấn mạnh: mặt Dương giữ vai trò chủ đạo và vượt trội hơn so với mặt Âm.
Những tư tưởng nêu trên là sự đóng góp rất to lớn của thuyết Âm - Dương ở Trung Hoa cổ đại vào lý luận về mâu thuẫn. Tuy vậy, quan điểm về mâu thuẫn ở Trung Hoa cổ đại có những hạn chế nhất định mà về sau phép biện chứng duy vật phải khắc phục. Đó là, thuyết này mới chỉ thấy sự thống nhất của các mặt đối lập, mà chưa thấy được sự đấu tranh, bài trừ, gạt bỏ, chống đối lẫn nhau giữa chúng. Bởi vậy, đây không phải là học thuyết về sự phát triển, mà chỉ nhằm duy trì trật tự cân bằng Âm - Dương trong vạn vật.
Và do chỗ, chưa thấy được sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nên thuyết Âm - Dương cũng chưa nêu lên được vấn đề giải quyết mâu thuẫn - một trong những vấn đề rất quan trọng của lý luận về mâu thuẫn. Khác với phương Đông, ở phương Tây cổ đại, việc nghiên cứu về mâu thuẫn bao quát được cả hai hình thức: mâu thuẫn trong hiện thực khách quan và mâu thuẫn trong tư duy. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại thời kỳ này như Hêraclít, Arixtôt, Êpiquya, Zênôn, Cantơ. đã đưa ra những phát hiện khá thú vị về sự tồn tại của các mặt, các khuynh hướng đối lập trong tự nhiên và xã hội.
Đến với Hêraclít (540 - 480 TCN) - ông tổ của phép biện chứng, người đã đưa ra tư tưởng về sự thống nhất, đồng nhất của các mặt đối lập. Theo Luan van Hêraclit, “Cùng ở trong mỗi chúng ta - sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già, bệnh tật và sức khỏe, đói và no, mệt nhọc và nghỉ ngơi, cái cao đẹp và cái thấp hèn. bản chất của chúng là một” [17, tr. Tư tưởng về sự đồng nhất giữa các mặt đối lập là một phát hiện thú vị của Hêraclít.
Sau này, trong lý luận về mâu thuẫn, về quan hệ giữa các mặt đối lập, Mác, Ăngghen và Lênin cũng nêu lên tư tưởng này. Kế thừa quan điểm của Hêraclít, C. Mác cho rằng: các mặt đối lập là đồng nhất khi chúng có cùng một bản chất (ví dụ, cực Bắc và cực Nam có cùng bản chất, chúng đều là những đầu cực của trái đất). Đến Lênin, ông bổ sung thêm, các mặt đối lập là đồng nhất không chỉ là hai mặt có cùng một bản chất mà chúng còn có thể chuyển hóa lẫn nhau, và vì đồng nhất nên chúng mới có thể chuyển hóa cho nhau.
Cũng giống như triết học của Lão Tử, trong triết học Hêraclít, các mặt đối lập làm tiền đề cho nhau, sự xuất hiện của mặt đối lập này quyết định sự xuất hiện của mặt đối lập khác: “Bệnh tật làm cho sức khỏe đáng quý hơn, cái ác làm cho cái thiện cao cả hơn, cái đói làm cho cái no dễ chịu hơn”; các mặt đối lập có thể chuyển hóa lẫn nhau “Cái nóng lạnh đi, cái lạnh nóng lên. Cái ướt khô đi, cái khô ướt lại” [17, tr. Ngoài ra, Hêraclít còn thấy được sự đấu tranh giữa các mặt đối lập. Ông cho rằng, sự xung đột giữa các mặt đối lập là nguồn gốc của sự phát triển, của sự biến hóa.
Trong lĩnh vực xã hội, ông nhấn mạnh thêm, thông qua “đấu tranh” bản chất của sự vật bộc lộ ra và nhờ đó con người nhận thức đúng sự vật. Nói về mâu thuẫn, cũng như Lão Tử, Hêraclít mới chỉ chủ yếu thấy được sự thống nhất, đồng nhất (gắn bó, chuyển hóa, xâm nhập lẫn nhau). Thêm nữa, điểm mới và tiến bộ của Hêraclit là ông đã phần nào thấy được sự đấu tranh của các mặt đối lập và vai trò của sự đấu tranh nhưng quan điểm của Hêraclit về vấn đề này chưa nhiều và cần phải có sự phát triển thêm. Luan van Trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại, bên cạnh xu hướng đi vào nghiên cứu biện chứng của tự nhiên và xã hội (biện chứng khách quan); còn có một xu hướng khác đi sâu nghiên cứu biện chứng của tư duy - “biện chứng chủ quan” (theo cách nói của Ăngghen), mà tiêu biểu là các nhà triết học như Platôn, Arixtốt.
Thành tựu nổi bật trong Lôgic học của Arixtốt là việc ông xây dựng nên các quy luật cơ bản của tư duy lôgic, trong đó có quy luật phi mâu thuẫn. Nội dung cơ bản của quy luật này là: tư duy chứa đựng mâu thuẫn là tư duy không đúng. Từ khi ra đời, quy luật phi mâu thuẫn đã có công lao to lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển của tư duy lôgic. Nó đảm bảo tính nhất quán của tư duy.
Và vì vậy, ngay từ thời cổ đại, việc sử dụng lập luận về mâu thuẫn để phủ nhận hay nghi ngờ tính chân lý đã là một cách làm rất phổ biến. Minh chứng tiêu biểu là việc nhà triết học duy vật vô thần nổi tiếng Hy Lạp cổ đại Êpiquya (341 - 270 TCN) đã dùng lập luận sau đây để bác bỏ về Thượng đế. Theo quan niệm tôn giáo, Thượng đế là người toàn năng, toàn thiện, giàu lòng nhân ái. Nhưng thực tế thì thế giới đã và đang tồn tại đầy rẫy điều ác.
Điều này là hoàn toàn mâu thuẫn. Nhận thức được mâu thuẫn này, Êpiquya lập luận: Nếu Thượng đế muốn loại bỏ điều ác nhưng ngài không làm được thì ngài không phải là vạn năng; nếu ngài có khả năng làm nhưng không muốn làm thì ngài không phải là người giàu lòng nhân ái. Còn nếu ngài vừa muốn loại bỏ điều ác vừa hoàn toàn có khả năng làm được thì thử hỏi tại sao điều ác vẫn tồn tại trong thế giới? Trong thế giới tồn tại đầy rẫy điều ác có nghĩa là Thượng đế hoặc không phải là người toàn năng hoặc không phải là giàu lòng nhân ái. Điều này mâu thuẫn với quan niệm về một vị Thượng đế toàn năng, toàn thiện, giàu lòng nhân ái.
Luan van Tuy nhiên, khi người ta quy mọi mâu thuẫn về sai lầm chủ quan thì lại là một sự nhầm lẫn đáng tiếc trong việc vận dụng luật phi mâu thuẫn. Tư duy có mâu thuẫn cũng đồng nghĩa với tư duy sai lầm. Bên cạnh đó, còn có việc áp dụng luật phi mâu thuẫn không đúng dẫn đến ngụy biện. Zênôn (490 - 430 TCN), nhà triết học duy vật siêu hình thuộc phái Êlê ở Hy Lạp cổ đại khẳng định thế giới là một khối thống nhất và bất động.
Để chứng minh cho quan điểm của mình, Zênôn đưa ra hàng loạt “apôria” (nghịch lý). Theo ông, nếu quan niệm rằng thế giới này là vận động thì sẽ dẫn đến những nghịch lý như “Asin không đuổi kịp con rùa”. Giả sử Asin (nhân vật trong Thần thoại Hy Lạp) đang chạy đuổi theo một con rùa. Cứ mỗi lần Asin chạy đến chỗ vị trí con rùa thì cùng thời gian đó, con rùa đã bò đi được một quãng đường ngắn, dù quãng đường mà con rùa bò được có nhỏ bao nhiêu đi nữa thì nó vẫn luôn ở phía trước Asin.
Như vậy thì Asin sẽ không bao giờ đuổi kịp con rùa. Do đó, vận động là không tồn tại, vận động chẳng qua chỉ là giác quan bị đánh lừa mà thôi. Khác với Zênôn, Cantơ (1724 - 1804) quan niệm bản chất của thế giới là những “vật tự nó”. Ông gọi những câu hỏi về bản chất của thế giới như: Thế giới có giới hạn trong không gian, có khởi đầu trong thời gian hay thế giới là vô hạn, không có khởi đầu? Thế giới được cấu tạo từ những phần tử nhỏ nhất, đơn giản nhất hay trong thế giới không có gì nhỏ nhất, đơn giản nhất? Có tự do hay tất cả đều tất yếu, đều tuân theo quy luật nhân quả? Có cái tất nhiên tuyệt đối (Thượng đế) hay không có?.
là những antinômi - là những điều không thể nhận thức được hay những mâu thuẫn không bao giờ giải quyết được. Các antinômi này, theo Cantơ, không phải là những lỗi lôgic mà ta có thể khắc phục được, mà là những mâu thuẫn không tránh khỏi trong bản thân lý tính của con người. Cách giải quyết mâu thuẫn của các nhà tư tưởng trước Cantơ thường là phân tích đúng sai, rồi triệt tiêu một trong hai mặt đối lập, Luan van nhưng Cantơ coi các antinômi là những mâu thuẫn không thể nhận thức và không thể giải quyết được.