Mối Tương Quan Giữa Tỉ Lệ Bạch Cầu Đa Nhân Trung Tính và Lymphô Bào Với Độ Nặng Bệnh Mạch Vành

Nghiên cứu mối tương quan giữa tỉ lệ bạch cầu đa nhân trung tính và lymphô bào với độ nặng bệnh mạch vành ở bệnh nhân chụp mạch vành.

Chuyên ngành

Nội Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ Y Học

2016

82
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tỉ Lệ BCĐNTT Lympho và Bệnh Mạch Vành

Bệnh mạch vành (BMV) là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong trên toàn cầu. Thiệt hại kinh tế do BMV gây ra là rất lớn. Tại Hoa Kỳ, chi phí cho BMV lên đến 150 tỉ đô-la mỗi năm. BMV đồng thời cũng là vấn đề sức khỏe cộng đồng đáng quan tâm do tỉ lệ mắc bệnh và tử vong ngày càng gia tăng. Theo Tổ Chức Y Tế Thế Giới (TCYTTG), trên thế giới có 7,2 triệu người tử vong, 59 triệu người tàn phế do các biến chứng nhồi máu cơ tim (NMCT), suy tim và đột tử. Mỗi năm có khoảng 5,8 triệu trường hợp BMV mới được phát hiện. BMV không những gây ra tử vong đứng hàng đầu trong tất cả nguyên nhân gây chết, nó còn gây ra tình trạng thương tật, mất sức lao động và gánh nặng cho cộng đồng và hệ thống chăm sóc y tế. Các nghiên cứu gần đây cho thấy tỉ lệ bạch cầu đa nhân trung tính trên lymphô bào (Neutrophil-to-lymphocyte ratio - NLR) có thể là một dấu ấn viêm quan trọng liên quan đến độ nặng bệnh mạch vành. Xét nghiệm này có chi phí thấp, dễ thực hiện và không xâm lấn, cung cấp thông tin ban đầu về độ nặng BMV.

1.1. Cơ Chế Bệnh Sinh và Sinh Lý Bệnh của Bệnh Mạch Vành

Có nhiều nguyên nhân bệnh lý tác động lên động mạch vành (ĐMV) gây thiếu máu cục bộ cơ tim, trong đó, 90% là do xơ vữa ĐMV với mảng xơ vữa làm bít hẹp lòng ĐMV, 10% còn lại là do một số bệnh lý hiếm gặp không gây xơ vữa ĐMV như do viêm ĐMV, thuyên tắc ĐMV, dị dạng ĐMV, bóc tách ĐM chủ, bệnh van ĐM chủ, chấn thương ngực hay co thắt mạch vành. Xơ vữa ĐMV xảy ra rất sớm, bắt đầu từ năm 20 tuổi. Bệnh thường xuất hiện ở những ĐM có kích thước trung bình như ĐMV, ĐM cảnh, ĐM thân nền, ĐM cột sống, ĐM chi dưới và ở những ĐM lớn hơn như ĐM chủ, ĐM chậu và ĐM thận. Thành phần chính của mảng xơ vữa ĐM gồm các tế bào mà chủ yếu là tế bào cơ trơn thành ĐM và chất béo với đa số ở bên ngoài tế bào hình thành nên bao xơ và lõi hoại tử.

1.2. Vai Trò Của Viêm Trong Tiến Triển Bệnh Mạch Vành

BMV có một cơ chế sinh lý bệnh phức tạp và tình trạng viêm giữ một vai trò quan trọng. Các nghiên cứu trước đây thể hiện rằng tăng giá trị của dấu ấn viêm thì liên quan với độ nặng của BMV và tiên lượng tim mạch xấu. Mặc dù tổn thương nội mô được biết như yếu tố khởi kích hình thành mảng xơ vữa, tình trạng viêm chịu trách nhiệm trong sự khởi đầu và tiến triển của xơ vữa động mạch. Các dấu ấn viêm bao gồm: số lượng bạch cầu máu, CRP, Homocysteine đã được sử dụng để tiên lượng biến cố tim mạch ở những bệnh nhân không triệu chứng.

II. Thách Thức Trong Đánh Giá Độ Nặng Bệnh Mạch Vành Hiện Nay

Độ nặng BMV liên quan với dự hậu tim mạch. Cho đến nay, có hơn 10 thang điểm để đánh giá độ nặng BMV dựa vào kết quả chụp mạch vành, trong đó tính điểm dựa vào hệ thống tính điểm Gensini được sử dụng rộng rãi nhất, đánh giá được số lượng sang thương, độ nặng của sang thương và phản ánh ý nghĩa về mặt chức năng của sang thương. Tuy nhiên, việc sử dụng các phương pháp xâm lấn như chụp mạch vành tiềm ẩn rủi ro và chi phí cao. Do đó, việc tìm kiếm các dấu ấn sinh học đơn giản, không xâm lấn để hỗ trợ đánh giá nguy cơ tim mạchphân tầng nguy cơ là vô cùng cần thiết. Các dấu ấn viêm như tỉ lệ BCĐNTT/lymphô có thể cung cấp thông tin giá trị trong việc này.

2.1. Giới Hạn Của Các Phương Pháp Đánh Giá Xâm Lấn

Các phương pháp đánh giá bệnh mạch vành xâm lấn như chụp mạch vành mặc dù cung cấp thông tin chi tiết về tình trạng mạch máu, nhưng lại đi kèm với các rủi ro nhất định như tổn thương mạch máu, phản ứng với thuốc cản quang, và chi phí điều trị cao. Điều này đặt ra nhu cầu cấp thiết về các phương pháp chẩn đoán bệnh mạch vành không xâm lấn, có độ chính xác cao và chi phí hợp lý.

2.2. Sự Cần Thiết Của Các Dấu Ấn Sinh Học Không Xâm Lấn

Việc tìm kiếm và ứng dụng các dấu ấn sinh học không xâm lấn như tỉ lệ BCĐNTT/lymphô có thể giúp bác sĩ lâm sàng đưa ra quyết định điều trị sớm và hiệu quả hơn, đồng thời giảm thiểu các rủi ro liên quan đến các thủ thuật xâm lấn. Các dấu ấn này cũng có thể được sử dụng để theo dõi hiệu quả điều trị bệnh mạch vànhtiên lượng bệnh mạch vành.

III. Cách Tỉ Lệ BCĐNTT Lympho Tiên Lượng Độ Nặng Bệnh Mạch Vành

Trong năm năm gần đây, tỉ lệ BCĐNTT và lymphô bào được nhận thấy như là những yếu tố tiên lượng mới cho hẹp ĐMV nặng và lan tỏa ở những bệnh nhân BMV. Nghiên cứu về mối tương quan của tỉ lệ BCĐNTT và lymphô bào với độ nặng BMV mới được nghiên cứu nhiều hơn trong 4 năm gần đây và hiện tại có khoảng hơn 10 nghiên cứu về vấn đề này. Năm 2015, nghiên cứu của Sari và cộng sự, thực hiện nghiên cứu trên 180 bệnh nhân được chụp động vành chọn lọc. Trong đó 100 bệnh nhân có kết quả chụp ĐMV bất thường, 80 bệnh nhân có kết quả chụp ĐMV bình thường. Bệnh nhân với kết quả chụp ĐMV bất thường có tỉ lệ BCĐNTT và lymphô bào cao hơn có ý nghĩa so với nhóm bệnh nhân có kết quả chụp ĐMV bình thường. Tỉ lệ BCĐNTT và lymphô bào tương quan có ý nghĩa thang điểm Gensini. Phân tích hồi qui logistic, tỉ lệ BCĐNTT và lymphô bào là yếu tố tiên lượng độc lập của BMV.

3.1. Mối Tương Quan Với Thang Điểm Gensini

Nghiên cứu cho thấy tỉ lệ BCĐNTT/lymphô có tương quan thuận với thang điểm Gensini, một công cụ đánh giá độ nặng bệnh mạch vành dựa trên kết quả chụp mạch vành. Điều này có nghĩa là khi tỉ lệ BCĐNTT/lymphô tăng, độ nặng bệnh mạch vành cũng có xu hướng tăng theo. Điều này cung cấp một cơ sở để sử dụng tỉ lệ BCĐNTT/lymphô như một chỉ số hỗ trợ đánh giá mức độ nghiêm trọng bệnh mạch vành.

3.2. Giá Trị Tiên Lượng Độc Lập

Phân tích hồi quy logistic cho thấy tỉ lệ BCĐNTT/lymphô là một yếu tố tiên lượng độc lập cho bệnh mạch vành, ngay cả sau khi đã điều chỉnh cho các yếu tố nguy cơ khác như tuổi, giới tính, tăng huyết áp, đái tháo đường, và rối loạn lipid máu. Điều này khẳng định vai trò quan trọng của tỉ lệ BCĐNTT/lymphô trong việc dự đoán bệnh mạch vành.

IV. Ứng Dụng Tỉ Lệ BCĐNTT Lympho Trong Thực Hành Lâm Sàng

Với xét nghiệm chi phí thấp, tính toán đơn giản, dễ thực hiện, không xâm lấn cho ta một khái niệm ban đầu về độ nặng BMV, cùng với những dữ liệu lâm sàng, dấu ấn viêm khác giúp bác sĩ có định hướng: giải thích người nhà tình trạng bệnh, góp phần nhỏ giúp phân tầng nguy cơ BMV, dự trù vật tư trang thiết bị can thiệp mạch vành. Từ đó củng cố và bổ sung thêm dấu ấn viêm mới tiên lượng độ nặng BMV với chi phí thấp, dễ sử dụng. Tuy nhiên một số nghiên cứu đánh giá độ nặng BMV đơn thuần dựa vào số nhánh động mạch vành hẹp, số lượng bệnh nhân ít, chưa có nghiên cứu ở Việt Nam.

4.1. Hỗ Trợ Quyết Định Điều Trị

Thông tin về tỉ lệ BCĐNTT/lymphô có thể giúp bác sĩ đưa ra quyết định điều trị phù hợp hơn cho bệnh nhân bệnh mạch vành. Ví dụ, ở những bệnh nhân có tỉ lệ BCĐNTT/lymphô cao, bác sĩ có thể cân nhắc các biện pháp điều trị tích cực hơn như can thiệp mạch vành hoặc phẫu thuật bắc cầu chủ vành.

4.2. Theo Dõi Hiệu Quả Điều Trị

Tỉ lệ BCĐNTT/lymphô cũng có thể được sử dụng để theo dõi hiệu quả điều trị ở bệnh nhân bệnh mạch vành. Sự giảm tỉ lệ BCĐNTT/lymphô sau điều trị có thể cho thấy rằng điều trị đang có hiệu quả trong việc giảm viêm và cải thiện tình trạng bệnh.

4.3. Tiềm Năng Trong Tầm Soát Bệnh Mạch Vành

Với chi phí thấp và dễ thực hiện, tỉ lệ BCĐNTT/lymphô có thể được sử dụng như một công cụ tầm soát bệnh mạch vành ở những người có nguy cơ cao, giúp phát hiện bệnh sớm và can thiệp kịp thời.

V. Nghiên Cứu Tại Việt Nam Về Tỉ Lệ BCĐNTT Lympho và BMV

Đề tài này thực hiện ở Việt Nam nhằm mục đích là đánh giá mối tương quan của tỉ lệ BCĐNTT và lymphô bào với độ nặng BMV dựa trên hệ thống tính điểm Gensini ở những bệnh nhân được chụp mạch vành. Nghiên cứu này sẽ cung cấp thêm bằng chứng về vai trò của tỉ lệ BCĐNTT/lymphô trong bệnh mạch vành ở quần thể người Việt Nam, từ đó góp phần vào việc cải thiện chẩn đoán bệnh mạch vànhphòng ngừa bệnh mạch vành.

5.1. Mục Tiêu Nghiên Cứu Cụ Thể

Nghiên cứu tập trung vào việc khảo sát tỉ lệ và mối tương quan giữa tỉ lệ BCĐNTT và lymphô bào với độ nặng BMV theo thang điểm Gensini. Đồng thời, nghiên cứu cũng xác định độ nhạy, độ đặc hiệu, diện tích dưới đường cong (AUC), điểm cắt của tỉ lệ BCĐNTT và lymphô bào trong tiên lượng độ nặng BMV theo thang điểm Gensini.

5.2. Ý Nghĩa Thực Tiễn Của Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu có thể cung cấp thêm thông tin hữu ích cho bác sĩ lâm sàng trong việc đánh giá nguy cơ tim mạch và đưa ra quyết định điều trị phù hợp cho bệnh nhân bệnh mạch vành tại Việt Nam. Nghiên cứu cũng có thể mở ra hướng đi mới trong việc sử dụng các dấu ấn sinh học đơn giản, không xâm lấn để tiên lượng bệnh mạch vành.

VI. Kết Luận và Hướng Nghiên Cứu Tương Lai Về Bệnh Mạch Vành

Tỉ lệ BCĐNTT/lymphô là một dấu ấn viêm tiềm năng có thể giúp đánh giá độ nặng bệnh mạch vànhtiên lượng bệnh mạch vành. Tuy nhiên, cần có thêm nhiều nghiên cứu lớn hơn, đa trung tâm để xác nhận vai trò của tỉ lệ BCĐNTT/lymphô trong bệnh mạch vành và để xác định các ngưỡng giá trị phù hợp cho từng quần thể bệnh nhân. Các nghiên cứu trong tương lai cũng nên tập trung vào việc đánh giá vai trò của tỉ lệ BCĐNTT/lymphô trong việc dự đoán bệnh mạch vànhtử vong do tim mạch.

6.1. Tóm Tắt Các Phát Hiện Chính

Các nghiên cứu hiện tại cho thấy tỉ lệ BCĐNTT/lymphô có tương quan với độ nặng bệnh mạch vành và có thể là một yếu tố tiên lượng độc lập cho bệnh mạch vành. Tuy nhiên, cần có thêm bằng chứng để xác nhận các phát hiện này.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiềm Năng

Các nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào việc đánh giá vai trò của tỉ lệ BCĐNTT/lymphô trong việc dự đoán bệnh mạch vànhtử vong do tim mạch, cũng như trong việc theo dõi hiệu quả điều trị ở bệnh nhân bệnh mạch vành. Ngoài ra, cần có thêm nghiên cứu để xác định các ngưỡng giá trị phù hợp cho từng quần thể bệnh nhân.

07/06/2025
Mối tương quan tỉ lệ bạch cầu đa nhân trung tính và lymphô bào với độ nặng bệnh mạch vành ở những bệnh nhân được chụp mạch vành theo chương trình

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ chế bệnh sinh và sinh lý bệnh BMV Có nhiều nguyên nhân bệnh lý tác động lên ĐMV gây thiếu máu cục bộ cơ tim, trong đó, 90% là do xơ vữa ĐMV với mảng xơ vữa làm bít hẹp lòng ĐMV, 10% còn lại là do một số bệnh lý hiếm gặp không gây xơ vữa ĐMV như do viêm ĐMV, thuyên tắc ĐMV, dị dạng ĐMV, bóc tách ĐM chủ, bệnh van ĐM chủ, chấn thương ngực hay co thắt mạch vành [48]. Xơ vữa ĐMV xảy ra rất sớm, bắt đầu từ năm 20 tuổi. Bệnh thường xuất hiện ở những ĐM có kích thước trung bình như ĐMV, ĐM cảnh, ĐM thân nền, ĐM cột sống, ĐM chi dưới và ở những ĐM lớn hơn như ĐM chủ, ĐM chậu và ĐM thận. Thành phần chính của mảng xơ vữa ĐM gồm các tế bào mà chủ yếu là tế bào cơ trơn thành ĐM và chất béo với đa số ở bên ngoài tế bào hình thành nên bao xơ và lõi hoại tử.1 Sự hình thành XVĐM Từ các nghiên cứu thực nghiệm trên động vật và các nghiên cứu về xơ vữa động mạch ở người cho thấy "vệt mỡ" biểu hiện như sang thương ban đầu của xơ vữa động mạch.

Những sang thương sớm này thường sinh ra từ tích tụ của các thành phần lipoprotein trong lớp áo trong động mạch. Đặc biệt, nhóm LDL mang Apo B cho thấy quan hệ nhân quả với xơ vữa động mạch. Sự tích tụ của các mẫu lipoprotein này có thể không chỉ đơn thuần từ tăng tính thấm, hoặc lỗ rò, qua lớp phủ nội mạc. Hơn nữa, các lipoprotein có thể tích tụ trong lớp áo trong của các động mạch bởi vì chúng gắn với thành phần chất đệm ngoại bào, tăng thời gian cư trú của mẫu giàu lipid trong thành động mạch [53].

Tuyển mộ bạch cầu Sự tích tụ các tế bào bạch cầu đặc trưng cho sự hình thành sang thương xơ vữa động mạch sớm. Từ giai đoạn đầu, quá trình hình thành xơ vữa bao gồm. 5 các thành phần của viêm. Loại tế bào viêm đặc trưng được tìm thấy trong phần lấy ra từ mẫu xơ vữa bao gồm tế bào phân nhánh và đại thực bào nguồn gốc tế bào đơn nhân, lympho bào T và B, và dưỡng bào.

Một số phân tử hoặc thụ thể giúp tăng biểu lộ các bạch cầu trên bề mặt tế bào nội mô động mạch có thể tham gia vào tuyển mộ bạch cầu trong mảng xơ vữa mới sinh. Các cytokine tiền viêm có thể tăng biểu lộ phân tử kết dính bạch cầu. Một khi gắn được vào bề mặt tế bào nội mô mạch máu bởi thụ thể bám dính, các tế bào bạch cầu xuyên qua lớp nội mô và cư trú trong lớp áo trong mạch máu.1 Các giai đoạn phát triển sang thương xơ vữa động mạch Nguồn: Libby P và cs, 2011 [42] Hơn nữa các sản phẩm của lipoprotein bị biến đổi, các cytokines có thể điều chỉnh sự biểu lộ của phân tử bám dính liên quan với tuyển mộ bạch cầu. Ví dụ, interleukin 1 (IL-1) và yếu tố hoại tử mô (TNF) gây ra hoặc tăng sự biểu lộ của phân tử bám dính bạch cầu trên tế bào nội mô.

6 động cho thấy tác động đến sự di trú của các bạch cầu vào trong thành động mạch. Sự hình thành tế bào bọt Một khi vào trong lớp áo trong động mạch, thực bào đơn nhân phát triển thành đại thực bào và trở thành tế bào bọt chứa đầy lipid (Hình 1.1), sự thay đổi này đòi hỏi nhập các mẫu lipoprotein như LDL bởi thụ thể của nó qua cơ chế nhập bào, đây là bước quan trọng trong hình thành vệt mỡ, tiền chất cho sự hình thành mảng xơ vữa động mạch hoàn chỉnh [53]. Tóm lại sự tuyển mộ và tích tụ các tế bào bạch cầu đặc trưng cho sự hình thành sang thương xơ vữa động mạch sớm và cơ chế viêm giữ vai trò quan trọng trong quá trình hình thành mảng xơ vữa.2 Sự tiến triển và biến chứng của mảng xơ vữa động mạch Đại thực bào và các phân tử HDL [53] Một số đại thực bào chứa lipid có thể rời thành động mạch, chuyển lipid đi. Ở sang thương tiến triển, việc đại thực bào vận chuyển lipid đi là một phản ứng đối với quá tải lipid tại chỗ.

Các đại thực bào tăng sinh trong mảng xơ vữa đáp ứng với yếu tố tăng trưởng tạo máu trong sang thương. Cơ chế khác, vận chuyển cholesterol trở lại gan qua trung gian các HDL, có thể cung cấp một con đường độc lập cho vận chuyển lipid đi từ xơ vữa động mạch. Vận chuyển cholesterol trở lại qua trung gian “ABC vận chuyển” cho phép HDL mang cholesterol đến cho tế bào gan bởi gắn với thụ thể Scavenger B1 hoặc thụ thể khác. Tế bào gan có thể chuyển hóa sterol thành axit mật để có thể được thải ra.

Khi mà lượng lipid tích tụ trong thành động mạch nhiều hơn được loại bỏ bởi thực bào đơn nhân hoặc con đường khác, phần lipid còn lại tích tụ dần để hình thành xơ vữa động mạch. 7 Vì thế, đại thực bào có thể giữ vai trò sống còn trong tích tụ lipid trong thành động mạch trong suốt quá trình tạo xơ vữa động mạch. Lõi hoại tử Một số tế bào bọt chết đi như là kết quả của chết tế bào theo chương tình. Sự chết đi của những tế bào bạch cầu đơn nhân dẫn đến hình thành phần lõi hoại tử.

Suy giảm sự thu dọn các bọt bào chết trong mảng xơ vữa có thể thúc đẩy hình thành lõi hoại tử. Đại thực bào mang các lipoprotein đã được biến đổi có thể tạo ra các túi xuất bào, cytokines, và yếu tố tăng trưởng có thể ra hiệu nhanh hơn một số biến cố tế bào trong vùng sang thương. Tế bào cơ trơn PDGF (yếu tố tăng trưởng nguồn gốc tiểu cầu) tạo ra bởi các tiểu cầu được hoạt hóa, đại thực bào, và tế bào nội mô có thể kích thích sự di chuyển của tế bào cơ trơn nằm ở vị trí bình thường trong lớp áo giữa vào lớp áo trong, các yếu tố tăng trưởng và cytokine được tạo ra có thể kích thích sự tăng trưởng của tế bào cơ trơn tại chỗ hoặc tế bào gốc tại chỗ trong lớp áo trong cũng như những tế bào này có thể di chuyển từ lớp áo giữa. Chất trung gian khác, yếu tố tăng trưởng chuyển dạng (TGF- β), kích thích mạnh tạo collagen trong mô kẽ từ tế bào cơ trơn.

Những hóa chất trung gian này có thể tạo ra không chỉ từ tế bào mạch máu hoặc tế bào bạch cầu gần đó (con đường cận tiết), mà còn, trong một số tình huống, từ cùng tế bào mà đáp ứng với yếu tố kích thích (con đường tự tiết). Những cytokine khác, đáng lưu ý là interferon γ (INF-γ) có nguồn gốc từ các tế bào T đã được hoạt hóa trong vùng sang thương, có thể giới hạn tổng hợp collagen từ các tế bào cơ trơn trong mô kẽ. Sự tích tụ các tế bào cơ trơn và tạo ra chất nền ngoại bào có thể tạo ra sự chuyển đổi quan trọng, tạo thành sang thương mỡ-sợi hóa, trong đó có sự tích tụ của bọt bào nguồn gốc từ đại thực bào. Những thay đổi này trong tế bào cơ trơn được phát tín hiện bởi những chất.

8 trung gian này hoạt động trong khoảng cách ngắn, có thể thúc đẩy chuyển dạng vệt mỡ thành vùng nhiều chất ngoại nền và vùng sang thương phong phú. Cùng với chất trung gian được tạo ra tại chỗ, sản phẩm của đông máu và sự tạo huyết khối có khả năng góp phần vào tiến triển của XVĐM và biến chứng của nó. Sự liên quan này giải thích cho việc sử dụng thuật ngữ huyết khối xơ vữa động mạch (atherothrombosis) để cho thấy mối liên kết chặt chẽ giữa xơ vữa và huyết khối động mạch. Sự tạo thành vệt mỡ bắt đầu bên dưới nội mô mạch máu nguyên vẹn.

Tuy nhiên, khi vệt mỡ tiến triển hơn, sự phá vỡ rất nhỏ của lớp nội mô toàn vẹn có thể xảy ra. Vi huyết khối giàu tiểu cầu có thể hình thành tại nhiều vị trí nơi có tróc lớp nội mô giới hạn. Các tiểu cầu được hoạt hóa giải phóng nhiều yếu tố mà có thể khởi kích đáp ứng sợi hóa, bao gồm PDGF và TGF- β. Thrombin không chỉ tạo thành fibrin trong suốt quá trình đông máu, mà còn kích thích thụ thể hoạt hóa protease mà có thể tín hiệu cho tế bào cơ trơn di chuyển, tăng sinh, và tạo ra chất nền ngoại bào.

Nhiều vi huyết khối trên thành động mạch được giải quyết với không biểu lộ lâm sàng bởi tiến trình tiêu sợi huyết tại chỗ, tái hấp thu, và sửa chữa tế bào nội mô, nhưng có thể tạo sang thương tiến triển bởi sự kích thích chức năng tiền sợi hóa của các tế bào cơ trơn (hình 1,2D). Mạch máu nhỏ Khi sang thương xơ vữa động mạch tiến triển, nhiều vi mạch máu phát triển trong đó và nối vào mạch máu nuôi động mạch. Sự phát triển mới của mạng vi mạch có thể góp phần làm phức tạp thêm sang thương theo nhiều cách. Những mạch máu này tạo ra vùng trao đổi lớn cho bạch cầu và như cửa vào và ra cho tế bào bạch cầu từ vùng XVĐM đã được thành lập.

Vi mạch máu trong mảng xơ vữa có thể cũng tạo cơ hội thêm cho xuất huyết trong mảng xơ vữa. Giống như mạch máu tăng sinh trong võng mạc bệnh nhân tiểu đường, các vi mạch máu trong vùng xơ vữa có thể dễ vỡ và xu hướng vỡ và tạo ra xuất huyết. 9 tại chỗ khu trú. Sự tạo ra khiếm khuyết rò ra ở nội mô mạch máu hay lớp nội mô mạch máu mất đi tính nguyên vẹn có thể khởi kích tạo huyết khối tại chỗ, dẫn đến sự tạo ra thombin tại chỗ.

Canxi hóa Khi mảng xơ vữa tiến triển, chúng cũng tích tụ canxi. Mẫu nhỏ xuất nguồn từ tế bào tổn thương có thể kích thích sự canxi hóa, và tiến trình này xảy ra ở các tế bào, các vùng có mức độ viêm nặng. Sự phát triển mảng xơ vữa. Các tế bào cơ trơn và đại thực bào chết trong mảng xơ vữa.

Thực sự, mảng xơ vữa phức tạp thường có đặc trưng sợi hóa đa phần và rất ít tế bào. Số lượng ít của tế bào cơ trong trong vùng xơ vữa tiến triển có thể là nguyên nhân chính là do các chất trung gian ức chế tế bào như TGF-β và INF-γ (yếu tố có thể ức chế sự tăng sinh của tế bào cơ trơn) và cũng do tế bào cơ trơn chết theo chương trình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ