Chương 1: Giới thiệu đề tài - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương này trình bày các khái niệm trong bài nghiên cứu. giới thiệu các nghiên cứu trước, xây dựng mô hình nghiên cứu và thang đo. - Chương 3: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu.
Chương này trình bày quy trình nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, phương pháp lấy mẫu và kế hoạch phân tích dữ liệu. - Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương này mô tả mẫu, đánh giá độ tin cậy và độ giá trị của thang đo, điều chỉnh mô hình nghiên cứu, phân tích hồi qui, kiểm định các giả thuyết. 14 - Chương 5: Kết luận và kiến nghị.
Chương này tóm tắt lại kết quả nghiên cứu, đưa ra những kết luận và hàm ý quản lý, những mặt hạn chế của bài nghiên cứu và phương hướng nghiên cứu tiếp theo. 15 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Các nghiên cứu trước có tương quan với bài nghiên cứu này được trình bày theo bảng sau: Tên nghiên cứu Nội dung nghiên cứu Ảnh hưởng của Việc sử dụng nhanh chóng và ứng dụng của blog trong các việc sử dụng Blog lĩnh vực đa dạng như giáo dục, tiếp thị, báo chí và quản lý đến sự tạo ra vốn nguồn nhân lực trong những năm gần đây nhấn mạnh sự cần xã hội (Vaezi, thiết cho một sự hiểu biết tốt hơn về tác động của công nghệ Torkzadeh & mới này lên vốn xã hội. Vốn xã hội phản ánh các chỉ tiêu sự Chang, 2011) trao đổi và mức độ tin tưởng giữa các cá nhân kết nối, tương tác, và được hưởng lợi từ nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy một tác động đáng kể và tích cực của việc sử dụng blog trên vốn xã hội và các thành phần của nó: kết nối xã hội, sự trao đổi, và tin tưởng.
Sự chia sẻ tri thức Thách thức lớn nhất trong việc nuôi dưỡng một cộng đồng ảo trong cộng đồng là nguồn cung cấp kiến thức, cụ thể là sự sẵn sàng để chia sẻ ảo: một kết hợp kiến thức với các thành viên khác. Nghiên cứu tích hợp lý giữa lý thuyết vốn thuyết xã hội nhận thức và lý thuyết vốn xã hội để xây dựng xã hội và lý thuyết một mô hình để điều tra những động lực đằng sau chia sẻ kiến nhận thức xã hội thức của người dân trong cộng đồng ảo. Nghiên cứu này cho (Chiu, Hsu & rằng các khía cạnh của vốn xã hội - quan hệ tương tác xã hội, Wang, 2006) tin tưởng, trao đổi, xác định tầm nhìn chung và ngôn ngữ được chia sẻ - sẽ ảnh hưởng đến chia sẻ kiến thức của cá nhân trong cộng đồng ảo. nghiên cứu cho rằng kết quả mong đợi kỳ vọng 16 và kết quả mong đợi cá nhân liên quan đến cộng đồng - có thể tạo ra sự chia sẻ kiến thức trong cộng đồng ảo.
Vốn xã hội và tạo Nghiên cứu sự tương quan giữa cấu trúc, mối quan hệ và nhận ra giá trị: Vai trò thức của vốn xã hội và sự trao đổi nguồn lực và động cơ sản của mạng lưới xuất trong công ty.1 Các nghiên cứu trước Dựa trên các nghiên cứu trước vừa được chỉ ra ở trên, phần kế tiếp sẽ trình bày các khái niệm lý thuyết cơ bản của nghiên cứu này.2 CÁC KHÁI NIỆM LÝ THUYẾT 2.1 Blog và mạng xã hội Blog hay gọi là “trang nhật ký mạng” là một loại trang web mà người sử dụng có thể tự quản lý nội dung. Người dùng blog có thể đăng bài viết, quan điểm hay sở thích của chính mình lên trang nhật ký cá nhân và họ có quyền quyết định đối tượng mà họ muốn chia sẻ nội dung thông tin đó, ví dụ thông tin chỉ dùng cho cá nhân, hay thông tin đó được chia sẻ cho toàn bộ bạn bè hay cộng đồng mạng (Vaezi, Torkzadeh, Chang, 2011). Những nhà nghiên cứu đã định nghĩa blog là một trang web dùng để ghi nhật ký hàng ngày. Trong đó, tin tức được theo dõi và liệt kê theo mốc thời gian, trên đó còn có những lời bình luận và địa chỉ liên kết kiến nghị (Vaezi, Torkzadeh & Chang, 2011).
Blog dễ dàng để phát triển và chỉ tốn một chi phí nhỏ cho việc duy trì. Các dịch vụ lưu trữ sẽ giúp các cá nhân tạo blog hoàn toàn miễn phí hoặc chỉ trả một mức phí 17 nhỏ (Vaezi, Torkzadeh & Chang, 2011). Tuy nhiên trong hầu hết các trường hợp , người dùng chỉ cần tạo tài khoản đăng nhập và bắt đầu đăng bài viết và đọc bình luận của người khác (Vaezi, Torkzadeh & Chang, 2011). Hiện nay, có nhiều dịch vụ cung cấp nền tảng blog hoàn toàn miễn phí cho người dùng cá nhân như: Google plus, Facebook, Yahoo 360, Zing me, Yume, Tamtay… Nhiều blog của các cá nhân kết nối lại với nhau sẽ trở thành mạng xã hội ảo (Vaezi, Torkzadeh & Chang, 2011).
Mạng xã hội (social network), hay gọi là mạng xã hội ảo, là hình thức nối kết các thành viên có cùng sở thích, quan điểm lại với nhau mà không phân biệt không gian và thời gian. Mạng xã hội có những tính năng như trò chuyện, e-mail, xem phim ảnh, chia sẻ tập tin, trò chuyện bằng giọng nói. Mạng làm thay đổi hoàn toàn cách cư dân mạng liên kết với nhau và trở thành một phần tất yếu cho hàng trăm triệu thành viên khắp thế giới mỗi ngày. Mạng xã hội có nhiều công cụ để các thành viên tìm kiếm bạn bè, đối tác như tìm kiếm bạn bè dựa theo “nhóm” (ví dụ như tên trường hoặc tên thành phố), dựa trên thông tin cá nhân (như địa chỉ e-mail hoặc tên hiển thị), hoặc dựa trên sở thích cá nhân (như thể thao, phim ảnh, sách báo, hoặc ca nhạc), dựa trên các lĩnh vực quan tâm như kỹ thuật, kinh doanh, mua bán.
Hiện nay trên thế giới có hàng trăm mạng mạng xã hội khác nhau, với Twitter và Facebook nổi tiếng nhất trong thị trường Bắc Mỹ và Tây Âu; Orkut và Hi5 tại Nam Mỹ; Friendster tại Châu Á và các đảo quốc Thái Bình Dương. Mạng xã hội khác gặt hái được thành công đáng kể theo vùng miền như Bebo tại Anh Quốc, CyWorld tại Hàn Quốc, Mixi tại Nhật Bản và tại Việt Nam xuất hiện rất nhiều các mạng xã hội như: Zing Me, YuMe, Tamtay.2 Khái niệm sử dụng mạng xã hội Theo nghiên cứu của Reza Vaezi, Gholamreza Torkzadeh & Jerry Cha-Jan Chang (2011) đã xem xét khái niệm sử dụng mạng xã hội là các hình thức tham gia hoạt 18 động của các thành viên trong mạng xã hội ảo như sở hữu tài khoản mạng xã hội, đọc bài viết, chia sẻ bình luận trên mạng xã hội.3 Khái niệm vốn xã hội Khái niệm vốn xã hội gây sự chú ý cho các nhà nghiên cứu và giáo dục học trong những năm gần đây, đặc biệt từ khi xuất bản cuốn “Bowling Alone” của Putnam (2000). Ông ta nghiên cứu sự sụp đổ và hồi phục của cộng đồng người Mỹ. Putnam cho rằng vốn xã hội là sự kết nối giữa các cá nhân – sự kết nối xã hội, những quy tắc trao đổi và lòng tin tưởng gia tăng giữa các cá nhân.
Vốn xã hội được định nghĩa như là tổng hợp các nguồn lực thực tế và tiềm năng nhận được từ mối quan hệ mạng và được chiếm hữu bởi những cá nhân hay đơn vị xã hội (Nahapiet & Ghoshal, 1998, p. Theo Chiu, Hsu & Wang (2006), chiều cạnh cấu trúc của vốn xã hội bao gồm kết nối xã hội, chiều cạnh quan hệ bao gồm lòng tin, tương thân và danh tính, chiều cạnh nhận thức bao gồm dùng chung ngôn ngữ và chia sẻ tầm nhìn. Cấu trúc Mối quan hệ Nhận thức Lòng tin Dùng chung ngôn ngữ Kết nối xã hội Tương thân Chia sẻ tầm nhìn Danh tính Hình 2.1: Khái niệm vốn xã hội của Chiu, Hsu & Wang (2006) 19 Chiều cạnh cấu trúc vốn xã hội (Structural Dimension) Nahapiet và Ghoshal (1998) sử dụng khái niệm chiều cạnh cấu trúc của vốn xã hội để chỉ toàn bộ kết nối. Ông cho rằng nhân tố quan trọng nhất trong cấu trúc vốn xã hội là sự kết nối hiện hữu hoặc vô hình giữa những cá nhân với nhau.
Tsai và Ghoshal (1998) coi rằng mạng lưới kết nối như là một kênh thông tin và dòng chảy tài nguyên. Nếu không có mạng lưới kết nối cá nhân, sẽ không có vốn xã hội (Vaezi, Torkzadeh & Chang, 2011). Ông cho rằng liên kết vốn xã hội là một sự tìm kiếm các cá nhân trong một mối quan hệ có xu hướng đồng nhất hơn. Bắc cầu vốn xã hội là sự tìm kiếm bên ngoài từ các nhóm xã hội khác nhau.
Liên kết vốn xã hội cung cấp sự hỗ trợ xã hội và tâm lý quan trọng cho các thành viên trong nhóm xã hội, "một loại keo dán xã hội học" (Putnam, 2000, p. Mặt khác, bắc cầu là một mạng lưới rộng lớn hơn và cung cấp liên kết ra bên ngoài. Có thể lập luận rằng bắc cầu vốn xã hội có giá trị hơn so với liên kết vốn xã hội bởi vì bắc cầu vốn xã hội tạo điều kiện cho dòng chảy của thông tin giữa các nhóm và những người hiện không kết nối (Vaezi, Torkzadeh, Chang, 2011). Nahapiet và Ghoshal (1998) lập luận rằng "các đề xuất cơ bản của thuyết vốn xã hội là mối quan hệ mạng lưới cung cấp truy cập tài nguyên" (p.
Sự tương tác xã hội được thực hiện bằng cách trao đổi đối tác, cường độ, tần số, và bề rộng của thông tin trao đổi (Chiu, Hsu & Wang, 2006). Chiều cạnh quan hệ của vốn xã hội (Relational Dimension) Theo Nahapiet và Ghoshal (1998), chiều cạnh quan hệ của vốn xã hội bao gồm 3 nhân tố chính như: lòng tin, sự tương thân và danh tính trong cộng đồng mạng. Lòng tin (Trust) Niềm tin được định nghĩa là "mức độ mà một người sẵn sàng để gán cho các ý định tốt và có niềm tin vào những lời nói và hành động của người khác" (Dietz & 20 Hartog, 2006, p. 559 dẫn bởi Vaezi, Torkzadeh, Chang, 2011).
Một số nghiên cứu mô tả niềm tin như một "trạng thái tâm lý ảnh hưởng đến ý định chấp nhận bị tổn thương dựa trên kỳ vọng tích cực của những ý định hoặc hành vi của người khác" (Rousseau, Sitkin, Burt & Camerer, 1998, p. 395 dẫn bởi Vaezi, Torkzadeh, Chang, 2011). Lòng tin tồn tại khi mà một người bắt đầu sẽ tin vào những từ ngữ và hành động của người khác. Putnam (2000) đề nghị lòng tin là chất bôi trơn của vốn xã hội.
Lòng tin bắt đầu khi hai người trở nên thân thiết với nhau hơn. Nahapiet và Ghoshal (1998) cho rằng khi niềm tin tồn tại giữa các bên, họ sẵn sàng tham gia vào các tương tác cộng đồng.