Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh phục hồi kinh tế hậu đại dịch COVID-19, Việt Nam ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực về tăng trưởng và thu hút đầu tư quốc tế. Tác giả dẫn chứng nhận định của Giáo sư Pankaj Jha (2023) về việc Việt Nam duy trì tỷ lệ lạm phát dưới 4%, khẳng định triển vọng trở thành nền kinh tế mới nổi tại châu Á, cùng sự kiện hơn 50 doanh nghiệp Hoa Kỳ đến khảo sát thị trường vào tháng 3/2023 được CNN đánh giá là minh chứng cho sức hấp dẫn đầu tư. Tuy nhiên, trước sức ép cạnh tranh toàn cầu và các thách thức môi trường, biến đổi khí hậu nghiêm trọng, việc thực hiện và công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) trở thành yêu cầu cấp thiết. Tác giả trích dẫn số liệu từ Bộ trưởng Môi trường Ai Cập Yasmine Fouad (2022) cho thấy nhu cầu tài chính khí hậu của các quốc gia đang phát triển lên tới 300 tỷ USD mỗi năm vào năm 2023 và có thể đạt 280 – 500 tỷ USD vào năm 2050, nhấn mạnh sự cấp bách của việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng xanh và minh bạch thông tin phi tài chính.

Tại Việt Nam, việc thực hiện và công bố thông tin CSR vẫn còn nhiều bất cập. Báo cáo của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR, 2020) chỉ ra rằng chỉ có khoảng 51% doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào các hoạt động liên quan đến CSR. Phần lớn hoạt động CSR vẫn bị hiểu sai lệch là hoạt động từ thiện đơn thuần hoặc công cụ marketing nhằm đánh bóng thương hiệu (như cảnh báo của Naomi Klein, 1999 và chuyên gia Phạm Chi Lan, 2017). Về mặt pháp lý, mặc dù đã có Nghị định số 155/2018/NĐ-CP ngày 31/12/2018 quy định về quản lý đầu tư xây dựng dự án có đề cập đến trách nhiệm xã hội, cùng các khung chính sách như Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam, song khung pháp lý hiện hành vẫn chưa mang tính bắt buộc hóa việc lập báo cáo CSR riêng biệt. Khảo sát của Hà Thị Thủy (2021) trên 100 công ty niêm yết cho thấy có 12 công ty hoàn toàn không công bố thông tin CSR và chỉ 14 công ty công bố đầy đủ ở mức 80%; nghiên cứu của Hoàng Anh Thư và Phan Thanh Hải (2021) ghi nhận thông tin CSR thường chỉ được lồng ghép trong báo cáo thường niên với dung lượng trung bình khoảng 10 trang.

Tổng giám đốc (CEO) giữ vai trò là người điều hành cao nhất, nắm quyền kiểm soát hoạt động chiến lược và quyết định tính minh bạch thông tin của tổ chức. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm kiểm chứng thực nghiệm ảnh hưởng từ các đặc điểm của Tổng giám đốc đến mức độ công bố thông tin CSR tại các doanh nghiệp niêm yết.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là làm rõ ảnh hưởng của Tổng giám đốc đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Các mục tiêu cụ thể được đánh số trong văn bản gồm:

  1. Xác định các đặc điểm của Tổng giám đốc ảnh hưởng đến việc công bố thông tin trách nhiệm xã hội; từ đó xây dựng mô hình nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng dựa trên các đặc điểm của Tổng giám đốc.
  2. Thực hiện nghiên cứu thực chứng nhằm làm rõ mối quan hệ giữa Tổng giám đốc và mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
  3. Đưa ra kết luận và đề xuất kiến nghị nhằm tăng cường công bố thông tin trách nhiệm xã hội tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Tương ứng với các mục tiêu trên, tác giả xác định 3 câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Các đặc điểm nào của Tổng giám đốc ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam?
  • Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hưởng của các đặc điểm của Tổng giám đốc đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam?
  • Câu hỏi 3: Các khuyến nghị, đề xuất giải pháp có thể cải thiện mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Khách thể nghiên cứu: 445 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
  • Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa đặc điểm Tổng giám đốc và mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán tại Việt Nam giai đoạn 2018 – 2021.
  • Phạm vi nội dung: Mối quan hệ giữa Tổng giám đốc và mức độ công bố thông tin CSR căn cứ trên dữ liệu báo cáo thường niên của doanh nghiệp.
  • Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp niêm yết trên hai Sở Giao dịch Chứng khoán gồm Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 4 năm, từ năm 2018 đến năm 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận dựa trên việc hệ thống hóa khái niệm CSR, mô hình cấu trúc trách nhiệm xã hội và 6 lý thuyết nền tảng trong kinh tế học và quản trị học:

Nhóm lý thuyết Tác giả tiêu biểu Luận điểm và ứng dụng trong đề tài
Mô hình Kim tự tháp CSR Carroll (1979, 1991) Phân tầng CSR thành 4 cấp bậc: Trách nhiệm kinh tế (nền tảng tạo lợi nhuận), Trách nhiệm pháp lý (tuân thủ luật), Trách nhiệm đạo đức (chuẩn mực xã hội kỳ vọng), và Trách nhiệm từ thiện/tự nguyện (đóng góp cho cộng đồng).
Lý thuyết thể chế (Institutional Theory) Hamilton (1932), Lawrence (2009), Campbell (2007), Oliver (1991) Doanh nghiệp chịu sự ràng buộc bởi các quy chuẩn, luật lệ, phong tục tập quán và cơ chế giám sát xã hội; việc công bố CSR là hành vi thích ứng để đạt sự công nhận hợp pháp trong môi trường thể chế.
Lý thuyết hợp pháp (Legitimacy Theory) Max Weber (1922), Pfeffer & Salancik (1978), Suchman (1995), Deegan (2020) Hoạt động của doanh nghiệp phải phù hợp với các hệ thống giá trị và chuẩn mực xã hội; nếu không đáp ứng kỳ vọng cộng đồng, doanh nghiệp có thể bị rút giấy phép hoạt động hoặc đe dọa sự tồn tại lâu dài.
Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) Freeman (1984), Clarkson (1995), Mitchell (1997), Deegan (2002) Doanh nghiệp cần quản trị và cân bằng lợi ích giữa các bên liên quan (cổ đông, nhân viên, khách hàng, cộng đồng địa phương) thông qua việc minh bạch hóa thông tin trách nhiệm xã hội.
Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Asymmetric Information) Akerlof (1970), Ravi (2005) Tồn tại khoảng cách thông tin giữa nhà quản trị và nhà đầu tư bên ngoài; việc công bố thông tin phi tài chính nhằm giảm thiểu sự mất cân bằng thông tin, tránh hiện tượng che giấu thông tin bất lợi.
Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) Ajzen (1980, 1991) Dự đoán ý định và hành vi ra quyết định của Tổng giám đốc dựa trên thái độ, niềm tin chuẩn mực và nhận thức kiểm soát hành vi đối với việc công bố thông tin CSR.
Lý thuyết đại diện (Agency Theory) Ross (1973), Jensen & Meckling (1976), Solomon & Maroun (2012) Giải thích mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu (cổ đông) và người đại diện (Tổng giám đốc); báo cáo trách nhiệm xã hội đóng vai trò như công cụ giám sát và thu hẹp xung đột đại diện.

Về hệ thống tiêu chuẩn đánh giá, tác giả căn cứ trên Bộ tiêu chuẩn báo cáo phát triển bền vững GRI Standards (phiên bản GRI hợp nhất 2016 do Global Sustainability Standards Board - GSSB ban hành). Mức độ công bố CSR được lượng hóa thông qua việc chấm điểm dựa trên tiêu chuẩn GRI 400 (chủ đề Xã hội) gồm 19 tiêu chí thành phần:

Mã tiêu chuẩn Tên tiêu chí đánh giá theo GRI 400 Trọng tâm nội dung đánh giá
GRI 401 Việc làm Số lượng lao động, tỷ lệ nghỉ việc, điều kiện làm việc và chế độ phúc lợi.
GRI 402 Mối quan hệ Quản trị / Lao động Chính sách đối thoại, thỏa ước lao động tập thể và giải quyết khiếu nại.
GRI 403 An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp Quy trình kiểm soát an toàn lao động và bảo vệ sức khỏe nhân viên.
GRI 404 Giáo dục và Đào tạo Chương trình đào tạo kỹ năng và lộ trình thăng tiến nghề nghiệp.
GRI 405 Đa dạng và Cơ hội Bình đẳng Bình đẳng giới và sự đa dạng trong cơ cấu lao động, ban điều hành.
GRI 406 Không phân biệt đối xử Chính sách ngăn chặn phân biệt đối xử về giới, chủng tộc, tôn giáo.
GRI 407 Tự do Lập hội và Thương lượng Tập thể Quyền thành lập, tham gia tổ chức công đoàn và thương lượng tập thể.
GRI 408 Lao động trẻ em Chính sách và biện pháp ngăn chặn sử dụng lao động trẻ em trong chuỗi cung ứng.
GRI 409 Lao động Cưỡng bức hoặc Bắt buộc Biện pháp loại trừ lao động cưỡng bức trong toàn bộ hoạt động doanh nghiệp.
GRI 410 Thông lệ về An ninh Quy trình bảo đảm an ninh vật lý, an ninh dữ liệu và nhân sự.
GRI 411 Quyền của Người Bản địa Tôn trọng bản sắc văn hóa, truyền thống và quyền của cộng đồng bản địa.
GRI 412 Đánh giá về Quyền con người Rà soát và quản lý các tác động nhân quyền trong hoạt động kinh doanh.
GRI 413 Cộng đồng Địa phương Các chương trình hỗ trợ, phát triển cộng đồng xung quanh địa bàn hoạt động.
GRI 414 Đánh giá Nhà cung cấp về mặt Xã hội Tiêu chí sàng lọc và đánh giá trách nhiệm xã hội của đối tác cung ứng.
GRI 415 Chính sách công Sự tham gia đóng góp ý kiến và tác động đến các chính sách xã hội.
GRI 416 An toàn và Sức khỏe của khách hàng Quy trình bảo đảm chất lượng, mức độ an toàn của sản phẩm và dịch vụ.
GRI 417 Tiếp thị và Nhãn hàng Quy định quảng cáo trung thực, ghi nhãn thông tin sản phẩm chính xác.
GRI 418 Quyền bảo mật Thông tin Khách hàng Chính sách bảo vệ dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư của khách hàng.
GRI 419 Tuân thủ về Kinh tế - Xã hội Mức độ chấp hành pháp luật và các quy chuẩn kinh tế - xã hội hiện hành.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế theo quy trình định lượng dữ liệu bảng (panel data):

  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thường niên được công bố chính thức của 445 doanh nghiệp niêm yết trên HNX và HOSE trong 4 năm (2018 – 2021), kết hợp các chỉ tiêu tài chính từ hệ thống cơ sở dữ liệu chứng khoán Vietstock.
  • Phương pháp xử lý: Sử dụng phần mềm Stata 15 để mã hóa, làm sạch và xử lý dữ liệu. Trình tự kiểm định bao gồm: thống kê mô tả, phân tích ma trận tương quan giữa các biến, kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến bằng hệ số phóng đại phương sai (VIF). Khóa luận thực hiện các kiểm định lựa chọn mô hình giữa Hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS), Mô hình tác động cố định (FEM - Fixed Effects Model) và Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM - Random Effects Model).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Mở đầu

Chương 1 thiết lập tính cấp thiết của đề tài từ bối cảnh kinh tế vĩ mô và xu hướng quốc tế về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Tác giả lập luận rằng sự phát triển bền vững của doanh nghiệp không thể tách rời việc giải quyết các thách thức xã hội và môi trường. Chương này phân tích thực trạng nhận thức về CSR tại Việt Nam khi phần lớn các đơn vị vẫn xem đây là chi phí phát sinh hoặc công cụ truyền thông thuần túy. Tác giả xác định rõ 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu, định vị khách thể nghiên cứu gồm 445 doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn HNX và HOSE trong giai đoạn 2018 – 2021. Chương 1 cũng trình bày 4 đóng góp dự kiến của đề tài về mặt lý luận kế toán, phương pháp luận thực nghiệm và hàm ý chính sách, đồng thời giới thiệu kết cấu 5 chương của khóa luận.

Chương 2: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2 tổng quan toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến CSR và đặc điểm của ban điều hành. Tác giả chỉ ra 2 khoảng trống nghiên cứu then chốt: (1) các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu sử dụng dữ liệu cũ trước năm 2021 hoặc chỉ tập trung vào một nhóm ngành hẹp (như ngành ngân hàng); (2) rất ít đề tài trong nước sử dụng phương pháp chấm điểm dựa trên bộ tiêu chuẩn báo cáo phát triển bền vững GRI Standards hợp nhất năm 2016 (cụ thể là GRI 400) để lượng hóa biến phụ thuộc.

Tiếp đó, chương làm rõ cơ sở lý luận về Tổng giám đốc theo quy định của Luật Doanh nghiệp Việt Nam qua các giai đoạn (2005, 2014, 2020), chỉ rõ sự thay đổi trong quy định về việc kiêm nhiệm chức danh. Tác giả phân tích tiến trình lịch sử CSR qua 3 giai đoạn: giai đoạn 1950 – 1970 (giai đoạn tranh luận giữa Bowen và Friedman), giai đoạn 1980 – 2000 (mở rộng với mô hình kim tự tháp Carroll) và giai đoạn 2001 đến nay (tiêu chuẩn hóa quốc tế). Chương 2 luận giải chi tiết 6 lý thuyết nền tảng (Thể chế, Tính hợp pháp, Các bên liên quan, Bất cân xứng thông tin, Hành vi có kế hoạch TPB, Đại diện) và phân tích các khung tiêu chuẩn CSR quốc tế (TCVN ISO 26000:2010, TCVN ISO 14001:2015, UNGC, OECD, SA 8000, GRI), trong đó đi sâu vào 19 chỉ số của chuẩn mực GRI 400.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 mô tả chi tiết quy trình nghiên cứu gồm 6 bước logic:

  1. Xác định vấn đề nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu.
  2. Tổng quan nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận.
  3. Xây dựng giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu.
  4. Thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu.
  5. Thảo luận kết quả nghiên cứu định lượng.
  6. Đề xuất khuyến nghị và giải pháp.

Tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu thực nghiệm với biến phụ thuộc là mức độ công bố thông tin CSR (được đo lường bằng phương pháp phân tích nội dung theo Bảng 3.2 gồm các tiêu chí GRI 400). Các biến độc lập phản ánh đặc điểm của Tổng giám đốc, kết hợp với các biến kiểm soát tài chính gồm đòn bẩy tài chính (Lev) và tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) (theo Danh mục biến Bảng 3.1 và Danh mục chữ viết tắt). Dữ liệu được trích xuất từ 445 doanh nghiệp niêm yết trên HNX và HOSE trong 4 năm (2018 – 2021) từ báo cáo thường niên và Vietstock. Dữ liệu bảng được xử lý trên phần mềm Stata 15 qua các bước hồi quy OLS, FEM và REM. Tác giả phát triển hệ thống giả thuyết nghiên cứu, mở đầu bằng Giả thuyết 1 (H1) nhận định: Giới tính của Tổng giám đốc có tác động cùng chiều đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp niêm yết.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Căn cứ theo Danh mục bảng biểu và cấu trúc nội dung, Chương 4 trình bày các kết quả phân tích định lượng:

  • Bảng 4.1 Thống kê mô tả: Cung cấp các tham số thống kê cơ bản (giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất) của biến phụ thuộc mức độ công bố CSR theo GRI 400, các biến đặc điểm Tổng giám đốc và các biến kiểm soát (ROA, Lev).
  • Bảng 4.1 Kết quả hệ số tương quan giữa các biến độc lập: Đánh giá mối quan hệ tuyến tính ban đầu giữa các biến trong mô hình nghiên cứu.
  • Bảng 4.2 Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến: Sử dụng hệ số phóng đại phương sai (VIF) để xác nhận mô hình không vi phạm giả định đa cộng tuyến nghiêm trọng.
  • Bảng 4.1 Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình: Thực hiện các kiểm định thống kê kinh tế lượng để so sánh giữa mô hình OLS, mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM).
  • Bảng 4.2 Kết quả mô hình FEM: Trình bày chi tiết các hệ số hồi quy của mô hình tác động cố định được lựa chọn, qua đó thảo luận về chiều hướng tác động của các đặc điểm Tổng giám đốc đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội.

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

Chương cuối cùng tổng kết các kết quả đạt được từ phân tích thực nghiệm trên mẫu 445 doanh nghiệp niêm yết. Dựa trên bằng chứng định lượng, tác giả đưa ra hệ thống khuyến nghị nhằm thúc đẩy công bố thông tin CSR tại Việt Nam:

  • Đối với cơ quan quản lý Nhà nước: Hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cấp các hướng dẫn về báo cáo phát triển bền vững thành quy định bắt buộc, xây dựng bộ tiêu chuẩn CSR quốc gia đồng bộ với chuẩn mực quốc tế GRI.
  • Đối với doanh nghiệp niêm yết: Nâng cao nhận thức của đội ngũ lãnh đạo cấp cao về giá trị cốt lõi của CSR; tích hợp các chỉ tiêu GRI 400 vào quy trình quản trị nội bộ và báo cáo thường niên.
  • Đối với nhà đầu tư: Sử dụng thông tin CSR và đặc điểm quản trị làm tiêu chí đánh giá mức độ rủi ro phi tài chính trước khi ra quyết định giải ngân vốn. Chương 5 cũng chỉ rõ các giới hạn còn tồn tại của đề tài và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và đóng góp

Kết quả và số liệu thực nghiệm được văn bản phản ánh thông qua các nội dung chính:

  • Quy mô mẫu và phạm vi kiểm định: Khóa luận hoàn thành việc thu thập và phân tích bộ dữ liệu bảng từ 445 doanh nghiệp niêm yết trên cả hai sàn giao dịch chứng khoán HNX và HOSE trong chuỗi thời gian 4 năm liên tục (2018 – 2021).
  • Vận dụng mô hình kinh tế lượng: Danh mục bảng biểu xác nhận tác giả đã hoàn thiện quy trình kiểm định kinh tế lượng từ thống kê mô tả, ma trận tương quan, kiểm định đa cộng tuyến (VIF), kiểm định lựa chọn mô hình đến ước lượng thông qua mô hình tác động cố định (FEM - Fixed Effects Model) để kiểm soát các yếu tố đặc thù không đổi theo thời gian của từng doanh nghiệp.
  • Thực trạng công bố CSR tại Việt Nam: Đề tài tổng hợp các bằng chứng thực tiễn cho thấy mức độ công bố CSR tại Việt Nam còn ở mức thấp và phân hóa lớn:
    • Tỷ lệ doanh nghiệp tham gia các hoạt động CSR chỉ đạt khoảng 51% theo báo cáo VEPR (2020).
    • Khảo sát của Hà Thị Thủy (2021) trên 100 công ty niêm yết chỉ ra 12% doanh nghiệp không công bố bất kỳ thông tin nào, và chỉ 14% doanh nghiệp đạt mức độ công bố 80%.
    • Dung lượng trình bày CSR trong báo cáo thường niên bình quân chỉ đạt 10 trang (Hoàng Anh Thư và Phan Thanh Hải, 2021).
  • Đóng góp khoa học và thực tiễn do tác giả tự nêu:
    • Về mặt lý luận: Hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết quản trị và kinh tế học (Thể chế, Tính hợp pháp, Các bên liên quan, Bất cân xứng thông tin, TPB, Đại diện) áp dụng cho mảng công bố thông tin phi tài chính; bổ sung cơ sở lý luận trong lĩnh vực kế toán về việc áp dụng chuẩn mực báo cáo bền vững quốc tế.
    • Về phương pháp luận: Khắc phục khoảng trống nghiên cứu trong nước bằng việc cập nhật bộ dữ liệu đến năm 2021 trên quy mô toàn diện cả hai sàn HNX và HOSE (không giới hạn riêng lẻ ngành tài chính - ngân hàng), đồng thời là công trình tiên phong áp dụng kỹ thuật đo lường biến phụ thuộc theo 19 tiêu chuẩn cụ thể của bộ chỉ số GRI 400 hợp nhất (2016).
    • Về mặt thực tiễn: Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng từ đặc điểm của nhà điều hành cấp cao (CEO) đến tính minh bạch thông tin, làm căn cứ để đề xuất các giải pháp nâng cao tính minh bạch cho thị trường chứng khoán Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ rõ các giới hạn dựa trên phạm vi thiết kế nghiên cứu:

  • Giới hạn mẫu và thị trường: Nghiên cứu chỉ tập trung vào 445 doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn chứng khoán chính thức là HNX và HOSE, chưa mở rộng sang sàn UPCoM hoặc nhóm các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp chưa niêm yết – đối tượng vốn chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế Việt Nam.
  • Khung thời gian dữ liệu: Dữ liệu thực nghiệm kết thúc ở năm 2021, chưa phản ánh các biến động mới của giai đoạn kinh tế phục hồi hoàn toàn sau đại dịch từ năm 2022 trở đi.
  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Việc đo lường mức độ công bố thông tin CSR phụ thuộc hoàn toàn vào văn bản báo cáo thường niên được doanh nghiệp công bố công khai, chưa kết hợp phương pháp khảo sát ý kiến trực tiếp hoặc phỏng vấn sâu Tổng giám đốc và các bên liên quan.
  • Phạm vi chuẩn mực đo lường: Thang đo biến phụ thuộc mới chỉ tập trung vào tiêu chuẩn GRI 400 (khía cạnh Xã hội), chưa bao quát hai trụ cột còn lại trong bộ tiêu chuẩn GRI là Kinh tế (GRI 200) và Môi trường (GRI 300).

Hướng mở cho các nghiên cứu tiếp theo bao gồm: kéo dài chuỗi thời gian nghiên cứu sau năm 2021; mở rộng sang các doanh nghiệp đại chúng chưa niêm yết; tích hợp đồng thời cả ba khía cạnh Kinh tế - Môi trường - Xã hội (ESG/GRI) trong thang đo mức độ công bố thông tin; và xem xét bổ sung các biến số quản trị khác của Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng học thuật và thực tiễn:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán, Tài chính - Ngân hàng và Quản trị kinh doanh: Tài liệu cung cấp cách tiếp cận mẫu mực về phương pháp nghiên cứu định lượng dữ liệu bảng (panel data) trong lĩnh vực kế toán phi tài chính. Phần đáng tham khảo nhất là Chương 3 với khung phân loại 19 tiêu chí chi tiết của tiêu chuẩn GRI 400 (Bảng 3.2), giúp người làm đề tài tương tự dễ dàng xây dựng bảng mã hóa nội dung (content analysis) để lượng hóa các biến định tính.
  • Các nhà nghiên cứu về Quản trị công ty (Corporate Governance) và Phát triển bền vững (CSR/ESG): Hệ thống hóa lý luận tại Chương 2 là tài liệu tổng hợp giá trị, liên kết chặt chẽ 6 lý thuyết nền tảng (Thể chế, Tính hợp pháp, Các bên liên quan, Bất cân xứng thông tin, TPB, Đại diện) nhằm giải thích hành vi công bố thông tin của nhà điều hành.
  • Ban lãnh đạo doanh nghiệp và chuyên viên lập báo cáo quan hệ nhà đầu tư (IR): Khóa luận cung cấp góc nhìn thực tiễn về cấu trúc báo cáo phát triển bền vững theo thông lệ quốc tế, giúp doanh nghiệp hoàn thiện quy trình công bố thông tin xã hội đáp ứng kỳ vọng của các quỹ đầu tư.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận sử dụng tiêu chuẩn nào để đo lường mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội? Tác giả sử dụng Bộ tiêu chuẩn báo cáo phát triển bền vững GRI Standards (phiên bản GRI hợp nhất năm 2016 do GSSB ban hành), cụ thể tiếp cận nhóm tiêu chuẩn GRI 400 - Xã hội gồm 19 tiêu chí thành phần (từ GRI 401 đến GRI 419) để chấm điểm mức độ công bố trên báo cáo thường niên của doanh nghiệp.

Quy mô mẫu nghiên cứu và phạm vi thời gian của đề tài được xác định ra sao? Mẫu nghiên cứu gồm 445 doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn chứng khoán Việt Nam là Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE). Chuỗi dữ liệu thứ cấp được thu thập trong khoảng thời gian 4 năm, từ năm 2018 đến năm 2021.

Những lý thuyết nền tảng nào được tác giả ứng dụng để xây dựng cơ sở lý luận? Tác giả hệ thống hóa và vận dụng 6 lý thuyết học thuật chính: Lý thuyết thể chế (Institutional Theory), Lý thuyết tính hợp pháp (Legitimacy Theory), Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory), Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Asymmetric Information), Lý thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB) và Lý thuyết đại diện (Agency Theory), kết hợp với mô hình kim tự tháp CSR 4 bậc của Carroll.

Công cụ phần mềm và mô hình kinh tế lượng chính được sử dụng để xử lý dữ liệu là gì? Tác giả sử dụng phần mềm Stata 15 để xử lý dữ liệu bảng. Quy trình kinh tế lượng bao gồm thống kê mô tả, ma trận tương quan, kiểm tra đa cộng tuyến (hệ số VIF) và các kiểm định lựa chọn mô hình giữa Hồi quy OLS, Mô hình tác động cố định (FEM) và Mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), trong đó mô hình FEM được lựa chọn để giải thích kết quả hồi quy.

Văn bản nêu thực trạng công bố thông tin CSR tại Việt Nam qua những con số nào? Theo các tài liệu được tác giả tổng hợp: chỉ có khoảng 51% doanh nghiệp Việt Nam tham gia hoạt động CSR (báo cáo VEPR, 2020); dung lượng công bố CSR trung bình chỉ khoảng 10 trang lồng ghép trong báo cáo thường niên (Hoàng Anh Thư và Phan Thanh Hải, 2021); và trong khảo sát 100 công ty niêm yết, có tới 12 công ty không công bố thông tin CSR và chỉ 14 công ty công bố đầy đủ ở mức 80% (Hà Thị Thủy, 2021).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thùy Giang đã giải quyết một vấn đề nghiên cứu mang tính thời sự trong lĩnh vực kế toán và quản trị doanh nghiệp tại Việt Nam thông qua việc kiểm chứng mối quan hệ giữa đặc điểm Tổng giám đốc và mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội. Bằng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm trên mẫu dữ liệu bảng gồm 445 doanh nghiệp niêm yết trên HNX và HOSE giai đoạn 2018 – 2021, kết hợp công cụ phân tích Stata 15 và thang đo chuẩn mực quốc tế GRI 400, đề tài đã cung cấp bằng chứng định lượng về thực trạng minh bạch thông tin phi tài chính. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp vào việc khỏa lấp khoảng trống học thuật về vai trò của nhà điều hành cấp cao đối với CSR tại thị trường mới nổi mà còn mang lại căn cứ thực tiễn giá trị cho việc hoàn thiện chính sách quản trị và thúc đẩy công bố thông tin phát triển bền vững tại Việt Nam.