Mở đầu Chương 2: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyên nghị CHUONG 2: TONG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THUC TIEN 2. Tổng quan nghiên cứu 2. Tình hình tổng quan trong nước Nguồn gốc của khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bắt nguồn từ những năm 1950, tuy nhiên ý nghĩa của khái niệm này chỉ thực sự được chú ý và quan tâm đến từ đầu những năm 1970. Thuật ngữ về trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội đã được sử dụng từ rất sớm và nhận được nhiều sự quan tâm đặc biệt từ các nước phát triển.
Ở các quốc gia dang phát triển, trong đó có Việt Nam mặc dù chủ đề nảy đã được biết đến nhưng dường như chưa thựa sự được nhiều doanh nghiệp tiễn hành triển khai. Ý kiến này có phan trùng khớp với kết quả báo cáo của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) năm 2020, chỉ có khoảng 51% doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia vào các hoạt động liên quan đến trách nhiệm xã hội. Thực hiện trách nhiệm xã hội hay công bố các thông tin trách nhiệm xã hội mới chỉ được quan tâm bởi các doanh nghiệp đầu đàn trong các lĩnh vực kinh doanh, theo bà Nguyễn Phương Linh - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý và Phát triển bền vững (2021) cho rằng: “Đừng coi thể hiện trách nhiệm cộng đồng, hoạt động từ thiện là cuộc chơi của doanh nghiệp lớn, đợi lớn mới thực hiện, mà hãy thực hiện từ thiện phát triển 16 dé lớn”. Cũng trong hội thảo “Tao xu hướng, dẫn dắt thay đổi — Dau ấn doanh nghiệp trách nhiệm trong đại dịch COVID-19” diễn giả Phương Linh cũng nhắn mạnh rằng một doanh nghiệp có trách nhiệm cần bắt đầu từ các giá trỊ cốt lõi khi xây dựng chiến lược phát triển dé cộng đồng tìm kiếm và tìm thấy ý nghĩa, tầm nhìn của doanh nghiệp đó.
Vì vậy, doanh nghiệp hoàn thành trách nhiệm xã hội không chỉ đóng góp tích cực cho cộng đồng đây còn là những viên gạch đầu tiên trong chiến lược phát triển bền vững của doanh nghiệp. Bởi một nền kinh tế chuyên đổi không chi đòi hỏi doanh nghiệp chi ban sản phâm hay cung cấp dịch vụ mà còn là giá trị và trách nhiệm của chính doanh nghiệp đang hoạt động ấy. Theo tiến sĩ Nguyễn Ngọc Thắng (2010) cho tằng việc thực hiện trách nhiệm xã hội mang lại nhiều lợi ích lớn cho doanh nghiệp như tăng doanh sỐ bán hàng và giảm tỷ lệ nhân viên thôi việc, mở rộng thị trường kinh doanh. Tương đồng với nhận định này, cũng trong năm 2010 Mạng lưới Hiệp ước toàn cầu Việt Nam (GCNV) đã cho răng trách nhiệm xã hội góp phần tăng giá trị doanh nghiệp, duy trì ngồn nhân lực.
Có thê thấy trách nhiệm xã hội có nhiều tác động tích cực đến quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Cùng quan điểm điểm này tác giả Nguyễn Quỳnh Như (2020) dựa trên dit liệu của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam trong giai đoạn 2012-2017 đã đưa ra kết luận rằng trách nhiệm xã hội có mối quan hệ cùng chiều với kết quả tài chính. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan (2017) cho biết hệ Việt Nam đã được biết đến các hệ ý tưởng trách nhiệm xã hội khoảng 2 thập kỳ nay. Nhưng các doanh nghiệp ký cam kết thực hiện trách nhiệm xã hội chủ yếu là các công ty đa quốc gia, còn doanh nghiệp Việt Nam tham gia không nhiều.
Đáng buồn hơn phải kế đến một số doanh nghiệp Việt Nam cam kết thực hiện trách nhiệm xã hội chỉ để đánh bóng tên tuổi doanh nghiệp, chứ không có ý định giúp đỡ cộng đồng thực sự. Cũng trong tọa đàm Nhìn từ APEC 2017: Cơ hội phát triển 17 bền vững cho doanh nghiệp, ông Nguyễn Hữu Thái Hòa còn cho biết các doanh nghiệp tại Việt Nam chỉ xếp trách nhiệm xã hội trong bộ phận marketing. Việc thực hiện trách nhiệm xã hội như nao, công bó thông tin ra sao cũng làm theo chỉ đạo của phòng marketing dé kiếm lợi ích. Ông Hòa cho rang đây là một trong những nguyên nhân vì sao trách nhiệm xã hội ở Việt Nam mãi không phát triển.
Điều nảy có thể do các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa hiểu được bản chất sâu xa của việc thực hiện trách nhiệm xã hội và nhận thức được mức độ nghiêm trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp gây nên. Đơn cử như vụ việc sử dụng lại nguyên liệu hết hạn của Tân Hiệp Phát vào năm 2009 hay sự cau thả và chủ quan trọng việc xả nước thải ra sông Mã vào năm 2021 đã gây ra ton that nặng nề đến kinh tế của người dân nói riêng và môi trường nói chung. Qua các hành vi gian lận trong quá trình sản xuấ, kinh doanh, có ý gây 6 nhiệm môi trường cho thấy một bộ phận doanh nghiêp vẫn còn thờ ơ trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội. Theo tiến sĩ Cao Thu Hăng (Viện Triết học) qua số liệu điều tra năm cho thấy chỉ có 23,8% công nhân trên cả nước có mức thu nhập trên 1,5 triệu đồng/tháng, đây là mức lương quá thấp thể hiện sự lỏng lẻo trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Theo Nguyễn Thị Hường — Phòng Nông nghiệp va Phát triển Nông thôn cho rằng xét về khía cạnh đạo đức, các hoạt động mà xã hội mong đợi ở doanh nghiệp vẫn chưa được thê chế hóa thành luật. Tương đồng với nhận định này luật sư Lê Thị Hằng (2020) cho rằng một trong những nguyên nhân quan trọng trong việc doanh ngiệp không thực hiện trách nhiệm xã hội là do vấn đề này tại Việt Nam chưa được luật hóa. Hiện tại, Việt Nam chưa có luật chính thức về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp đã lầm tưởng rằng trách nhiệm xã hội chỉ đơn thuần là công tác từ thiện hoặc hoạt động xã hội hóa doanh nghiệp, dẫn đến một số doanh nghiệp đã không thực hiện nghiêm túc trách nhiệm xã hội của mình.
18 Mặc dù trong Nghị định số 155/2018/NĐ-CP ngày 31/12/2018 của Chính phủ về quản lý đầu tư xây dựng dự án đặc biệt đề cập đến việc doanh nghiệp cần phải có trách nhiệm xã hội. Ngoài ra, Việt Nam cũng có các chương trình và chiến lược đối với Việt Nam như Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam và Chương trình Hành động Quốc gia về Trách nhiệm Xã hội Đầu tư, nhưng chúng chỉ là các khung pháp lý chung và chưa có tính bắt buộc. Cũng chính bởi việc không bắt buộc đối với việc công bố thông tin trách nhiệm xã mà dựa trên tinh thần tự nguyên của doanh nghiệp, đã có nhiều doanh nghiệp không công bố thông tin rõ ràng. Theo nhóm tác giả Hoàng Anh Thư và Phan Thanh Hải (2021), cho biết hầu hết các doanh nghiệp đều lồng ghép thông tin trách nhiệm xã hội trong báo cáo thường niên, nội dung thông tin trung bình 10 trang.
Thậm chi theo nghiên cứu về thực trang công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các công ty niêm yết của tác giả Hà Thị Thủy (2021), dựa trên dữ liệu từ 100 công ty được nghiên cứu chỉ có 12 công ty không cung cấp bất kỳ thông tin nào liên quan đến trách nhiệm xã hội cho các bên liên quan. Chỉ có 14/100 công ty cung cấp khá day đủ với mức độ thông tin được công bố là 80%. Tình hình tổng quan nước ngoài Theo nhóm tác giả Solomon (2012), trách nhiệm xã hội xuất hiện vào những năm 1970 với sự nhấn mạnh ban đầu về các van đề xã hội, sau đó đã chuyên sang các van dé về môi trường vào những năm 1980. Năm 1991, giáo su Donna J.
Wood cua Đại hoc Pittsburgh đã xuất bản cuốn Corporate Social Performance Revisited, cuén sách này mở đường cho việc cải thiện các mô hình CSR ban đầu bằng cách cung cấp một khuôn khổ dé đánh giá tác động và kết quả của các chương trình trách nhiệm xã hội , tuy nhiên tác giả cho rằng “Không có định nghĩa thỏa mãn về trách nhiệm xã hội”. Trái ngược với quan điểm nảy, tác giả Carroll (1999) đã đưa ra khái niệm về CSR: “CSR là tất cả các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở doanh 19 nghiệp trong mỗi thời điểm nhất định” và cũng chính ông là người đầu tiên xây dựng khái niệm này trên ba khía cạnh: Trách nhiệm kinh tế; pháp lý; đạo đức và từ thiện. Đây được coi như là một bước tiến lớn trong việc thúc đây các doanh nghiệp tăng cường mức đô công bố thông tin trách nhiệm xã hội một cách rộng rãi hơn trên toàn câu. Theo Carroll (1991) đã chỉ ra rằng sự tự nguyện đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra quyết định về việc công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp.
Theo tác gia Doan Kim Ngọc (2008), sự tự nguyện được hiểu là tinh thần tự giác tham gia vào một việc nào đó, đây được mô tả là một hành động không màng đến lợi ích cá nhân, hướng đến cộng đồng. Tuy nhiên, các hoạt động hay chương trình này thương gây ra chi phí lớn cho doanh nghiệp, nhưng một số ban quản tri đã nhìn nhận ra tầm ảnh hưởng của trách nhiệm xã hội và coi đây là chi phí cơ hội mà doanh nghiệp can có. Khác với nền kinh tế thị trường tư bản của C. Mác được mô tả là tang lớp bóc lột sức lao động đến cùng kiệt nhằm tối đa hóa lợi nhuận.
Hiện nay, các tô chức đa quốc gia đã có cái nhìn nhân đạo hơn về hoạt động kinh doanh của mình thông qua kinh doanh bền vững, bằng sự quan tâm đến các khía cạnh về xã hội và con người hơn, được xem như một sự cam kết về tinh thần, đạo đức, văn hóa đối với cộng đồng và toàn xã hội. Các cá nhân, doanh nghiệp đã và đang có những bước đi khôn ngoan và cần trọng hon trong nền kinh tế thi trường hiện nay, khi sức ảnh hưởng đến từ sự ủng hộ của xã hội là điều không thể chối bỏ. Khi theo nghiên cứu của Cone Communications về hành vi mua sắm của người tiêu dùng cho thấy 87% người tiêu dùng sẽ mua sắm tại các doanh nghiệp thực hiện hoạt động trách nhiệm xã hội và 88% sẽ tin tưởng hon vào các thương hiệu này. Theo tác giả Morsing và Schultz (2006) đã chỉ ra rằng trách nhiệm xã hội có thể giúp tăng cường mối quan gệ giữa doanh nghiệp và cộng dong, đôi tac.