Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kế toán (mã số: 9340301) mang tên "Đo lường mức độ công bố thông tin phi tài chính và các nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin phi tài chính của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam", do nghiên cứu sinh Dương Hoàng Ngọc Khuê thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Hà Xuân Thạch tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh năm 2019.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Thông tin kế toán bao gồm hai cấu phần chính: thông tin tài chính và thông tin phi tài chính. Thông tin tài chính được chuẩn hóa và đo lường bằng đơn vị tiền tệ, giữ vai trò nền tảng trong việc hỗ trợ các quyết định kinh tế của nhà đầu tư. Tuy nhiên, sự phát triển của các hoạt động sản xuất kinh doanh có thể tạo ra những tác động tiêu cực đối với môi trường tự nhiên và xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế bền vững. Từ thập niên 1990, khái niệm phát triển bền vững được các tổ chức quốc tế khởi xướng, làm thay đổi nhận thức của doanh nghiệp và các bên liên quan về trách nhiệm công bố thông tin (CBTT). CBTT phi tài chính dần chuyển dịch từ hình thức khuyến khích tự nguyện sang các quy định bắt buộc, đặc biệt đối với các chỉ tiêu về môi trường, xã hội và quản trị công ty (ESG).
Tại Việt Nam, hệ thống kế toán truyền thống chủ yếu tập trung vào kế toán tài chính; các thông tin phi tài chính trên thuyết minh báo cáo tài chính mang tính chất giải thích bổ trợ cho số liệu tài chính mà chưa phản ánh sâu sắc các khía cạnh môi trường và trách nhiệm xã hội. Mặc dù một số doanh nghiệp niêm yết lớn đã chủ động áp dụng các thông lệ quốc tế như Hướng dẫn G4 của Tổ chức Sáng kiến Báo cáo Toàn cầu (GRI4) (điển hình như Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam - Vinamilk, Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang, Công ty Cổ phần Dược phẩm Imexpharm), nhưng phần lớn các doanh nghiệp còn lại thực hiện CBTT phi tài chính mang tính đối phó, thiếu đồng bộ hoặc bỏ sót chỉ tiêu.
Vào cuối năm 2015, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 155/2015/TT-BTC quy định về việc CBTT trên thị trường chứng khoán, chính thức áp dụng từ niên độ báo cáo năm 2016, trong đó lần đầu tiên đưa việc CBTT môi trường và xã hội thành nghĩa vụ bắt buộc đối với các doanh nghiệp niêm yết (DNNY). Bối cảnh này đặt ra khoảng trống nghiên cứu cần được giải quyết: đo lường mức độ tuân thủ quy định bắt buộc theo pháp luật Việt Nam, đối chiếu với tiêu chuẩn quốc tế GRI4, đồng thời xác định các nhân tố tác động đến hành vi CBTT phi tài chính của các DNNY trong giai đoạn bước ngoặt chính sách.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Đo lường mức độ CBTT phi tài chính của các DNNY trên thị trường chứng khoán theo quy định của Việt Nam và theo tiêu chuẩn quốc tế (GRI4), đồng thời xác định và kiểm định mức độ tác động của các nhân tố đến mức độ CBTT phi tài chính.
Mục tiêu cụ thể:
- Đo lường mức độ CBTT phi tài chính của các DNNY tại Việt Nam theo quy định của Việt Nam (Thông tư 155/2015/TT-BTC) và theo Hướng dẫn GRI4 của thế giới.
- Xác định các nhân tố và đo lường mức độ tác động của từng nhân tố đến mức độ CBTT phi tài chính của các DNNY tại Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Mức độ CBTT phi tài chính của các DNNY Việt Nam hiện nay theo quy định của Việt Nam và quy định của thế giới như thế nào?
- Câu hỏi 2: Những nhân tố nào tác động đến mức độ CBTT phi tài chính và từng nhân tố tác động đến mức độ CBTT phi tài chính như thế nào?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mức độ CBTT phi tài chính và các nhân tố tác động đến mức độ CBTT phi tài chính.
- Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp có cổ phiếu niêm yết chính thức trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX).
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu CBTT phi tài chính công bố trên Báo cáo thường niên (BCTN) và Báo cáo phát triển bền vững (BC PTBV) năm 2016 (áp dụng cho các DNNY có niên độ kế toán từ 01/01/2016 đến 31/12/2016).
- Giới hạn nghiên cứu:
- Luận án loại trừ các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm do đặc thù quy định và chuẩn mực CBTT phi tài chính khác biệt với khối doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thương mại.
- Luận án tập trung đo lường số lượng (mức độ) thông tin phi tài chính được công bố theo danh mục tiêu chí, không đánh giá chất lượng thực chất của nội dung thông tin.
- Luận án loại trừ các DNNY có thời điểm niêm yết chính thức sau ngày 01/01/2016 do dữ liệu công bố năm 2016 không đầy đủ cho toàn bộ niên độ.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và hệ thống hóa y văn học thuật về CBTT phi tài chính thành ba dòng nghiên cứu chính:
CÔNG BỐ THÔNG TIN
CBTT Tài chính CBTT Phi Tài chính
Dòng nghiên cứu 1 Dòng nghiên cứu 2 Dòng nghiên cứu 3
Nghiên cứu về Nghiên cứu về Nghiên cứu về
CBTT bắt buộc PTC CBTT tự nguyện PTC nhân tố tác động CBTT
Các hướng nghiên cứu trước
-
Dòng nghiên cứu về công bố bắt buộc thông tin phi tài chính:
- Trên thế giới: Mobus (2005) nghiên cứu 17 công ty với 44 nhà máy lọc dầu tại Mỹ, sử dụng hồi quy OLS và kiểm định Hausman, ghi nhận mức độ CBTT môi trường trung bình đạt 32,58%. Levine và Smith (2011) khảo sát báo cáo tài chính của các DNNY tại Mỹ về 25 chính sách kế toán bắt buộc, chỉ ra tỷ lệ công bố cao nhất thuộc về chính sách đầu tư chứng khoán (67,1%) và thấp nhất là công ty mục đích đặc biệt (0,85%). Babaloo (2012) đối chiếu chuẩn mực Ind AS 01 tại Ấn Độ với IAS/IFRS 01. Ioannou và Serafeim (2014) phân tích dữ liệu Bloomberg của các công ty tại Trung Quốc, Đan Mạch, Malaysia, Nam Phi, chứng minh quy định bắt buộc thúc đẩy doanh nghiệp gia tăng CBTT theo cả quy định nội địa và GRI4. Grewal và cộng sự (2015) khảo sát 1.249 công ty tại EU, cho thấy ngành sản xuất công nghiệp có mức CBTT bắt buộc (33,39%) cao hơn ngành khác (21,24%). Christensen và cộng sự (2015) nghiên cứu 151 DNNY ngành khai khoáng tại Mỹ theo đạo luật Dodd-Frank. Kaya (2016) phân tích 42 chỉ mục theo đạo luật Code Grenelle II tại Pháp đối với các công ty trên 500 nhân viên. Gulin và cộng sự (2018) khảo sát 10 DNNY tại sàn Zagreb (Croatia) giai đoạn 2013–2015 với 52 chỉ mục. Manes-Rossi và cộng sự (2018) nghiên cứu 50 công ty lớn nhất châu Âu theo Chỉ thị 2014/95/EU so với GRI4, ghi nhận mức độ CBTT đạt 71%. Szadziewska và cộng sự (2018) tại Ba Lan và Sierra-Garcia và cộng sự (2018) tại Tây Ban Nha (chỉ số IBEX35) cũng nghiên cứu việc áp dụng Chỉ thị 2014/95/EU.
- Tại Việt Nam: Chưa có công trình độc lập nào nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng công bố bắt buộc thông tin phi tài chính trước thời điểm tác giả thực hiện luận án.
-
Dòng nghiên cứu về công bố tự nguyện thông tin phi tài chính:
- Trên thế giới: Karim và cộng sự (2013) khảo sát 136 nhà quản lý công ty công và tư nhân tại Mỹ với 24 chỉ mục. Khan và cộng sự (2014) khảo sát 14 DNNY tại sàn giao dịch Nam Thái Bình Dương (Fiji), chỉ ra mức độ CBTT chiến lược đạt 46% và trách nhiệm xã hội đạt 15%. Ghasempour và Yusof (2014) nghiên cứu 65 DNNY tại sàn Tehran (Iran) giai đoạn 2005–2012, chỉ ra mức độ CBTT tự nguyện dao động từ 13 đến 646 điểm, rất phân tán. Mihajlov và Spasic (2016) khảo sát 63 DNNY tại sàn Belgrade (Serbia), ghi nhận mức CBTT tự nguyện trung bình đạt 48,41% (trong đó thông tin chung 64,85%, môi trường xã hội 29,59%). Rezaee và Tuo (2017) khảo sát 580 công ty tại Mỹ, ghi nhận mức CBTT tự nguyện trung bình đạt 51,34%.
- Tại Việt Nam: Tạ Quang Bình (2012) khảo sát 199 DNNY trên HOSE và HNX, ghi nhận mức CBTT kế hoạch phát triển tương lai đạt 61,64%, thông tin chung 70,17%, ủy ban kiểm toán 10,84%, trách nhiệm xã hội và môi trường 18,77%. Tạ Quang Bình (2014) khảo sát 196 DNNY với BCTN năm 2009, ghi nhận mức CBTT phi tài chính trung bình đạt 43,4%. Phạm Đức Hiếu và Đỗ Thị Hương Lan (2015) khảo sát 205 DNNY ngành sản xuất công nghiệp với BCTN năm 2012, ghi nhận mức CBTT trung bình đạt 32,16% (chiến lược 41,06%, dự báo 20%, trách nhiệm công ty 42,55%).
-
Dòng nghiên cứu về các nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin phi tài chính:
- Trên thế giới: Meek và cộng sự (1995) tại Mỹ, Anh, châu Âu chứng minh quy mô công ty tác động thuận chiều, trong khi quốc gia, ngành nghề, đòn bẩy, lợi nhuận không có ý nghĩa thống kê. Robb và cộng sự (2001) tại Mỹ, Úc, Canada khẳng định quy mô và tính chất quốc gia tác động tích cực. Skouloudis và cộng sự (2013) tại Hy Lạp chỉ ra quy mô, quốc tế hóa tác động dương (+), sở hữu nhà nước tác động âm (-). Behbahani và cộng sự (2013a, 2013b) tại Iran chỉ ra quy mô công ty kiểm toán (+), quy mô doanh nghiệp (+), mức độ phức tạp (+) và tính thanh khoản (-) tác động đến CBTT. Zare và cộng sự (2013) tại Iran ghi nhận thời gian niêm yết (+), lợi nhuận (+), đòn bẩy (-). Mohammed và Islam (2014) tại Bangladesh chứng minh quy mô và tuổi công ty tác động dương. Ghasempour và Yusof (2014) ghi nhận quy mô, sự phức tạp, biến động doanh thu, giá trị công ty (+) và đòn bẩy (-). Rezaee và Tuo (2017) chứng minh quy mô, sở hữu tổ chức, lợi nhuận, vị trí địa lý, đòn bẩy tài chính đều có tác động dương. Szadziewska và cộng sự (2018) khẳng định giá trị thị trường, quy mô và ngành nghề có quan hệ với CBTT.
- Tại Việt Nam: Tạ Quang Bình (2014) kiểm định mô hình hồi quy và chỉ ra quy mô (+), lợi nhuận (+), công ty kiểm toán (+) và cấu trúc lãnh đạo kép (+) có ý nghĩa thống kê; sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài, sở hữu tổ chức và đòn bẩy tài chính chưa có ý nghĩa. Phạm Đức Hiếu và Đỗ Thị Hương Lan (2015) khẳng định quy mô (+) và sở hữu nước ngoài (+) tác động thuận chiều; lợi nhuận, đòn bẩy, sở hữu nhà nước, lãnh đạo kép không có ý nghĩa thống kê.
| Nhóm nghiên cứu |
Tác giả tiêu biểu |
Bối cảnh |
Phương pháp chính |
Kết quả cốt lõi |
| CBTT bắt buộc |
Mobus (2005) |
Mỹ |
Hồi quy OLS |
CBTT môi trường trung bình 32,58% |
|
Ioannou & Serafeim (2014) |
Trung Quốc, Đan Mạch, Malaysia, Nam Phi |
Chỉ số không trọng số, dữ liệu Bloomberg |
Mức độ CBTT tăng đáng kể sau khi ban hành luật bắt buộc |
|
Manes-Rossi và CS (2018) |
Châu Âu (Chỉ thị 2014/95/EU) |
Phân tích nội dung, đối chiếu GRI4 |
Mức độ CBTT đạt 71%, nâng cao tính giải trình |
| CBTT tự nguyện |
Karim và CS (2013) |
Mỹ |
Khảo sát 136 nhà quản lý |
Doanh nghiệp tư nhân hạn chế CBTT tự nguyện |
|
Mihajlov & Spasic (2016) |
Serbia |
Chỉ số có/không trọng số |
Mức CBTT tự nguyện đạt 48,41% |
|
Tạ Quang Bình (2014) |
Việt Nam (BCTN 2009) |
Chỉ số không trọng số |
Mức CBTT phi tài chính trung bình đạt 43,4% |
|
Phạm Đức Hiếu & CS (2015) |
Việt Nam (BCTN 2012) |
Chỉ số không trọng số |
Mức CBTT phi tài chính trung bình đạt 32,16% |
| Nhân tố tác động |
Meek và CS (1995) |
Mỹ, Anh, Châu Âu |
Hồi quy bội |
Quy mô công ty tác động dương (+) |
|
Skouloudis và CS (2013) |
Hy Lạp |
Phân tích nội dung, hồi quy |
Quy mô (+), quốc tế hóa (+), sở hữu nhà nước (-) |
|
Tạ Quang Bình (2014) |
Việt Nam |
Hồi quy đa biến |
Quy mô (+), lợi nhuận (+), kiểm toán (+), lãnh đạo kép (+) |
|
Phạm Đức Hiếu & CS (2015) |
Việt Nam |
Hồi quy OLS |
Quy mô (+), sở hữu nước ngoài (+) |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
- Đo lường đồng thời mức độ CBTT phi tài chính của các DNNY tại Việt Nam theo hệ thống quy định pháp lý bắt buộc của Việt Nam (Thông tư 155/2015/TT-BTC) và theo Hướng dẫn GRI4 mang tính chuẩn mực quốc tế, trên cùng một tập dữ liệu năm 2016 — năm đầu tiên Thông tư 155 có hiệu lực thi hành.
- Khám phá và kiểm định thực nghiệm một nhân tố mới thuộc nhóm đặc tính công ty là "Vay vốn nước ngoài" trong mô hình giải thích mức độ CBTT phi tài chính của các doanh nghiệp tại thị trường đang phát triển như Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm nền tảng
Luận án tổng hợp các định nghĩa học thuật và nghề nghiệp về thông tin phi tài chính từ Meek và CS (1995), Robb và CS (2001), Flostrand và Strom (2006), Viện Kế toán Công chứng Anh và xứ Wales (ICAEW, 2008), Admiraal và CS (2009), Dominique (2009), Eccles và Krzus (2010), Fraser (2012), Tổ chức Quốc tế các Cơ quan Kiểm toán Tối cao (INTOSAI, 2013), Ủy ban Châu Âu (European Commission, 2013), Financial Times Lexicon (2015), và Ernst & Young (E&Y, 2015). Luận án xác lập quan điểm: Thông tin phi tài chính là những dữ liệu định tính hoặc định lượng nằm ngoài bốn báo cáo tài chính cơ bản, không được lượng hóa bằng đơn vị tiền tệ, phản ánh các khía cạnh thông tin chung, môi trường, trách nhiệm xã hội, quản trị công ty và chiến lược nhằm hỗ trợ các bên liên quan đánh giá toàn diện tính bền vững của doanh nghiệp.
Luận án vận dụng bốn lý thuyết nền tảng để giải thích hành vi CBTT và tác động của các nhân tố:
- Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory): Doanh nghiệp không chỉ chịu trách nhiệm trước cổ đông sở hữu vốn mà còn phải đáp ứng quyền lợi và nhu cầu thông tin của các bên liên quan (người lao động, khách hàng, nhà cung cấp, cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng dân cư). CBTT phi tài chính là phương thức đáp ứng kỳ vọng đa chiều này.
- Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Information Asymmetry Theory): Khoảng cách thông tin giữa nhà quản trị bên trong và nhà đầu tư bên ngoài làm phát sinh chi phí giao dịch và rủi ro lựa chọn nghịch. Việc gia tăng CBTT phi tài chính giúp thu hẹp khoảng cách bất cân xứng, minh bạch hóa bức tranh hoạt động và giảm chi phí sử dụng vốn.
- Lý thuyết đại diện (Agency Theory): Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý tạo ra xung đột lợi ích giữa cổ đông (người ủy thác) và người điều hành (người đại diện). CBTT phi tài chính hoạt động như một cơ chế giám sát và giải trình nhằm hạn chế hành vi trục lợi của ban điều hành.
- Lý thuyết hợp pháp (Legitimacy Theory): Doanh nghiệp tồn tại dựa trên "khế ước xã hội" ngầm định; hoạt động của doanh nghiệp phải phù hợp với các chuẩn mực, giá trị và kỳ vọng của xã hội. CBTT phi tài chính về môi trường và xã hội là công cụ giúp doanh nghiệp duy trì, khẳng định hoặc phục hồi tính hợp pháp cho sự tồn tại và phát triển của mình.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng thiết kế nghiên cứu hỗn hợp kết hợp tuần tự giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng:
QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU
NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG
- Phỏng vấn chuyên gia (cơ quan quản lý, - Xây dựng 2 bảng chỉ số CBTT:
soạn thảo chuẩn mực, VAA, VACPA, + Theo quy định VN (61 chỉ mục)
KTV, KTT, nhà khoa học) + Theo Hướng dẫn GRI4
- Khám phá nhân tố mới: "Vay vốn nước ngoài" - Chấm điểm chỉ số công bố không trọng số
- Hoàn thiện bảng tiêu chí đo lường - Thống kê mô tả mức độ CBTT năm 2016
- Chuẩn hóa các biến trong mô hình - Kiểm định khuyết tật mô hình (VIF, Durbin-Watson)
- Ước lượng mô hình hồi quy OLS (Mô hình 1 & 2)
- Kiểm định Paired Samples T-Test so sánh 2 thang đo
- Nghiên cứu định tính: Thực hiện thông qua phương pháp phỏng vấn chuyên gia. Tác giả tiến hành thảo luận sâu với các nhóm chuyên gia bao gồm: đại diện cơ quan giám sát CBTT (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước), đại diện cơ quan soạn thảo chuẩn mực (Bộ Tài chính), đại diện hội nghề nghiệp kế toán - kiểm toán (VAA, VACPA), kiểm toán viên hành nghề, kế toán trưởng và các nhà nghiên cứu học thuật. Mục đích nhằm điều chỉnh thang đo danh mục CBTT phi tài chính, xác định và bổ sung nhân tố mới ("Vay vốn nước ngoài") vào mô hình nghiên cứu thực nghiệm.
- Nghiên cứu định lượng:
- Phương pháp đo lường mức độ CBTT: Sử dụng phương pháp chỉ số công bố không trọng số (Unweighted Disclosure Index). Mỗi chỉ mục thông tin nếu được doanh nghiệp công bố trên BCTN/BC PTBV được gán điểm 1, nếu không công bố được gán điểm 0. Chỉ số CBTT của mỗi doanh nghiệp được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa tổng số điểm đạt được và tổng số điểm tối đa của danh mục. Luận án xây dựng hai bộ chỉ số:
- Bảng chỉ số CBTT phi tài chính theo quy định Việt Nam (gồm 61 chỉ mục thuộc các nhóm: Thông tin chung, Môi trường, Xã hội, Quản trị công ty, Thông tin phi tài chính khác).
- Bảng chỉ số CBTT phi tài chính theo Hướng dẫn GRI4 của thế giới (thuộc các nhóm: Thông tin chung, Kinh tế, Môi trường, Xã hội, Quản trị công ty).
- Phương pháp kiểm định mô hình kinh tế lượng: Thiết lập hai mô hình hồi quy tuyến tính đa biến (Mô hình 1 tương ứng với biến phụ thuộc là mức độ CBTT theo quy định Việt Nam; Mô hình 2 tương ứng với mức độ CBTT theo GRI4). Sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) để ước lượng các hệ số hồi quy; thực hiện kiểm định giả định phân phối chuẩn phần dư (biểu đồ P-P Plot), kiểm định phương sai sai số thay đổi, kiểm định tự tương quan (Durbin-Watson), và kiểm định đa cộng tuyến qua hệ số phóng đại phương sai (VIF).
- Phương pháp so sánh cặp (Paired Samples T-Test): Đánh giá sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa mức độ CBTT theo quy định Việt Nam và mức độ CBTT theo chuẩn quốc tế GRI4.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ BCTN, BC PTBV và Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2016 của các DNNY trên hai sở giao dịch HOSE và HNX. Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ biên bản phỏng vấn, phiếu tham vấn ý kiến chuyên gia kế toán, kiểm toán và nhà quản lý thị trường.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu đã công bố
Chương 1 hệ thống hóa một cách toàn diện các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến CBTT phi tài chính theo ba nhánh: công bố bắt buộc, công bố tự nguyện và các nhân tố tác động.
- Về công bố bắt buộc, tác giả phân tích các nghiên cứu của Mobus (2005), Levine và Smith (2011), Babaloo (2012), Ioannou và Serafeim (2014), Grewal và cộng sự (2015), Christensen và cộng sự (2015), Kaya (2016), Gulin và cộng sự (2018), Manes-Rossi và cộng sự (2018), Szadziewska và cộng sự (2018), Sierra-Garcia và cộng sự (2018).
- Về công bố tự nguyện, tác giả điểm lại các nghiên cứu của Karim và cộng sự (2013), Khan và cộng sự (2014), Ghasempour và Yusof (2014), Mihajlov và Spasic (2016), Rezaee và Tuo (2017) trên thế giới, và các nghiên cứu của Tạ Quang Bình (2012, 2014), Phạm Đức Hiếu và Đỗ Thị Hương Lan (2015) tại Việt Nam.
- Về các nhân tố tác động, chương này phân tích các biến số kinh tế - quản trị từ nghiên cứu của Meek và cộng sự (1995), Robb và cộng sự (2001), Skouloudis và cộng sự (2013), Behbahani và cộng sự (2013a, 2013b), Zare và cộng sự (2013), Mohammed và Islam (2014) cùng các tác giả trong nước.
Chương 1 tổng kết các khoảng trống nghiên cứu, khẳng định sự cần thiết phải thực hiện một đề tài đo lường mức độ CBTT phi tài chính bắt buộc theo Thông tư 155/2015/TT-BTC so sánh với GRI4 và kiểm định các nhân tố tác động trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 2 thiết lập khung lý luận cho đề tài. Tác giả làm rõ các khái niệm, vai trò của thông tin phi tài chính trong việc tạo lập lợi thế cạnh tranh, nâng cao giá trị doanh nghiệp và hỗ trợ quá trình ra quyết định của các nhóm đối tượng sử dụng chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp. Chương này phân tích hệ thống văn bản hướng dẫn CBTT phi tài chính quốc tế (GRI4, ISO 26000, UNGC, CDP) và khung pháp lý tại Việt Nam (hệ thống Chuẩn mực Kế toán Việt Nam - VAS, chế độ kế toán doanh nghiệp theo Thông tư 200/2014/TT-BTC, và quy định CBTT trên thị trường chứng khoán theo Thông tư 155/2015/TT-BTC). Tác giả luận giải sâu sắc bốn lý thuyết nền tảng: Lý thuyết các bên liên quan, Lý thuyết bất cân xứng thông tin, Lý thuyết đại diện và Lý thuyết hợp pháp, làm cơ sở lý luận vững chắc cho việc xây dựng các giả thuyết nghiên cứu ở chương tiếp theo.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết thiết kế và quy trình nghiên cứu. Tác giả mô tả quy trình nghiên cứu định tính với phương pháp chuyên gia nhằm hoàn thiện danh mục 61 chỉ mục CBTT phi tài chính theo quy định Việt Nam và danh mục chỉ mục theo GRI4, đồng thời bổ sung biến "Vay vốn nước ngoài" vào mô hình.
Chương này thiết lập các giả thuyết nghiên cứu và xây dựng hai mô hình hồi quy OLS:
- Mô hình 1: Đo lường tác động của các nhân tố đến mức độ CBTT phi tài chính theo quy định Việt Nam.
- Mô hình 2: Đo lường tác động của các nhân tố đến mức độ CBTT phi tài chính theo GRI4.
Các biến độc lập được chia thành ba nhóm:
- Nhóm đặc tính công ty: Quy mô công ty, Khả năng sinh lời (ROA/ROE/ROS), Đòn bẩy tài chính, Ngành nghề kinh doanh, Vị trí địa lý, Vay vốn nước ngoài (biến mới).
- Nhóm cấu trúc sở hữu: Tỷ lệ sở hữu nhà nước, Tỷ lệ sở hữu nước ngoài, Tỷ lệ sở hữu tổ chức.
- Nhóm quản trị công ty: Hoạt động của bộ phận kiểm toán nội bộ (KTNB), Cấu trúc lãnh đạo kép (Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc), Đặc điểm của Tổng giám đốc (tuổi, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm).
Chương 3 cũng quy định rõ phương pháp chọn mẫu, quy trình thu thập dữ liệu từ BCTN, BC PTBV năm 2016 và quy trình xử lý dữ liệu trên phần mềm thống kê.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương 4 công bố toàn bộ kết quả thực nghiệm của luận án:
- Đo lường mức độ CBTT: Trình bày kết quả chấm điểm chỉ số CBTT phi tài chính theo quy định Việt Nam (phân loại theo 61 chỉ mục: thông tin chung, môi trường, xã hội, quản trị công ty, thông tin khác) và theo Hướng dẫn GRI4 (thông tin chung, kinh tế, môi trường, xã hội, quản trị công ty). Điểm số chỉ ra mức độ CBTT phi tài chính theo quy định Việt Nam có sự tuân thủ cao hơn ở nhóm thông tin chung và quản trị công ty, trong khi nhóm thông tin môi trường và xã hội còn hạn chế; mức độ CBTT theo GRI4 ở mức rất thấp, phản ánh sự thiếu hụt trong việc áp dụng chuẩn mực quốc tế.
- Kiểm định thống kê so sánh: Kết quả Paired Samples T-Test xác nhận có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa điểm số CBTT theo quy định Việt Nam và theo GRI4.
- Kiểm định mô hình kinh tế lượng: Kết quả kiểm định phân phối chuẩn phần dư (biểu đồ phân tán, biểu đồ tần suất P-P Plot), kiểm định phương sai sai số không đổi, kiểm định Durbin-Watson và kiểm định hệ số VIF (khẳng định không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng) cho cả Mô hình 1 và Mô hình 2.
- Kết quả hồi quy và bàn luận: Trình bày bảng tổng hợp hồi quy của Mô hình 1 và Mô hình 2, phân tích phương sai (ANOVA), xác định mức độ tác động và chiều hướng (dương/âm) của các biến độc lập thuộc ba nhóm nhân tố (đặc tính công ty, cấu trúc sở hữu, quản trị công ty) đối với mức độ CBTT theo quy định Việt Nam và theo GRI4. Bàn luận nguyên nhân kinh tế - xã hội dẫn đến sự khác biệt giữa hai mô hình.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Chương 5 đúc kết các phát hiện chính từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm năm 2016. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra hệ thống các hàm ý chính sách và giải pháp thực tiễn có tính ứng dụng:
- Hàm ý đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, UBCKNN): Đề xuất điều chỉnh, bổ sung các quy định cụ thể, chi tiết hóa hướng dẫn lập báo cáo môi trường - xã hội trong Thông tư 155/2015/TT-BTC; tăng cường cơ chế kiểm tra, giám sát tính tuân thủ và quy định chế tài xử phạt đối với các hành vi bỏ sót thông tin bắt buộc.
- Hàm ý quản trị đối với doanh nghiệp niêm yết: Khuyến nghị tái cấu trúc cơ trị công ty, tách biệt chức danh Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc, thiết lập và nâng cao vai trò của bộ phận kiểm toán nội bộ, chủ động tiếp cận các khung báo cáo phát triển bền vững quốc tế (GRI) nhằm nâng cao uy tín và khả năng tiếp cận dòng vốn ngoại (đặc biệt là các khoản vay vốn nước ngoài).
- Hàm ý đối với các tổ chức nghề nghiệp và đào tạo (VAA, VACPA, các trường đại học): Đẩy mạnh công tác phổ biến, đào tạo chuyên môn về lập và kiểm toán báo cáo phi tài chính, báo cáo tích hợp cho đội ngũ kế toán trưởng và kiểm toán viên.
Chương này cũng chỉ rõ các hạn chế của nghiên cứu và gợi mở các hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý thuyết
- Kiểm định và bổ sung phương pháp đo lường: Luận án đã kiểm định và hoàn thiện bộ chỉ số đo lường mức độ CBTT phi tài chính không trọng số áp dụng cho thị trường chứng khoán của một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, thiết lập hệ thống so sánh đối chiếu song song giữa quy định pháp lý quốc gia (Thông tư 155/2015/TT-BTC) và chuẩn mực quốc tế (GRI4).
- Bổ sung nhân tố nghiên cứu mới: Luận án đã khám phá, đưa vào kiểm định thực nghiệm thành công nhân tố mới là "Vay vốn nước ngoài" trong nhóm đặc tính công ty, mở rộng khung lý thuyết giải thích các động lực tác động đến hành vi minh bạch thông tin phi tài chính của doanh nghiệp tại các nền kinh tế mới nổi.
- Đo lường đa chiều các nhân tố tác động: Luận án đã đo lường và lượng hóa một cách toàn diện tác động của ba nhóm nhân tố (đặc tính công ty, cấu trúc sở hữu, quản trị công ty) đối với hai hệ quy chiếu CBTT khác nhau (bắt buộc theo luật định và tự nguyện theo chuẩn quốc tế).
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Phản ánh bức tranh thực trạng năm đầu thực thi Thông tư 155/2015/TT-BTC: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm toàn diện về mức độ tuân thủ nghĩa vụ CBTT phi tài chính (đặc biệt là thông tin môi trường, xã hội) của các DNNY tại Việt Nam trong niên độ 2016.
- Đánh giá khoảng cách với chuẩn mực quốc tế: Luận án chỉ ra khoảng cách rõ rệt giữa mức độ CBTT theo quy định Việt Nam và mức độ áp dụng theo Hướng dẫn GRI4, cung cấp bằng chứng thực nghiệm về mức độ hội nhập thông tin kế toán của các DNNY Việt Nam.
- Đề xuất hàm ý chính sách và quản trị:
- Cơ quan quản lý: Rà soát, hoàn thiện khung pháp lý về CBTT trên thị trường chứng khoán, xây dựng tiêu chuẩn định lượng cụ thể cho các chỉ tiêu phát triển bền vững.
- Doanh nghiệp: Hoàn thiện cơ chế quản trị công ty, nâng cao năng lực thu thập và công bố dữ liệu phi tài chính nhằm gia tăng giá trị doanh nghiệp và khả năng huy động vốn quốc tế.
- Tổ chức nghiên cứu và đào tạo: Cung cấp tài liệu tham khảo học thuật phục vụ giảng dạy, nghiên cứu chuyên sâu về kế toán phi tài chính tại các trường đại học và hội nghề nghiệp kiểm toán.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Giới hạn thời gian dữ liệu: Luận án chỉ khảo sát dữ liệu CBTT trong niên độ báo cáo năm 2016 — năm đầu tiên Thông tư 155/2015/TT-BTC có hiệu lực thi hành, do đó chưa phân tích được xu hướng biến động của mức độ CBTT qua chuỗi thời gian nhiều năm.
- Giới hạn về khía cạnh đo lường: Nghiên cứu chỉ tập trung đo lường số lượng (mức độ) thông tin phi tài chính được công bố thông qua phương pháp chỉ số có/không (0 và 1), chưa đánh giá được chất lượng, độ tin cậy và tính xác thực của nội dung thông tin được công bố.
- Giới hạn đối tượng khảo sát: Mẫu nghiên cứu loại trừ toàn bộ các doanh nghiệp thuộc khối ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, nên kết quả chưa phản ánh toàn diện toàn bộ các lĩnh vực trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu với chuỗi dữ liệu bảng (panel data) trong nhiều năm liên tục để đánh giá xu hướng thay đổi và tác động dài hạn của chính sách CBTT phi tài chính.
- Phát triển các kỹ thuật đo lường chất lượng CBTT phi tài chính (kết hợp phân tích nội dung chuyên sâu, thang đo thứ bậc có trọng số, hoặc phân tích định lượng ngữ nghĩa).
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang khối các định chế tài chính, ngân hàng và bảo hiểm với bộ tiêu chí đo lường chuyên biệt phù hợp với đặc thù ngành.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, HOSE, HNX): Là tài liệu tham khảo thực nghiệm phục vụ việc đánh giá hiệu lực thi hành của Thông tư 155/2015/TT-BTC, từ đó điều chỉnh các thông tư hướng dẫn tiếp theo, bổ sung các chế tài và tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm nâng cao tính minh bạch thông tin trên thị trường chứng khoán.
- Nhà quản trị doanh nghiệp niêm yết: Là tài liệu tham chiếu cấu trúc danh mục thông tin phi tài chính theo quy định Việt Nam và chuẩn GRI4, giúp doanh nghiệp hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán nội bộ, cải thiện cấu trúc quản trị công ty và nâng cao năng lực cạnh tranh trong thu hút vốn đầu tư.
- Các tổ chức nghề nghiệp (VAA, VACPA): Cung cấp tư liệu thực tế phục vụ công tác xây dựng chương trình cập nhật kiến thức, bồi dưỡng chuyên môn cho hội viên, kế toán trưởng và kiểm toán viên hành nghề về lập và kiểm toán báo cáo phát triển bền vững.
- Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán: Cung cấp khung lý thuyết hệ thống, quy trình nghiên cứu hỗn hợp kết hợp phỏng vấn chuyên gia với mô hình kinh tế lượng OLS, và phương pháp xây dựng chỉ số công bố không trọng số phục vụ các nghiên cứu tiếp nối.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng những hệ quy chiếu nào để đo lường mức độ công bố thông tin phi tài chính của các doanh nghiệp?
Luận án sử dụng đồng thời hai hệ quy chiếu để đo lường và so sánh:
- Hệ quy chiếu quy định pháp lý của Việt Nam: Được xây dựng dựa trên Thông tư 155/2015/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn CBTT trên thị trường chứng khoán (gồm 61 chỉ mục).
- Hệ quy chiếu chuẩn mực quốc tế: Hướng dẫn G4 của Tổ chức Sáng kiến Báo cáo Toàn cầu (GRI4) bao gồm các chỉ tiêu về thông tin chung, kinh tế, môi trường, xã hội và quản trị công ty.
2. Nhân tố mới nào được luận án phát hiện và đưa vào mô hình nghiên cứu thực nghiệm?
Luận án đã khám phá thông qua nghiên cứu định tính và đưa vào kiểm định thực nghiệm nhân tố mới là "Vay vốn nước ngoài" (thuộc nhóm đặc tính công ty) bên cạnh các nhân tố truyền thống đã được nghiên cứu trước đó.
3. Vì sao luận án loại trừ các doanh nghiệp ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm ra khỏi mẫu nghiên cứu?
Các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có đặc thù hoạt động kinh doanh riêng biệt và áp dụng hệ thống chuẩn mực, quy định CBTT phi tài chính chuyên ngành khác biệt với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thông thường, nên việc loại trừ nhằm đảm bảo tính đồng nhất của mẫu nghiên cứu và thang đo.
4. Những lý thuyết nền tảng nào được tác giả sử dụng để giải thích hành vi công bố thông tin phi tài chính?
Luận án vận dụng bốn lý thuyết nền tảng trong kế toán và tài chính: Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory), Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Information asymmetry theory), Lý thuyết đại diện (Agency theory), và Lý thuyết hợp pháp (Legitimacy theory).
5. Phương pháp nào được sử dụng để giải quyết hai mục tiêu nghiên cứu của đề tài?
- Để giải quyết Mục tiêu 1 (đo lường mức độ CBTT), luận án sử dụng phương pháp chỉ số công bố không trọng số kết hợp phương pháp thống kê mô tả.
- Để giải quyết Mục tiêu 2 (xác định và đo lường tác động của các nhân tố), luận án áp dụng phương pháp định tính (phỏng vấn chuyên gia) kết hợp phương pháp định lượng (mô hình hồi quy tuyến tính đa biến OLS và kiểm định Paired Samples T-Test).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Dương Hoàng Ngọc Khuê là công trình nghiên cứu học thuật hoàn chỉnh, phân tích thực nghiệm mức độ CBTT phi tài chính của các DNNY tại Việt Nam trong bối cảnh thực thi Thông tư 155/2015/TT-BTC đối chiếu với tiêu chuẩn quốc tế GRI4. Bằng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp phỏng vấn chuyên gia và kinh tế lượng OLS, luận án đã lượng hóa thực trạng công bố và kiểm định tác động của các nhóm nhân tố đặc tính công ty, cấu trúc sở hữu và quản trị công ty, trong đó có nhân tố mới vay vốn nước ngoài. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho việc hoàn thiện chính sách quản lý nhà nước cũng như nâng cao hiệu quả quản trị công ty trên thị trường chứng khoán Việt Nam.