Tổng quan về luận án

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và các cam kết phát triển bền vững toàn cầu, hệ thống thông tin kế toán hiện đại không còn đóng khung trong phạm vi các chỉ tiêu tài chính định lượng truyền thống. Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kế toán (Mã số: 9340301) của tác giả Dương Hoàng Ngọc Khuê, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Hà Xuân Thạch tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (UEH, 2019), mang tựa đề: "Đo lường mức độ công bố thông tin phi tài chính và các nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin phi tài chính của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam". Công trình đặt nền móng tiên phong trong việc tiếp cận có hệ thống bức tranh minh bạch thông tin ngoài tài chính tại một thị trường mới nổi.

Về bối cảnh khoa học, nghiên cứu xuất phát từ nhận định mang tính cốt lõi: "Thông tin phi tài chính ngày càng có vai trò quan trọng trong hệ thống thông tin kế toán, nó có tiềm năng để tăng giá trị đáng kể (Fraser, 2012)". Tuy nhiên, tại Việt Nam, sự phát triển kế toán chủ yếu tập trung vào kế toán tài chính; các thông tin phi tài chính trong thuyết minh báo cáo tài chính chỉ dừng lại ở tính chất hỗ trợ, giải thích con số chứ chưa đi sâu vào môi trường và xã hội. Khi Bộ Tài chính ban hành Thông tư 155/2015/TT-BTC áp dụng cho kỳ báo cáo năm 2016, việc công bố thông tin (CBTT) môi trường và xã hội chính thức trở thành bắt buộc đối với các doanh nghiệp niêm yết (DNNY). Dù vậy, thực tế ghi nhận "việc thực hiện thông tư 155/BTC có tính chất qua loa, không tuân thủ, bỏ một số chỉ mục vì thiếu thông tin tập hợp, xử lý và công bố".

Nghiên cứu giải quyết research gap then chốt: Sự thiếu vắng các nghiên cứu thực nghiệm toàn diện đo lường đồng thời mức độ CBTT phi tài chính bắt buộc theo khung pháp lý Việt Nam và mức độ CBTT tự nguyện chuẩn hóa theo hướng dẫn quốc tế G4 của Tổ chức Sáng kiến Toàn cầu (GRI4), cũng như sự khuyết thiếu việc kiểm định vai trò của các biến số thị trường đặc thù như đòn bẩy nợ ngoại tệ.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được thiết lập cụ thể:

  • Câu hỏi 1 (RQ1): Mức độ CBTT phi tài chính của các DNNY Việt Nam hiện nay theo quy định của Việt Nam (Thông tư 155/2015/TT-BTC) và theo chuẩn mực thế giới (GRI4) đạt mức độ nào?
  • Câu hỏi 2 (RQ2): Những nhân tố nào thuộc về đặc tính công ty, cấu trúc sở hữu và quản trị công ty tác động đến mức độ CBTT phi tài chính và chiều hướng tác động của từng nhân tố ra sao?

Tương ứng với các câu hỏi nghiên cứu, các giả thuyết kiểm định ($H_1$ đến $H_{12}$) được thiết lập dựa trên hệ thống lý thuyết đa tầng gồm: Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory), Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Information Asymmetry Theory), Lý thuyết đại diện (Agency Theory), Lý thuyết hợp pháp (Legitimacy Theory) và Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory). Phạm vi nghiên cứu bao quát các DNNY phi tài chính trên hai Sở Giao dịch Chứng khoán HOSE và HNX trong năm tài chính 2016, phân tích tập dữ liệu từ Báo cáo thường niên (BCTN) và Báo cáo Phát triển bền vững (BC PTBV).

Literature Review và Positioning

Tổng quan y văn quốc tế và trong nước về CBTT phi tài chính được luận án phân chia thành ba dòng nghiên cứu chính:

Dòng nghiên cứu thứ nhất tập trung vào CBTT phi tài chính bắt buộc. Trên bình diện quốc tế, Mobus (2005) nghiên cứu 17 công ty với 44 nhà máy lọc dầu tại Mỹ dưới góc độ Lý thuyết hợp pháp, ghi nhận mức độ CBTT môi trường bắt buộc trung bình đạt 32,58%. Levine và Smith (2011) khảo sát 25 chính sách kế toán bắt buộc tại Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC), cho thấy mức độ CBTT dao động lớn từ 0,85% đến 67,1%. Kaya (2016) phân tích đạo luật Grenelle II tại Pháp với 42 chỉ mục bắt buộc cho doanh nghiệp trên 500 lao động. Grewal và cộng sự (2015) khảo sát 1.249 doanh nghiệp tại Liên minh Châu Âu (EU), chỉ ra các ngành sản xuất có mức CBTT môi trường - xã hội - quản trị (ESG) đạt 33,39%, vượt trội so với các ngành phi sản xuất (21,24%). Ioannou và Serafeim (2014) khi so sánh Trung Quốc, Đan Mạch, Malaysia và Nam Phi đã chứng minh các quy định bắt buộc đóng vai trò đòn bẩy thúc đẩy doanh nghiệp gia tăng áp dụng chuẩn mực GRI. Tại Việt Nam, trước thời điểm nghiên cứu này, chưa có công trình nào đánh giá độc lập việc thực thi CBTT phi tài chính bắt buộc theo khung pháp lý Thông tư 155/2015/TT-BTC.

Dòng nghiên cứu thứ hai xem xét CBTT phi tài chính tự nguyện. Khan và cộng sự (2014) khảo sát các DNNY tại sàn Nam Thái Bình Dương (SPSE - Fiji) ghi nhận tỷ lệ công bố CSR rất thấp (chỉ 15%). Ghasempour và Yusof (2014) tại Iran và Mihajlov và Spasic (2016) tại Serbia ghi nhận mức CBTT tự nguyện trung bình đạt 48,41% (trong đó thông tin môi trường - xã hội chỉ đạt 29,59%). Rezaee và Tuo (2017) khảo sát 580 doanh nghiệp Mỹ ghi nhận tỷ lệ 51,34%. Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Tạ Quang Bình (2012, 2014) và Phạm Đức Hiếu cùng Đỗ Thị Hương Lan (2015) ghi nhận mức độ công bố tự nguyện còn khiêm tốn (dao động từ 32,16% đến 43,4%), trong đó mảng thông tin môi trường và trách nhiệm xã hội luôn xếp ở nhóm thấp nhất (chỉ đạt 18,77% đến 42,55%).

                           KHUNG PHÂN TÍCH TỔNG QUAN Y VĂN
[Dòng 1: CBTT Bắt buộc]      [Dòng 2: CBTT Tự nguyện]       [Dòng 3: Nhân tố tác động]
• Mobus (2005): 32,58%       • Khan et al. (2014): CSR 15%   • Quy mô công ty (+)
• Grewal et al. (2015): EU   • Mihajlov & Spasic (2016):     • Sở hữu nước ngoài (+)
• Kaya (2016): Grenelle II     48,41%                        • Đòn bẩy tài chính (+/-)
• Ioannou & Serafeim (2014)  • Rezaee & Tuo (2017): 51,34%   • Vay vốn ngoại (Research Gap)

Dòng nghiên cứu thứ ba phân tích các nhân tố tác động đến mức độ CBTT phi tài chính. Các học giả quốc tế như Meek và cộng sự (1995), Robb và cộng sự (2001), Skouloudis và cộng sự (2013), Behbahani và cộng sự (2013a, 2013b), Zare và cộng sự (2013), Szadziewska và cộng sự (2018) đã kiểm chứng vai trò của quy mô công ty, lợi nhuận, đòn bẩy tài chính, tính quốc tế hóa và cấu trúc kiểm toán.

Positioning của luận án: Luận án định vị tại điểm giao thoa giữa quá trình chuyển dịch thể chế tại thị trường cận biên và tiêu chuẩn kế toán bền vững quốc tế. Công trình vượt lên các nghiên cứu trước bằng cách thiết lập một ma trận so sánh trực tiếp song song (Paired benchmark) giữa chuẩn quốc gia (61 chỉ mục) và chuẩn quốc tế GRI4, đồng thời lấp đầy khoảng trống nghiên cứu khi lần đầu tiên đưa biến số Vay vốn nước ngoài vào mô hình thực nghiệm kế toán tại Việt Nam.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án củng cố và mở rộng phạm vi giải thích của hệ thống lý thuyết quản trị và kế toán tài chính trong bối cảnh các nền kinh tế chuyển đổi:

  • Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory - Freeman, 1984): Nghiên cứu chứng minh rằng doanh nghiệp không chỉ chịu trách nhiệm tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông mà còn phải giải trình minh bạch trước các bên liên quan về trách nhiệm sinh thái và cộng đồng.
  • Lý thuyết hợp pháp (Legitimacy Theory - Suchman, 1995; Deegan, 2002): Khẳng định hành vi CBTT phi tài chính là công cụ chiến lược giúp doanh nghiệp thiết lập "hợp đồng xã hội", duy trì tính chính danh khi chịu áp lực từ các quy định pháp lý mới.
  • Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Information Asymmetry Theory - Akerlof, 1970) và Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory - Spence, 1973; Ross, 1977): Minh chứng luận điểm rằng các doanh nghiệp có năng lực quản trị vượt trội và tiếp cận nguồn vốn quốc tế sẽ chủ động CBTT phi tài chính nhằm phát tín hiệu chất lượng cao, giảm thiểu chi phí đại diện và chi phí sử dụng vốn.
  • Lý thuyết đại diện (Agency Theory - Jensen & Meckling, 1976): Giải thích sự xung đột lợi ích giữa người quản lý và cổ đông/chủ nợ, khẳng định vai trò của kiểm soát nội bộ và kiểm toán độc lập trong việc giảm thiểu hành vi che giấu thông tin phi tài chính.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp đa tầng các lý thuyết nền nhằm giải thích cơ chế tương tác giữa ba nhóm nhân tố nội tại/bên ngoài với mức độ CBTT phi tài chính. Luận án khẳng định: "Thông tin tài chính được xem là nền tảng mà doanh nghiệp phải cung cấp cho thị trường, còn thông tin phi tài chính tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp với nhau."

                     KHUNG PHÂN TÍCH VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Mô hình nghiên cứu định lượng tổng quát được xác lập:

$$DISC_{i} = \beta_0 + \sum_{k=1}^{n} \beta_k \cdot X_{k,i} + \varepsilon_i$$

Trong đó, biến phụ thuộc $DISC_i$ được đo lường dưới 2 mô hình:

  1. $DISC_{VN}$: Chỉ số CBTT phi tài chính theo quy định Việt Nam (Thông tư 155/2015/TT-BTC và VAS).
  2. $DISC_{GRI4}$: Chỉ số CBTT phi tài chính theo hướng dẫn quốc tế GRI4.

Hệ thống các biến độc lập ($X_{k,i}$) bao gồm:

  • Nhóm Đặc tính công ty: Quy mô công ty ($SIZE$), Đòn bẩy tài chính ($LEV$), Khả năng sinh lời ($ROA$), Vị trí địa lý ($LOC$), Ngành nghề kinh doanh ($IND$), và biến khám phá mới: Vay vốn nước ngoài ($FOR_DEBT$).
  • Nhóm Cấu trúc sở hữu: Tỷ lệ sở hữu nhà nước ($STATE$), Tỷ lệ sở hữu nước ngoài ($FOR_OWN$), Tỷ lệ sở hữu tổ chức ($INST$).
  • Nhóm Quản trị công ty: Sự tồn tại của hoạt động kiểm toán nội bộ ($IAUD$), Cấu trúc lãnh đạo kép/kiêm nhiệm CEO - Chủ tịch ($DUAL$), Đặc điểm Tổng giám đốc (Tuổi $CEO_AGE$, Giới tính $CEO_GEN$, Trình độ $CEO_EDU$).

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng thế giới quan Thực chứng luận (Positivism Paradigm) kết hợp phương pháp nghiên cứu hỗn hợp tuần tự (Sequential Mixed-Methods Design):

  1. Giai đoạn định tính (Qualitative Phase): Sử dụng phương pháp chuyên gia thông qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm tập trung với các chuyên gia đầu ngành (đại diện cơ quan quản lý và giám sát CBTT thuộc UBCKNN, cơ quan soạn thảo chuẩn mực kế toán thuộc Bộ Tài chính, đại diện Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam - VACPA, Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam - VAA, các kiểm toán viên Big4, kế toán trưởng và các nhà nghiên cứu học thuật). Mục tiêu là hiệu chỉnh danh mục 61 chỉ mục CBTT phi tài chính theo quy định Việt Nam, đối chiếu danh mục GRI4 và xác định thang đo cho biến phát hiện mới: Vay vốn nước ngoài.
  2. Giai đoạn định lượng (Quantitative Phase): Sử dụng phương pháp phân tích nội dung (Content Analysis) kết hợp kỹ thuật xây dựng chỉ số công bố không trọng số (Unweighted Disclosure Index) để lượng hóa dữ liệu từ các BCTN và BC PTBV.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình chấm điểm mức độ công bố áp dụng phương pháp nhị phân (Dichotomous Approach):

$$DISC_i = \frac{\sum_{j=1}^{M} d_j}{M}$$

Trong đó: $d_j = 1$ nếu doanh nghiệp công bố chỉ mục thông tin thứ $j$, $d_j = 0$ nếu không công bố; $M$ là tổng số chỉ mục tối đa mà doanh nghiệp có thể công bố ($M = 61$ đối với quy định Việt Nam).

Bộ chỉ mục 61 điểm theo quy định Việt Nam được cấu trúc thành 5 phân nhóm rõ ràng:

  • Nhóm thông tin chung về công ty.
  • Nhóm thông tin môi trường (tiêu thụ năng lượng, nguồn nước, tuân thủ pháp luật bảo vệ môi trường, phát thải khí nhà kính).
  • Nhóm thông tin xã hội (chính sách lao động, an toàn - sức khỏe nghề nghiệp, đào tạo phát triển, trách nhiệm cộng đồng).
  • Nhóm thông tin quản trị công ty (cơ cấu HĐQT, thù lao, ban điều hành, đánh giá rủi ro).
  • Nhóm thông tin phi tài chính khác.

Quy trình kiểm soát chất lượng dữ liệu được thực hiện nghiêm ngặt: Kiểm tra độ tin cậy của thang đo, đối chiếu chéo kết quả chấm điểm giữa các chuyên gia độc lập nhằm triệt tiêu thiên kiến chủ quan, và thực hiện kiểm định cặp mẫu (Paired Samples T-Test) để so sánh mức độ sai biệt thống kê giữa điểm số chuẩn Việt Nam và chuẩn GRI4.

Data và phân tích

  • Mẫu nghiên cứu: Tổng thể bao gồm các DNNY trên hai sàn HOSE và HNX. Sau khi áp dụng các tiêu chí loại trừ nghiêm ngặt: (1) Loại bỏ các định chế tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, công ty chứng khoán do áp dụng khung CBTT đặc thù; (2) Loại bỏ các công ty niêm yết sau ngày 01/01/2016; (3) Loại bỏ các công ty có niên độ kế toán lệch (khác kỳ 01/01 - 31/12); mẫu nghiên cứu định lượng cuối cùng thu thập đầy đủ bộ dữ liệu BCTN và BC PTBV năm 2016.
  • Kỹ thuật xử lý kinh tế lượng: Phân tích hồi quy đa biến bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (Ordinary Least Squares - OLS) trên phần mềm SPSS.
  • Quy trình kiểm định khuyết tật mô hình:
    • Kiểm tra phân phối chuẩn của phần dư bằng biểu đồ tần số Histogram và biểu đồ phân phối xác suất chuẩn (Normal P-P Plot).
    • Kiểm tra hiện tượng phương sai của sai số thay đổi (Heteroscedasticity) bằng đồ thị phân tán giữa phần dư chuẩn hóa và giá trị dự đoán (Scatter Plot).
    • Kiểm định hiện tượng tự tương quan bằng hệ số Durbin - Watson ($1,5 < d < 2,5$).
    • Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến (Multicollinearity) thông qua hệ số phóng đại phương sai ($VIF < 2$), đảm bảo tính vững và không chệch của các ước lượng hệ số hồi quy.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Kết quả phân tích thống kê mô tả và ước lượng hồi quy thực nghiệm mang lại các phát hiện mang tính đột phá:

  1. Thực trạng khoảng cách công bố (The Disclosure Gap): Mức độ CBTT phi tài chính của các DNNY Việt Nam theo Thông tư 155/2015/TT-BTC đạt mức trung bình thấp, và giảm sâu khi đối sánh với tiêu chuẩn quốc tế GRI4. Kiểm định cặp mẫu (Paired Samples Test) cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức $p < 0,001$. Trong đó, thông tin về môi trường và xã hội có tần suất công bố thấp nhất, phản ánh thực trạng doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tập trung công bố các chỉ tiêu quản trị bắt buộc tối thiểu.
  2. Đóng góp phát hiện mới - Vai trò của Vay vốn nước ngoài ($FOR_DEBT$): Luận án chứng minh thực nghiệm rằng biến số vay vốn nước ngoài tác động dương có ý nghĩa thống kê ($p < 0,01$) đến mức độ CBTT phi tài chính ở cả hai mô hình. Các định chế tài chính quốc tế áp đặt các điều khoản giám sát môi trường và xã hội rất khắt khe, buộc doanh nghiệp đi vay phải gia tăng tính minh bạch ESG để duy trì hạn mức tín dụng.
  3. Quy mô công ty ($SIZE$) và Sở hữu nước ngoài ($FOR_OWN$): Tác động tích cực có ý nghĩa thống kê cao ($p < 0,001$ và $p < 0,01$), nhất quán với Lý thuyết chi phí đại diện và Lý thuyết hợp pháp. Các công ty lớn và có cổ đông ngoại đối mặt với sự giám sát công chúng lớn hơn nên chủ động giải trình thông tin phi tài chính.
  4. Kiểm toán nội bộ ($IAUD$) và Quản trị công ty: Sự tồn tại và vận hành của bộ phận Kiểm toán nội bộ tác động tích cực ($p < 0,05$) đến tính đầy đủ của thông tin phi tài chính, chứng minh vai trò kiểm soát chất lượng báo cáo độc lập với ban điều hành.
  5. Kết quả phi trực giác (Counter-intuitive Finding): Các chỉ số sinh lời truyền thống ($ROA$, $ROE$) không cho thấy mối liên hệ thuận chiều có ý nghĩa thống kê vững chắc với mức độ CBTT phi tài chính. Điều này chỉ ra rằng tại Việt Nam, động lực CBTT phi tài chính giai đoạn đầu không xuất phát từ hiệu quả kinh doanh vượt trội mà chịu sự chi phối chủ đạo bởi áp lực tuân thủ quy định pháp lý và cơ cấu vốn.

Implications đa chiều

  • Hàm ý lý thuyết: Mở rộng biên giới nghiên cứu kế toán tài chính bằng việc tích hợp thành công biến số tài trợ quốc tế (Foreign Debt Financing) vào khung phân tích Lý thuyết các bên liên quan và Lý thuyết tín hiệu tại các nền kinh tế đang phát triển.
  • Hàm ý thực tiễn cho doanh nghiệp: Doanh nghiệp cần nhận thức rõ việc thiết lập hệ thống thu thập, xử lý dữ liệu phi tài chính (đặc biệt là dữ liệu phát thải khí nhà kính, tiêu thụ năng lượng và an toàn lao động) không phải là gánh nặng chi phí tuân thủ mà là giải pháp chiến lược để thu hút dòng vốn đầu tư có trách nhiệm (Impact Investing) và tiếp cận các nguồn tín dụng xanh quốc tế.
  • Hàm ý chính sách cho cơ quan quản lý Nhà nước (Bộ Tài chính, UBCKNN):
    • Cần rà soát, bổ sung chế tài xử phạt hành chính đối với các trường hợp vi phạm nghĩa vụ báo cáo môi trường - xã hội theo Thông tư 155/2015/TT-BTC.
    • Ban hành sổ tay hướng dẫn kỹ thuật chi tiết (Technical Guidelines) về phương pháp đo lường các chỉ tiêu phát thải, tiêu chuẩn hóa mẫu biểu báo cáo nhằm thu hẹp khoảng cách với chuẩn mực quốc tế GRI Standards.
    • Phối hợp với các tổ chức nghề nghiệp (VAA, VACPA) tổ chức đào tạo chuyên sâu về lập Báo cáo tích hợp (Integrated Reporting) cho đội ngũ kế toán trưởng và giám đốc tài chính.

Limitations và Future Research

Luận án thừa nhận một số giới hạn học thuật khách quan:

  1. Giới hạn thời gian và không gian dữ liệu: Nghiên cứu chỉ tập trung vào dữ liệu cắt ngang (Cross-sectional data) của năm tài chính 2016 – năm bản lề đầu tiên triển khai Thông tư 155/2015/TT-BTC, chưa thể hiện được xu hướng biến động dài hạn.
  2. Giới hạn đo lường: Luận án tập trung đo lường số lượng (Quantity) thông qua chỉ số công bố không trọng số (nhị phân 0/1) mà chưa đánh giá sâu sắc chất lượng (Quality/Tone) và độ tin cậy thực chứng của thông tin phi tài chính (liệu có hiện tượng tẩy xanh - Greenwashing hay không).
  3. Phạm vi đối tượng: Loại trừ nhóm doanh nghiệp tài chính, ngân hàng, bảo hiểm vốn là nhóm có tác động gián tiếp rất lớn đến môi trường thông qua hoạt động cấp tín dụng.

Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):

  • Mở rộng tập dữ liệu bảng đa năm (Panel Data) từ 5 đến 10 năm để phân tích động thái thay đổi mức độ CBTT phi tài chính theo chu kỳ kinh tế.
  • Ứng dụng kỹ thuật phân tích xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) và Trí tuệ nhân tạo (AI) trong phân tích nội dung báo cáo thường niên để đo lường chiều sâu chất lượng và cảm xúc (Sentiment Analysis) của thông tin công bố.
  • Khảo sát nhóm doanh nghiệp ngành tài chính - ngân hàng và đo lường tác động của CBTT phi tài chính đến chi phí sử dụng vốn cổ phần (Cost of Equity Capital) và giá trị trị trường của doanh nghiệp (Tobin's Q).

Tác động và ảnh hưởng

  • Ảnh hưởng học thuật: Công trình đóng vai trò là tài liệu tham khảo nền tảng cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán và Tài chính tại Việt Nam khi tiếp cận chủ đề kế toán phát triển bền vững và ESG. Phương pháp luận xây dựng chỉ số công bố 61 điểm cung cấp một thước đo chuẩn hóa có thể tái lập trong các công trình kế thừa.
  • Chuyển đổi thực tiễn ngành: Tạo động lực cho các doanh nghiệp đầu ngành (như Vinamilk, Dược Hậu Giang, Imexpharm) nâng cấp hệ thống lập báo cáo phát triển bền vững đạt chuẩn GRI quốc tế, thúc đẩy văn hóa minh bạch doanh nghiệp.
  • Tác động chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học thực chứng phục vụ quá trình hoàn thiện khung pháp lý về CBTT trên thị trường chứng khoán Việt Nam của Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (tiền đề cho các văn bản thay thế sau này như Thông tư 96/2020/TT-BTC).

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giới học thuật: Tiếp cận khung lý thuyết tích hợp và bộ thang đo 61 chỉ mục chi tiết, mở ra hướng nghiên cứu mới về kế toán môi trường và trách nhiệm xã hội tại các thị trường mới nổi.
  • Doanh nghiệp niêm yết và Ban điều hành (C-level): Nhận diện các điểm nghẽn trong công tác báo cáo phi tài chính, tối ưu hóa cấu trúc quản trị công ty và bộ máy kiểm toán nội bộ nhằm đáp ứng kỳ vọng của các nhà đầu tư tổ chức quốc tế.
  • Cơ quan quản lý thị trường (UBCKNN, HoSE, HNX): Có cơ sở định lượng để đánh giá mức độ tuân thủ thực tế của doanh nghiệp, từ đó hoạch định chính sách thanh tra, giám sát và ban hành hướng dẫn kỹ thuật phù hợp.
  • Nhà đầu tư và Các tổ chức tài chính: Có thêm công cụ đánh giá rủi ro phi tài chính và rủi ro quản trị của doanh nghiệp mục tiêu bên cạnh các báo cáo tài chính truyền thống.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất là việc mở rộng Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory) và Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) thông qua việc phát hiện và kiểm định thành công vai trò của biến số Vay vốn nước ngoài đối với mức độ CBTT phi tài chính. Luận án chỉ ra rằng quan hệ ủy thác nợ xuyên biên giới tạo ra áp lực minh bạch hóa thông tin môi trường - xã hội mạnh mẽ không kém gì quan hệ sở hữu vốn cổ phần.

2. Đổi mới phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây thể hiện như thế nào? So với các nghiên cứu của Tạ Quang Bình (2014) hay Phạm Đức Hiếu và Đỗ Thị Hương Lan (2015), luận án đã thiết lập quy trình kiểm định đối sánh song song (Dual-benchmarking protocol): Vừa xây dựng bảng kiểm tra 61 chỉ mục chi tiết hóa Thông tư 155/2015/TT-BTC, vừa đối chiếu đồng thời với bộ chỉ số tiêu chuẩn quốc tế GRI4, thực hiện kiểm định cặp mẫu (Paired Samples T-Test) để chứng minh độ lệch chuẩn mực có ý nghĩa thống kê.

3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực nghiệm là gì? Phát hiện bất ngờ nhất là sự thiếu vắng mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa khả năng sinh lời truyền thống ($ROA$, $ROE$) với mức độ CBTT phi tài chính. Điều này đi ngược lại giả định phổ biến của Lý thuyết tín hiệu cho rằng doanh nghiệp có hiệu quả tài chính cao sẽ chủ động công bố nhiều thông tin phi tài chính hơn, chứng minh rằng tại Việt Nam, sự minh bạch ESG thời kỳ đầu thuần túy mang tính phản ứng tuân thủ pháp lý và chịu áp lực từ các chủ nợ/cổ đông nước ngoài.

4. Nghiên cứu có cung cấp giao thức tái lập (Replication Protocol) không? Có. Toàn bộ danh mục 61 chỉ mục theo quy định Việt Nam, bảng mã hóa tiêu chí GRI4, quy trình xử lý dữ liệu nhị phân, danh sách chuyên gia phỏng vấn định tính và hệ thống mô hình hồi quy kinh tế lượng đều được mô tả chi tiết, minh bạch trong luận án, cho phép các nhà nghiên cứu độc lập tái lập hoàn toàn nghiên cứu trên các tập dữ liệu thời gian khác nhau.

5. Định hướng chương trình nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo ra sao? Chương trình nghiên cứu dài hạn tập trung vào: (1) Đánh giá tác động nhân quả của việc áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) và Chuẩn mực Báo cáo Bền vững Quốc tế (ISSB - IFRS S1/S2) tại Việt Nam; (2) Đo lường mối quan hệ giữa chất lượng CBTT phi tài chính với chi phí vốn và giá trị doanh nghiệp trong bối cảnh cam kết phát thải ròng bằng 0 (Net Zero 2050).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Dương Hoàng Ngọc Khuê đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu đề ra với những đóng góp học thuật và thực tiễn vững chắc:

  1. Đo lường toàn diện thực trạng: Đã lượng hóa chính xác mức độ CBTT phi tài chính của các DNNY Việt Nam năm 2016 theo cả quy định quốc gia (Thông tư 155/2015/TT-BTC) và quốc tế (GRI4), chỉ rõ mức độ công bố còn thấp và tồn tại khoảng cách lớn giữa hai hệ tiêu chuẩn.
  2. Khám phá biến số mới: Bổ sung thành công nhân tố Vay vốn nước ngoài vào mô hình kinh tế lượng giải thích hành vi CBTT phi tài chính tại các thị trường mới nổi.
  3. Xác thực hệ thống nhân tố tác động: Khẳng định vai trò tích cực, có ý nghĩa thống kê của Quy mô doanh nghiệp, Tỷ lệ sở hữu nước ngoài và Hoạt động kiểm toán nội bộ đối với tính minh bạch thông tin ngoài tài chính.
  4. Đóng góp phương pháp luận: Chuẩn hóa quy trình chấm điểm chỉ số công bố không trọng số 61 chỉ mục, tạo tiền đề công cụ phương pháp cho các nghiên cứu kế toán bền vững tiếp theo.
  5. Định hình hàm ý quản trị và chính sách: Cung cấp hệ thống giải pháp khả thi giúp cơ quan quản lý hoàn thiện thể chế giám sát thị trường và hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực giải trình xã hội - môi trường, thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu.