Tổng quan luận án

Sự phát triển kinh tế và tiến bộ công nghệ trong những thập kỷ qua làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội tiêu cực như ô nhiễm môi trường, phát thải chất thải, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, rủi ro an toàn sản phẩm cũng như suy giảm điều kiện lao động. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu gia tăng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) trên quy mô toàn cầu và tại Việt Nam. Hoạt động công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSRD) trở thành chủ đề thu hút sự quan tâm học thuật dưới nhiều góc độ, trong đó có mối liên hệ với hệ thống quản trị công ty (QTCT).

Luận án chỉ ra khoảng trống nghiên cứu cơ bản: các công trình quốc tế chủ yếu xem xét tách rời giữa đặc điểm quản trị công ty hoặc chất lượng quản trị công ty đến mức độ công bố thông tin CSR, chưa có công trình kết hợp đồng thời cả hai khía cạnh này; phần lớn nghiên cứu trước đây chỉ tập trung vào thông tin tự nguyện mà chưa phân tích đầy đủ các nội dung công bố thông tin bắt buộc theo khung pháp lý từng quốc gia. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị công ty đến mức độ công bố thông tin CSR còn rất hạn chế. Các đề tài hiện có hoặc chỉ tiếp cận một vài đặc điểm quản trị riêng lẻ, hoặc nghiên cứu chất lượng quản trị mà chưa tích hợp; các nghiên cứu về CSR chủ yếu mang tính lý luận định tính, thiếu chứng minh thực nghiệm trên diện rộng hoặc chỉ tiếp cận đơn lẻ ở cấp độ từng doanh nghiệp với thông tin tự nguyện. Sự ra đời của Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán đã quy định các nội dung bắt buộc về môi trường và xã hội, đặt ra yêu cầu phải có một nghiên cứu hệ thống về cả thông tin bắt buộc lẫn thông tin tự nguyện.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định rõ:

  1. Đo lường thực trạng đặc điểm và chất lượng QTCT ở Việt Nam, đo lường thực trạng mức độ CBTT TNXH của các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam.
  2. Xác định sự ảnh hưởng của đặc điểm QTCT và chất lượng QTCT đến mức độ CBTT TNXH của các doanh nghiệp niêm yết.

Để thực hiện các mục tiêu trên, luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  • Thực trạng QTCT của các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam như thế nào?
  • Mức độ công bố thông tin CSR của các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam như thế nào đối với từng loại thông tin CSR?
  • Quản trị công ty ảnh hưởng như thế nào đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam?

Đối tượng nghiên cứu của luận án là quản trị công ty, công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và sự ảnh hưởng của QTCT đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Về không gian và thời gian: Khảo sát mẫu gồm 529 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (loại trừ các ngân hàng và tổ chức tài chính) trong năm tài chính 2017.
  • Về nội dung: Giới hạn xem xét sự ảnh hưởng của đặc điểm và chất lượng quản trị công ty đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân định theo các luồng nghiên cứu quốc tế và bối cảnh nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam.

Trên thế giới, các học giả đã tiếp cận mối quan hệ giữa QTCT và mức độ CBTT CSR qua các nhóm đặc điểm:

  • Mối liên hệ giữa quy mô HĐQT và công bố thông tin CSR: Cheng và Courtenay (2006), Prado-Lorenzo và Garcia-Sanchez (2010), Sánchez và cộng sự (2011), Ali và Atan (2013), Frias-Aceituno và cộng sự (2013), Majeed và cộng sự (2015), Rahman và Ismail (2016) ghi nhận tác động cùng chiều; Said và cộng sự (2009) chỉ ra tác động ngược chiều; Giannarakis (2014) không tìm thấy tác động.
  • Tính độc lập của HĐQT: Sánchez và cộng sự (2011), Khan và cộng sự (2012), Ali và Atan (2013), Frias-Aceituno và cộng sự (2013), Jizi và cộng sự (2014), Hong và cộng sự (2016) ghi nhận tác động tích cực; ngược lại, Chen và Jaggi (2000), Nasir và Abdullah (2004), Prado-Lorenzo và Garcia-Sanchez (2010), Esa và Anum Mohd Ghazali (2012), Majeed và cộng sự (2015) chỉ ra tương quan nghịch.
  • Sự kiêm nhiệm Chủ tịch HĐQT và Giám đốc điều hành: Tác động cùng chiều được ghi nhận bởi Haniffa và Cooke (2005), Barako và cộng sự (2006), Sánchez và cộng sự (2011), Jizi và cộng sự (2014), Habbash và Habbash (2016); tác động ngược chiều được phát hiện bởi Said và cộng sự (2009), Clemente và Labat (2009), Prado-Lorenzo và Garcia-Sanchez (2010), Razak và Mustapha (2013); trong khi Khan và cộng sự (2012), Ali và Atan (2013), Giannarakis (2014) không tìm thấy mối liên hệ.
  • Cơ cấu sở hữu và kiểm soát: Tác động của cổ đông lớn (Said và cộng sự, 2009; Wang và cộng sự, 2014; Ali và Atan, 2013), sở hữu nhà nước (Said và cộng sự, 2009; Khan và cộng sự, 2012; Sufian và Zahan, 2013), sở hữu nước ngoài (Haniffa và Cooke, 2005; Barako và cộng sự, 2006), sở hữu ban quản trị (Karamanou và Vafeas, 2005; Mohd Ghazali, 2007; Block và Wagner, 2010), và sự hiện diện của kiểm toán Big Four (Barako và cộng sự, 2006; Barakat và cộng sự, 2015).
  • Chất lượng quản trị công ty: Chan và cộng sự (2014) khảo sát 222 công ty niêm yết tại Australia, ghi nhận chất lượng QTCT tác động tích cực đến mức độ CBTT CSR.
  • Tiếp cận phân loại thông tin: Các tác giả như Juhmani (2013), Sweiti và Attayah (2013), Lan và cộng sự (2013) tập trung phần lớn vào công bố tự nguyện.

Tại Việt Nam:

  • Nghiên cứu QTCT: Lê Minh Toàn và Gordon Walker (2008), Nguyễn Trường Sơn (2010), Duc Vo và Thuy Phan (2013), Đoàn Ngọc Phúc và Lê Văn Thông (2014), Nguyễn Trọng Nguyên (2015) khảo sát một số đặc điểm cơ cấu; Hoàng Văn Hải (2016) nghiên cứu chất lượng QTCT.
  • Nghiên cứu CSR: Nguyễn Đình Cung và Lưu Minh Đức (2008), Phạm Văn Đức (2011), Lê Tuấn Bách (2015) phân tích ở khía cạnh lý luận chung; Hồ Thị Thiên Nga (2008), Nguyễn Tấn Vũ (2012), Phạm Thị Thanh Hương (2013) thực hiện nghiên cứu thực nghiệm ở phạm vi hẹp từng đơn vị đơn lẻ.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án định vị: Chưa có công trình nào tại Việt Nam tích hợp cả hai chiều kích đặc điểm QTCT và chất lượng QTCT để đánh giá mức độ ảnh hưởng đến CBTT CSR; đồng thời chưa có nghiên cứu kiểm chứng đồng thời cả khía cạnh thông tin bắt buộc theo Thông tư 155/2015/TT-BTC và thông tin tự nguyện theo chuẩn mực quốc tế GRI trên mẫu quan sát quy mô lớn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng hệ thống 6 lý thuyết nền tảng để giải thích động thái công bố thông tin và cơ chế quản trị:

  • Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory - Freeman, 1984; Carroll & Bucholtz, 2006): Doanh nghiệp duy trì hoạt động dựa trên việc đáp ứng kỳ vọng của các bên liên quan (cổ đông, chủ nợ, người lao động, khách hàng, cộng đồng); công bố thông tin CSR là phương thức phân bổ nguồn lực để quản lý các mối quan hệ này.
  • Lý thuyết đại diện (Agency Theory - Jensen & Meckling, 1976): Xuất phát từ sự bất đối xứng thông tin và xung đột lợi ích giữa chủ sở hữu (cổ đông) và người quản lý điều hành; việc giám sát và công bố thông tin giúp hạn chế hành vi trục lợi cá nhân của nhà quản lý.
  • Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory - Spence, 1973; Ross, 1977): Doanh nghiệp hoạt động tốt sử dụng thông tin tài chính và phi tài chính như tín hiệu gửi tới thị trường nhằm thu hút nhà đầu tư và giảm chi phí huy động vốn.
  • Lý thuyết tính hợp lý (Legitimacy Theory - Suchman, 1995; Sadia, 2015): Hoạt động của doanh nghiệp cần phù hợp với hệ thống chuẩn mực, giá trị xã hội; công bố thông tin môi trường và xã hội giúp tổ chức khẳng định tính chính đáng để tiếp tục tồn tại.
  • Lý thuyết chi phí sở hữu (Property Cost Theory - Verrecchia, 1983; Fadun và cộng sự, 2000): Việc công bố thông tin có thể làm phát sinh chi phí cạnh tranh hoặc sụt giảm dòng tiền ngắn hạn nhưng đem lại lợi thế duy trì vị thế thị trường dài hạn.
  • Lý thuyết chi phí chính trị (Political Economy Theory - Watts & Zimmerman, 1986): Doanh nghiệp công bố thông tin CSR nhằm giảm thiểu sự can thiệp, áp lực giám sát hoặc chi phí thanh tra, xử phạt từ các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng.

Về phương pháp đo lường:

  • Chất lượng quản trị công ty: Luận án phân tích ưu nhược điểm của các chỉ số quốc tế như ISS (Institutional Shareholders Services), G-Index và lựa chọn chỉ số Gov-Score do Brown và Caylor (2006) thiết lập gồm 51 chỉ mục chia thành 8 nhóm chỉ mục (Kiểm toán; HĐQT; Điều lệ công ty; Trình độ thành viên HĐQT; Thù lao; Sở hữu; Thực thi tiến bộ; Tình trạng sáp nhập), phù hợp với điều kiện thị trường tài chính Việt Nam (Hoàng Văn Hải & Trần Thị Hồng Liên, 2010, 2012).
  • Mức độ công bố thông tin CSR: Đánh giá dựa trên các khung hướng dẫn quốc tế (UNGC với 10 nguyên tắc; ISO 26000 với 6 nhóm chỉ mục; Sáng kiến báo cáo toàn cầu GRI gồm các nhóm chỉ mục Kinh tế, Môi trường, Xã hội) và quy định pháp lý Việt Nam tại Thông tư 155/2015/TT-BTC. Phương pháp phân tích nội dung (Content analysis) sử dụng bảng kiểm (checklist) được áp dụng để xác định các chỉ số: CSRD chung, CSRD bắt buộc (CSRD BB), CSRD tự nguyện (CSRD TN), CSRD theo GRI không có trọng số và CSRD theo GRI có trọng số.
Nhóm biến Mã biến Thước đo và nguồn tham khảo kỹ thuật
Đặc điểm HĐQT HĐQM, HĐĐL, HĐNg, HĐNu, HĐTu, HĐHo, HĐGĐ Số lượng thành viên; tỷ lệ thành viên độc lập; tỷ lệ người nước ngoài; tỷ lệ nữ; tuổi bình quân; số cuộc họp trong năm; biến giả kiêm nhiệm Chủ tịch và Giám đốc điều hành.
Đặc điểm BGĐ GĐQM, GĐĐL, GĐNg, GĐNu Quy mô BGĐ; tỷ lệ giám đốc độc lập; tỷ lệ giám đốc nước ngoài; tỷ lệ giám đốc nữ.
Đặc điểm Cổ đông CĐLo, CĐTC, CĐNN, CĐNg, CĐHĐ, CĐGĐ, CĐGĐi Tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn (từ 5%); cổ đông tổ chức; nhà nước; nước ngoài; sở hữu của HĐQT; sở hữu của BGĐ; sở hữu của gia đình.
Kiểm soát / Kiểm toán KSQM, KSHo, KTBF Số lượng thành viên BKS; số cuộc họp BKS trong năm; biến giả kiểm toán thuộc Big Four.
Chất lượng QTCT Gov-Score Điểm số đánh giá theo hệ thống 51 chỉ mục của Brown & Caylor (2006).
Biến kiểm soát TTS, ROA, ROE, Tuoi Tổng tài sản (hoặc Logarit TTS); tỷ suất sinh lời trên tài sản; tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu; đòn bẩy tài chính; số năm hoạt động.

Phương pháp nghiên cứu thực tế là sự kết hợp giữa định lượng và định tính:

  • Nghiên cứu tài liệu: Tổng hợp cơ sở lý thuyết, các mô hình thực nghiệm và quy định pháp lý.
  • Nghiên cứu định lượng: Mẫu nghiên cứu gồm 529 doanh nghiệp niêm yết năm 2017 (phân theo các nhóm ngành sản xuất, thương mại, dịch vụ). Sử dụng phân tích mô tả, kiểm định ANOVA, kiểm định Post-hoc, phân tích tương quan Pearson/Spearman, hồi quy nhị phân (binary logistic) và hồi quy bội nhằm đánh giá tác động của các biến độc lập đến mức độ CBTT CSR; kiểm tra các khuyết tật mô hình thông qua hệ số phóng đại phương sai VIF, đồ thị Histogram tần số phần dư chuẩn hóa, đồ thị P-P plot và biểu đồ phân tán Scatterplot.
  • Nghiên cứu định tính: Tiến hành phỏng vấn bán cấu trúc đối với 17 doanh nghiệp (04 phỏng vấn trực tiếp, 13 phỏng vấn qua điện thoại, có ghi âm theo đồng thuận) gồm lãnh đạo HĐQT, BGĐ, BKS, cổ đông hoặc người phụ trách CBTT, kết hợp phỏng vấn sâu 02 chuyên gia kiểm toán và kế toán nhằm giải thích cơ chế tác động và căn nguyên thực tế của các kết quả định lượng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản trị công ty và công bố thông tin CSR, được cấu trúc thành bốn nội dung trọng tâm:

  1. Quản trị công ty: Phân tích các khái niệm theo Cadbury (1992), Berle và Means (1933), Prowse (1998), Jill và Aris (2004), OECD (2004), Ngân hàng Thế giới (2006) và Nghị định số 71/2017/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam. Hệ thống hóa các đặc điểm cấu trúc quản trị (HĐQT, BGĐ, Cổ đông, Kiểm soát/Kiểm toán) và phương pháp đo lường chất lượng QTCT (ISS, G-Index, Gov-Score).
  2. Công bố thông tin trách nhiệm xã hội: Làm rõ định nghĩa CSR theo Hội đồng doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững (1998), Liên minh Châu Âu (2001), Diễn đàn kinh tế thế giới, White (2006); khái niệm CSRD theo Hackston và Milne (1996), Cormier và cộng sự (2006). Đánh giá ưu nhược điểm của các khuôn khổ báo cáo: UNGC (10 nguyên tắc), ISO 26000 (6 nội dung), GRI (GRI 1, 2, 3, 4) và Thông tư số 155/2015/TT-BTC. Tổng hợp các phương pháp đo lường chỉ số CSRD (Bảng 1.1) gồm chỉ số có sẵn (KLD, CSID, FAMA, Vigeo, Fortune), chỉ số đơn/đa vấn đề và phương pháp phân tích nội dung.
  3. Các lý thuyết giải thích: Trình bày chi tiết 6 lý thuyết nền tảng (Các bên liên quan, Đại diện, Tín hiệu, Tính hợp lý, Chi phí sở hữu, Chi phí chính trị).
  4. Mối quan hệ giữa QTCT và CBTT CSR: Tổng thuật các bằng chứng thực nghiệm về tác động của các biến đặc điểm (quy mô, tính độc lập, tỷ lệ nước ngoài, giới tính, số cuộc họp, sự kiêm nhiệm, cơ cấu cổ đông, ban kiểm soát, kiểm toán Big Four), tác động của chất lượng QTCT (Gov-Score) và vai trò của các biến kiểm soát cấp công ty (quy mô tài sản, khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, tuổi công ty).

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

Chương 2 xây dựng khung phân tích thực nghiệm và phương pháp thu thập, xử lý dữ liệu:

  • Khung nghiên cứu và hệ thống giả thuyết: Thiết lập mô hình tác động của các biến đặc điểm QTCT và mô hình tác động của chất lượng QTCT (Gov-Score) đến các chỉ số mức độ CBTT CSR (Bảng 2.1 tổng hợp các giả thuyết nghiên cứu).
  • Đo lường các biến nghiên cứu: Cụ thể hóa thước đo cho nhóm đặc điểm QTCT (Bảng 2.2), thước đo chất lượng QTCT (Bảng 2.3), các chỉ tiêu CSR phải công bố theo quy định bắt buộc và tự nguyện (Bảng 2.4 với các chỉ mục kinh tế, môi trường, xã hội), và các biến kiểm soát tài chính (Bảng 2.5: TTS, ROA, ROE, Tuoi).
  • Thu thập và xử lý mẫu: Mẫu dữ liệu thứ cấp gồm 529 doanh nghiệp niêm yết phi tài chính trên sàn chứng khoán Việt Nam trong năm 2017, được tổng hợp và phân loại cụ thể theo ngành kinh doanh (Bảng 2.6: Doanh nghiệp sản xuất - DNSX, Doanh nghiệp thương mại - DNTM, Doanh nghiệp dịch vụ - DNDV). Thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua phỏng vấn bán cấu trúc 17 đại diện doanh nghiệp và 02 chuyên gia kế toán - kiểm toán.
  • Quy trình phân tích dữ liệu: Ứng dụng thống kê mô tả, kiểm định ANOVA, kiểm định Post-hoc, phân tích tương quan và các mô hình hồi quy; kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến và tính chuẩn của phân phối phần dư.

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ CÔNG TY VÀ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM

Chương 3 trình bày các kết quả thống kê mô tả và kiểm định sai biệt thực trạng QTCT và CBTT CSR của 529 doanh nghiệp trong năm 2017:

  • Thực trạng đặc điểm QTCT:
    • Hội đồng quản trị: Số lượng thành viên HĐQT trung bình, tỷ lệ thành viên độc lập, tỷ lệ thành viên nước ngoài, tỷ lệ thành viên nữ, tình trạng Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành (thể hiện qua các Bảng 3.1 đến 3.7; kết quả kiểm định ANOVA và Post-hoc cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm ngành).
    • Ban giám đốc: Quy mô BGĐ, tỷ lệ giám đốc độc lập, giám đốc nước ngoài và giám đốc nữ (Bảng 3.8, 3.9, 3.10).
    • Cơ cấu cổ đông: Tỷ lệ nắm giữ của cổ đông lớn, cổ đông tổ chức, cổ đông nhà nước, cổ đông nước ngoài, sở hữu ban quản trị và cổ đông gia đình (Bảng 3.11, 3.12).
    • Kiểm soát/kiểm toán: Quy mô BKS, tần suất họp BKS và tỷ lệ thuê kiểm toán Big Four (Bảng 3.13, 3.14, 3.15).
    • Chất lượng QTCT: Phân tích thực trạng điểm số Gov-Score bình quân của các doanh nghiệp niêm yết, chỉ ra sự chênh lệch chất lượng quản trị giữa các khối ngành (Bảng 3.16, 3.17).
  • Thực trạng mức độ CBTT CSR:
    • Đánh giá tổng quát mức độ công bố thông tin CSR chung, sự khác biệt giữa các nhóm ngành thông qua kiểm định ANOVA và Post-hoc (Bảng 3.18, 3.19).
    • Thực trạng tuân thủ CBTT bắt buộc theo Thông tư 155/2015/TT-BTC: Thống kê tỷ lệ và số lượng doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ báo cáo tác động môi trường, lao động, cộng đồng (Bảng 3.20, Hình 3.1).
    • Thực trạng CBTT tự nguyện theo chuẩn GRI: So sánh tỷ lệ công bố thông tin không trọng số và có trọng số; chi tiết hóa mức độ công bố theo từng nhóm chỉ mục: nhóm chỉ mục kinh tế (Bảng 3.21, 3.22; Hình 3.2), nhóm chỉ mục môi trường (Bảng 3.23, 3.25; Hình 3.3) và nhóm chỉ mục xã hội (Bảng 3.25, 3.26; Hình 3.4).

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM

Chương 4 kiểm định các mô hình kinh tế lượng kết hợp phân tích định tính:

  • Ảnh hưởng của đặc điểm QTCT đến CBTT CSR:
    • Kết quả phân tích tương quan và hồi quy đa biến (Bảng 4.1, 4.2; Bảng 4.3 kiểm tra độ phù hợp mô hình, Bảng 4.4 phân tích ANOVA, Bảng 4.5 kiểm tra đa cộng tuyến với hệ số VIF).
    • Kiểm định phân phối phần dư thông qua Đồ thị Histogram tần số chuẩn hóa (Hình 4.1), Đồ thị P-P plot (Hình 4.2) và Đồ thị phân tán Scatterplot (Hình 4.3).
    • Tổng hợp kết quả định lượng về ảnh hưởng của từng đặc điểm HĐQT, BGĐ, Cổ đông, BKS/Kiểm toán đến mức độ CBTT CSR (Bảng 4.7, 4.8).
    • Kết quả phân tích định tính: Sử dụng biên bản phỏng vấn 17 doanh nghiệp và 02 chuyên gia kiểm toán - kế toán để lý giải các mối quan hệ ngược chiều hoặc không có ý nghĩa thống kê xuất phát từ đặc thù thị trường mới nổi tại Việt Nam.
  • Ảnh hưởng của chất lượng QTCT (Gov-Score) đến CBTT CSR:
    • Phân tích tương quan và ước lượng mô hình hồi quy (Bảng 4.9, 4.10, 4.11; kiểm định độ phù hợp Bảng 4.12, phân tích ANOVA Bảng 4.13, kiểm tra VIF Bảng 4.14).
    • Đánh giá phần dư mô hình chất lượng quản trị qua Histogram (Hình 4.4), P-P plot (Hình 4.5) và Scatterplot (Hình 4.6); tổng hợp kết quả phân tích (Bảng 4.15).
  • Phân tích mở rộng theo loại hình doanh nghiệp:
    • Đánh giá sự khác biệt về mức độ ảnh hưởng của đặc điểm QTCT đến CBTT CSR theo từng phân nhóm: doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp thương mại, doanh nghiệp dịch vụ (Bảng 4.16).
    • Đánh giá sự khác biệt về mức độ tác động của chất lượng QTCT (Gov-Score) đến CBTT CSR theo từng phân nhóm doanh nghiệp (Bảng 4.17).

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

Chương 5 đúc kết toàn bộ công trình và đề xuất các khuyến nghị thực thi:

  • Tổng hợp toàn diện các kết quả nghiên cứu (Bảng 5.1): Khái quát bức tranh thực trạng QTCT, thực trạng mức độ CBTT CSR (chung, bắt buộc, tự nguyện, theo GRI) và tác động của các nhân tố quản trị.
  • Hàm ý chính sách:
    • Về quản trị công ty: Kiến nghị nâng cao vai trò của thành viên độc lập, hoàn thiện cơ chế phân tách giữa quản trị và điều hành, kiện toàn ban kiểm soát.
    • Về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Nâng cao nhận thức về lập báo cáo phát triển bền vững gắn với chiến lược kinh doanh.
    • Đối với nhà đầu tư: Sử dụng thông tin quản trị và CSR làm căn cứ phân tích rủi ro phi tài chính trước khi ra quyết định phân bổ vốn.
    • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, UBCKNN): Đẩy mạnh cơ chế giám sát thực thi nghĩa vụ công bố thông tin bắt buộc theo Thông tư 155/2015/TT-BTC, xây dựng lộ trình áp dụng các chuẩn mực công bố quốc tế.
  • Hạn chế của đề tài và định hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Về phương diện lý thuyết:

  • Hệ thống hóa các lý thuyết nền tảng (Các bên liên quan, Đại diện, Tín hiệu, Tính hợp lý, Chi phí sở hữu, Chi phí chính trị) trong giải thích mối quan hệ giữa hệ thống quản trị công ty và hành vi công bố thông tin trách nhiệm xã hội trong bối cảnh thị trường mới nổi.
  • Thiết lập khung phân tích tích hợp đồng thời cả hai khía cạnh: hệ thống các đặc điểm QTCT (thuộc HĐQT, BGĐ, Cổ đông, Kiểm soát/kiểm toán) và chất lượng QTCT (thông qua chỉ số Gov-Score gồm 51 chỉ mục), kiểm định trên các khía cạnh thông tin CSR khác nhau (bắt buộc, tự nguyện, các chỉ mục kinh tế - môi trường - xã hội theo GRI).
  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm bổ sung vào kho tàng nghiên cứu quốc tế: xác nhận một số mối quan hệ tương đồng với các thị trường phát triển, đồng thời chỉ ra những điểm dị biệt do tác động của đặc thù thể chế kinh tế tại Việt Nam.

Về phương diện thực tiễn:

  • Phản ánh bức tranh thực trạng về quản trị công ty và mức độ tuân thủ nghĩa vụ công bố thông tin bắt buộc theo Thông tư số 155/2015/TT-BTC cũng như công bố tự nguyện theo chuẩn GRI của 529 doanh nghiệp niêm yết phi tài chính năm 2017.
  • Kết hợp nghiên cứu định lượng quy mô lớn với phương pháp phỏng vấn định tính chuyên sâu (17 doanh nghiệp và 02 chuyên gia kiểm toán - kế toán), giúp làm rõ động cơ, rào cản và cơ chế thực thi công bố thông tin CSR tại doanh nghiệp.
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm hỗ trợ các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán đánh giá chất lượng quản trị và mức độ minh bạch của doanh nghiệp; đồng thời cung cấp luận cứ khoa học để Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và Bộ Tài chính hoàn thiện khung khổ pháp lý, tăng cường cơ chế giám sát việc thực thi quy định công bố thông tin trên thị trường chứng khoán.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Mẫu khảo sát dữ liệu thứ cấp được thu thập trong phạm vi năm tài chính 2017, mang tính chất nghiên cứu cắt ngang (cross-sectional), chưa theo dõi biến động theo chuỗi thời gian dài.
  • Phạm vi nghiên cứu loại trừ các định chế tài chính, ngân hàng, bảo hiểm và công ty chứng khoán do tính chất đặc thù trong quy định lập báo cáo tài chính và cơ chế quản trị.
  • Nghiên cứu định tính gặp trở ngại trong tiếp cận thực tế, chỉ có 17 doanh nghiệp chấp thuận tham gia phỏng vấn (trong đó 13 cuộc phỏng vấn thực hiện qua điện thoại), gây giới hạn nhất định về độ sâu thông tin tại một số phân nhóm ngành.
  • Nguồn dữ liệu đánh giá chỉ số CSRD chủ yếu dựa trên báo cáo thường niên công khai của doanh nghiệp, có khả năng phản ánh thiên lệch thông tin tích cực so với thực tế phát sinh tại cơ sở.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu theo dữ liệu bảng (panel data) qua nhiều năm liên tục để đánh giá sự thay đổi của mức độ CBTT CSR theo thời gian và sự hoàn thiện của thể chế.
  • Mở rộng đối tượng nghiên cứu sang nhóm ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng và các doanh nghiệp đại chúng quy mô lớn chưa niêm yết.
  • Kết hợp thêm các phương pháp đo lường CSR độc lập bên ngoài doanh nghiệp để gia tăng tính khách quan của dữ liệu.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh và học viên sau đại học: Cung cấp tài liệu tham khảo giá trị tại Chương 1 và Chương 2 về phương pháp xây dựng chỉ số Gov-Score (51 chỉ mục), phương pháp phân tích nội dung (Content analysis) lập bảng kiểm CSRD theo chuẩn GRI và Thông tư 155/2015/TT-BTC, cũng như cách thức phối hợp nghiên cứu hỗn hợp định lượng - định tính.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu: Nguồn tư liệu hệ thống hóa 6 lý thuyết giải thích hành vi công bố thông tin và tổng quan các công trình thực nghiệm quốc tế và trong nước về quản trị công ty.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, UBCKNN): Bằng chứng thực nghiệm tại Chương 3 và Chương 4 về tỷ lệ tuân thủ Thông tư 155/2015/TT-BTC cung cấp căn cứ trực tiếp để điều chỉnh, bổ sung chế tài giám sát công bố thông tin bền vững.
  • Nhà đầu tư và tổ chức tư vấn tài chính: Cung cấp khung đánh giá rủi ro phi tài chính và chất lượng quản trị doanh nghiệp phục vụ chiến lược đầu tư trách nhiệm xã hội.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát mẫu nghiên cứu gồm bao nhiêu doanh nghiệp và trong giai đoạn nào? Mẫu nghiên cứu định lượng của luận án gồm 529 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm tài chính 2017, không bao gồm các ngân hàng và tổ chức tài chính. Nghiên cứu định tính được tiến hành phỏng vấn trên 17 doanh nghiệp và 02 chuyên gia kiểm toán, kế toán.

2. Tác giả sử dụng các khung chuẩn nào để đo lường mức độ công bố thông tin CSR? Tác giả dựa trên hai hệ thống chuẩn mực chính: các chỉ mục môi trường và xã hội bắt buộc theo quy định tại Thông tư số 155/2015/TT-BTC ngày 06/10/2015 của Bộ Tài chính, và các chỉ mục công bố thông tin tự nguyện theo tiêu chuẩn của Sáng kiến Báo cáo Toàn cầu (GRI) gồm 3 nhóm chỉ mục kinh tế, môi trường và xã hội (được tính toán dưới hai dạng: không có trọng số và có trọng số).

3. Thước đo nào được tác giả lựa chọn để đo lường chất lượng quản trị công ty? Tác giả sử dụng chỉ số Gov-Score do Brown và Caylor (2006) đề xuất (được kiểm chứng khả dụng tại Việt Nam bởi Hoàng Văn Hải và Trần Thị Hồng Liên), bao gồm 51 chỉ mục chia thành 08 nhóm: Kiểm toán, HĐQT, Điều lệ công ty, Trình độ thành viên HĐQT, Thù lao cho thành viên HĐQT, Sở hữu của HĐQT, Những thực thi tiến bộ và Tình trạng sáp nhập.

4. Vì sao nghiên cứu loại trừ các ngân hàng và tổ chức tài chính khỏi mẫu khảo sát? Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán có đặc thù riêng biệt về cơ cấu tổ chức quản trị, chuẩn mực báo cáo tài chính và không chịu sự điều chỉnh của một số quy định bắt buộc về báo cáo tác động môi trường trực tiếp theo Thông tư số 155/2015/TT-BTC. Do đó, việc loại trừ nhóm này đảm bảo tính đồng nhất của mẫu nghiên cứu 529 doanh nghiệp phi tài chính.

Kết luận

Luận án tiến sĩ đã giải quyết đồng thời hai mục tiêu nghiên cứu thông qua việc đo lường thực trạng và kiểm định ảnh hưởng của đặc điểm cũng như chất lượng quản trị công ty đến mức độ công bố thông tin trách nhiệm xã hội của 529 doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam năm 2017. Bằng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích kinh tế lượng và phỏng vấn định tính chuyên sâu, công trình làm rõ mức độ tuân thủ công bố thông tin bắt buộc theo Thông tư 155/2015/TT-BTC và công bố tự nguyện theo chuẩn mực GRI. Các phát hiện của luận án cung cấp căn cứ khoa học cho các cơ quan quản lý trong việc hoàn thiện thể chế giám sát thị trường, đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp nâng cao chất lượng quản trị và mức độ minh bạch thông tin phát triển bền vững.