Chương 1: Mối quan hệ giữa các yếu tố trong quản trị doanh nghiệp và hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Chương 2: Phương pháp luận và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu. 10 CHUONG 1: MOI QUAN HỆ GIỮA CÁC YEU TO TRONG QUAN TRI DOANH NGHIEP VA HIEU QUA KINH DOANH CUA CAC NHTM 1.
Khai quát về hiệu quả kinh doanh của các NHTM 1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh Đánh giá hiệu quả kinh doanh của một ngân hàng cũng giống như đối với một doanh nghiệp thông thường. Sau đây là một số quan điểm về hiệu quả: Theo định nghĩa trong “Từ điển Toán kinh tế, Thống kê, kinh tế lượng Anh — Việt”, trang 255, “Efficiency - Hiệu quả” xét theo khía cạnh kinh tế là “mối tương quan giữa đầu vào các yếu tố khan hiếm với đầu ra hàng hoá và dịch vụ” “Khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối như thế nào” ( PGS.TS Nguyễn Khắc Minh, 2004). Theo Lê Văn Tư, ( 2005), “Hiệu quả theo ý nghĩa chung nhất là các lợi ích kinh tế, xã hội đạt được do quá trình hoạt động kinh doanh mang lại.
Hiệu quả kinh doanh bao gồm hai mặt là hiệu quả kinh tế (phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tai, vật lực của doanh nghiệp hoặc của xã hội dé mang lại hiệu qua cao nhất với chi phi thấp nhất) và hiệu qua xã hội (phản ánh những lợi ich về mặt xã hội đạt được trong quá trình hoạt động kinh doanh), trong đó hiệu quả kinh tế có ý nghĩa quyết định” Tóm lại, hai quan điểm trên, xét trên góc độ của NHTM: “Hiệu quả kinh doanh kinh doanh cua các NHTM là một phạm trù kinh té phan ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đã có dé đạt kết quả cao nhất với tong chỉ phí thấp nhất. ” Hiệu quả kinh doanh = Kết qua thu được — Chỉ phí bỏ ra Ngân hàng có hiệu quả kinh doanh cao sẽ phát triển vững mạng và có được uy tín trên thị trường, có được lọng tin từ phía khách hàng và dễ dành trong việc huy động vốn. Hiệu quả kinh doanh càng cao, ngân hàng càng thu hút được nhiều khách hàng và mở rộng quy mô, cải thiện chất lượng dịch vụ. Do đó, hiệu quả kinh doanh kinh doanh là mục tiêu quan trọng được các NHTM đặt lên hàng dau, là yếu t6 quyết định sự tồn tại và phát triển của các NHTM trong một nền kinh tế thị trường day tính cạnh tranh.
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh kinh doanh của NHTM Để nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng đòi hỏi phải xác định được các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh của các NHTM nhằm xác định được nguyên nhân chính làm suy giảm hiệu quả kinh doanh kinh doanh và tìm ra 11 được cách thức cải thiện. Chính điều này tạo cơ sở cho các NHTM đây mạnh, phát triển những lợi thế, đồng thời hạn chế, phòng ngừa rủi ro có thể xảy ra. Có ba tiêu chí thường được sử dụng dé đo lường hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp gồm: hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh doanh và hiệu quả tông hợp. + Hiệu quả tài chính được tính toán dựa theo hai phương pháp tiếp cận: tiếp cận thị trường (thường sử dụng tỷ suất lợi nhuận/vốn đầu tư vào cổ phiếu của ngân hàng), tiếp cận dựa vào thông tin do ngân hàng cung cấp mà chủ yếu từ báo cáo tài chính (thường sử dụng ROE và ROA) + Hiệu qua kinh doanh được do lường bởi thị phan, tần suất giới thiệu sản phâm công nghệ mới, chất lượng phục vụ khách hàng, năng suất làm việc, mức độ hải lòng của khách hàng,.
+ Hiệu quả tổng hợp thường bao gồm: uy tin, năng lực cạnh tranh, mức độ hoan thành mục tiêu đề ra,. Tuy nhiên, xét trên phương diện của các NHTM, hiệu quả kinh doanh được tập trung vào tiêu chí khả năng sinh lời. Vì vậy, trong chuyên đề tác giả chỉ đề cập đến một số chỉ tiêu hiệu quả tài chính về tỷ suất sinh lời như: tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) dé đánh giá hiệu quả kinh doanh kinh doanh của các NHTM như sau: 1. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) “Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) được sử dụng dé đo lường hiệu quả tài chính liên quan đến công ty công bằng.
Nó thể hiện mức độ lợi nhuận mà công ty tạo ra dựa trên vốn chủ sở hữu” (Investopedia. Một ngân hàng có mức sinh lời trên vô chủ sở hữu cao so với mặt bằng chung của ngành sẽ là ưu thé cạnh tranh trên thị trường trong việc huy động vốn và xây dựng uy tin và là thúc đây sự phát triển của ngân hang. ROE cho biết mức lợi nhuận thu được là bao nhiêu trên một đồng vốn chủ sở hữu, điều này đặc biệt quan trong với các cô đông. ROE càng lớn cho thấy hiệu quả kinh doanh trên vốn cô phan của ngân hàng tốt.
ROE được đo bang tỉ lệ giữa lợi nhuận ròng và vốn tự có bình quân. Lợi nhuận ròng ROE = ooo Vốn chủ sở hữu( Vốn tự có bình quân) 1. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) “Lợi nhuận trên tai san (ROA) phản anh mức độ lợi nhuận của công ty có liên quan đến tong tài sản của công ty. ROA cung cấp cho người quản lý, nhà đầu tư hoặc nhà phân tích ý tưởng về việc công ty quản lý sử dụng hiệu quả như thế 12 nào khi sử dụng tài sản của mình để tạo thu nhập trên truyền hình” (Investopedia.
Lợi nhuận ròng ROA = ma mon Tong tài san(Tai sản có bình quan) ROA cho biết có bao nhiêu lợi nhuận được sinh ra từ một đơn vị tải sản có. phản ánh hiệu quả kinh doanh trên một đơn vị tài sản có của ngân hàng, ROA còn phan ánh hiệu quả việc sử dụng các nguồn lực nói chung và nguồn lực tài chính nói riêng. ROA thương được dùng để so sánh giữa các ngân hàng với nhau. Ngân hàng có ROA thấp cho thấy một chính sách đầu tư hoặc cho vay không linh hoạt hoặc việc sử dụng chi phi không hiệu quả.
Ngược lai,mot tỉ lệ ROA thể hiện một cơ cấu tài sản và tận dụng chi phí một cách hợp lý đem lại hiệu quả kinh doanh cao. Do vậy ROA còn cho thấy khả năng thích ứng của nhà quản trị ngân hàng trước những biến đối của một nên kinh tế đầy biến động. Dé tăng ROA, các ngân hàng phải tìm cách gia tăng các khoản mục tài sản có sinh lời. Trong các khoản mục của tổng tài sản thì cho vay là khoản đem lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hang.
Dé tối đa hóa lợi nhuận, ngân hàng gia tăng các khoản đầu tư tín dụng, tuy nhiên đây là khoản mục chứa đựng rủi ro nhất. Như vậy, mức ROA quá lớn có thể báo hiệu những rủi ro lớn đến từ những hoạt động đầu tư quá mạo hiểm hay dự trữ ở dưới mức an toàn. Khái quát về quan trị doanh nghiệp. Khái niệm về quản trị doanh nghiệp.
Về cơ bản NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh “tiền” và các dịch vụ tài chính. Vi vậy, việc quan tri ngân hang cũng tương tự như quan tri một công ty nói chung. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về quản trị doanh nghiệp: Quản trị doanh nghiệp được mô ta là "cách thức thực thi quyền lực đối với các tô chức doanh nghiệp "(Tricker, 2015). Điều này bao gồm tất cả các hoạt động của HĐQT của công ty và các bên liên quan.
Cần phân biệt giữa quản trị doanh nghiệp và quản lý kinh doanh. Theo Ashe-Edmunds (2018), nhiệm vụ chính của quản lý là tìm cách phát triển các công ty trong khi cơ chế quản trị có gắng bảo vệ nó. Cơ chế quản trị xây dựng chính sách và thủ tục dé đảm bảo hoạt động kinh doanh tuân thủ luật pháp và không có xung đột lợi ích giữa các bên liên quan. 13 AsheEdmunds (2018) cũng tuyên bố rang các chính sách quản trị chủ yếu liên quan đến "các hoạt động tài chính, thiết lập phương thức và ký kết hợp đồng, các nghiệp vụ kế toán và giải ngân lợi nhuận.
" Bởi vì thông tin kế toán tài chính phản ánh hiệu quả kinh doanh của công ty, quản trị doanh nghiệp có tác động rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của công ty. Một cơ chế quản trị doanh nghiệp tốt có thé dẫn đến sự thành công cho doanh nghiệp, doanh nghiệp không thé hoạt động hiệu quả khi có một hé thống quản trị yếu kém. Rõ ràng là quản trị doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong các doanh nghiệp trên toàn thế giới. Theo Asheredmunds(2018) nội dung chính của quản trị doanh nghiệp bao gồm: Thứ nhất, “các thành viên HĐQT của công ty đều phải là những nhân vật độc lập để kiêm soát và kiềm chế quyền lực của Ban Giám đốc, đồng thời bảo vệ quyền lợi của các cổ đông.” Thứ hai, “sử dụng và tín nhiệm các kế toán viên, các công ty kiểm toán dé lập và đệ trình báo cáo tài chính có tính xác thực nhằm giúp cô đông có thông tin đầy đủ, xác thực khi đầu tư vào công ty.” Thứ ba, “luôn sử dụng các nhà phân tích tài chính để xem xét, phân tích các triển vọng kinh doanh va mức độ lành mạnh về tài chính của các công ty đang và sẽ phát hành chứng khoán ra công chúng nhằm cung cấp đầy đủ thông tin cho công chúng muốn đầu tư.” Dựa vào các nội dung chính trong quản tri doanh nghiệp nêu trên, tác gia tập trung đánh giá mối quan hệ của hiệu quả kinh doanh với một số yếu tô sau: Quy mô HĐQT, mức độ độc lập của HĐQT, vai trò CEO kép và mức độ rủi ro vốn.
Mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1. Quy mô của Hội đồng quản trị và hiệu quả kinh doanh. Những khăng định lý thuyết đã được kiểm định về mặt thực nghiệm và một mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô hội đồng quản trị và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được trình bày bởi các nghiên cứu sau: Yermarck (1996) tiến hành nghiên cứu của mình trên 452 công ty công nghiệp Hoa Kỳ giữa năm 1984 và năm 1991, nhất quán phát hiện ra một mối quan hệ nghịch biến giữa quy mô HDQT và gia trị doanh nghiệp khi thực hiện hồi qui bằng cách sử dụng nhiều mô hình như: , tác động ngẫu nhiên ,ước lượng OLS, tác động cố định.