chương 1 Chương này tập trung trình bày năm nội dung chính, gồm khái quát các vấn đề liên quan gồm thứ nhất là tính cấp thiết của đề tài, đối tượng phạm vi nghiên cứu phương pháp nghiên cứu, bố cục luận văn. Bài viết tiếp cận theo hướng từ vai trò quan trọng của việc nhận định các yếu tố, xác định chiều hướng tác động của các yếu tố này đến KNSL của các NHTMVN. Chương 2 tiếp theo sẽ trình bày tổng quan về các lý thuyết nền và các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Các khái niệm 2.1 Thanh khoản Thanh khoản là một thuật ngữ trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.
Hiện nay có nhiều nhà nghiên cứu khoa học và nhà kinh tế học định đưa ra các khái niệm và cách hiểu về thuật ngữ thanh khoản. Theo Falconer (2001) tính thanh khoản của ngân hàng thể hiện khả năng đáp ứng việc hoàn trả nợ vay khi đến hạn hoặc khả năng chuyển hóa ra tiền của tài sản ngắn hạn. Một ngân hàng có đủ khả năng thanh khoản thể hiện bằng cách đi vay tiền hoặc chuyển đổi tài sản lưu động nhanh chóng thành tiền mặt với chi phí hợp lý. Rose (2002) một tài sản có tính thanh khoản cao phải thỏa mãn đồng thời 2 điều kiện: có thị trường giao dịch để có thể dễ dàng chuyển hóa tài sản thành tiền và có giá cả ổn định không chịu tác động của số lượng và thời gian giao dịch.
Theo Wasiuzzaman và Tarmizi (2010), tính thanh khoản của ngân hàng là đảm bảo sự sẵn có của các khoản tiền để đáp ứng cho các nghĩa vụ tài chính, các cam kết hoặc nghĩa vụ tài chính khi đến hạn tại một mức giá hợp lý ở mọi thời điểm. Thanh khoản ngân hàng là một ngân hàng có tiền ở trong những trường hợp đặc biệt để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng. Ngoài ra, theo Basel (2008) khả năng ngân hàng gia tăng thêm tài sản để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính khi đến hạn mà không có thiệt hại đáng kể nào được gọi là tính thanh khoản. Bình luận về khái niệm này tại Basel (2008), theo Teply (2011) bổ sung thêm là cần phân biệt tính thanh khoản của thị trường và tính thanh khoản tài trợ hoặc thanh toán, thể hiện mức độ khó khăn trong việc tìm kiếm được tiền để đáp ứng các nghĩa vụ.
Tiếp cận theo CAMELS, Demirguc-Kunt (1989) cho rằng tính thanh khoản của ngân hàng được đo lường bằng tỷ lệ thanh khoản dựa trên số liệu kế toán về tài 7 sản lưu động trên tổng tài sản hoặc tổng số dư nợ cho vay trên tổng số tiền gửi huy động. Theo Poorman và Blake (2005) nguyên nhân của các rủi ro là do việc các nhà quản trị chưa quan tâm đến tính thanh khoản của các tài sản ngắn hạn khác cũng như danh mục cho vay tại các ngân hàng. Tiếp theo luồng quan điểm trên đây, nghiên cứu của Bradley và Shibut (2006) còn cho thấy các ngân hàng đôi khi có thể bỏ qua các nghiệp vụ tăng vốn như phát hành trái phiếu nếu quá tập trung vào huy động tiền gửi từ khách hàng. Một điểm mới trong nghiên cứu của Decker (2000) chính là việc đưa quan điểm của tính thanh khoản của thị trường vào cùng xem xét với thanh khoản của ngân hàng, hay nói cách khác khi đánh giá và đo lường thanh khoản của ngân hàng cũng cần xem xét đến yếu tố thanh khoản của thị trường.2 Cung cầu thanh khoản 2.1 Cung thanh khoản: Theo Giáo trình Ngân hàng Thương mại (2018) của Đại học Kinh tế Quốc dân thì cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm: Các khoản tiền gửi đang đến (S1): Có thể coi đây là nguồn cung quan trọng nhất của ngân hàng.
Để gia tăng nguồn cung này, các ngân hàng có thể thực hiện các biện pháp như: tăng lãi suất huy động kèm theo đó là các dịch vụ đi kèm việc huy động. Hoặc là các kênh đầu tư khác có mức lãi suất đầu tư kém hấp dẫn hơn thì nguồn cung này cũng được tăng lên Doanh thu từ việc bán các khoản dịch vụ (S2): Nguồn cung này có thể đến từ việc các ngân hàng thực hiện thu phí đối với các khách hàng thực hiện các nghiệp vụ như bảo lãnh, mở L/C hay thanh toán các món chuyển tiền quốc tế, trong nước Thu hồi tín dụng đã cấp (S3): Đây chính là nguồn cung quan trọng thứ hai của cung thanh khoản. Hoạt động tín dụng là hoạt động chính của ngân hàng, do đó việc thu hồi các khoản tín dụng đã cấp mang lại nguồn thu lớn cho ngân hàng. Nếu các khoản tín dụng đều thanh toán đ ng hạn thì không những mang lại nguồn cung lớn mà còn đảm bảo cho hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
8 Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng (S4): ngân hàng có thể chuyển hóa các tài sản của mình thành tiền để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Vay mượn từ thị trường tiền tệ (S5): Việc tăng cung thanh khoản có thể đến từ việc đi vay trên thị trường tiền tệ. Các giao dịch này được thực hiện giữa các NHTM với nhau hay giữa NHTM với NHNN 2.2 Cầu thanh khoản: Theo Giáo trình Ngân hàng Thương mại (2018) của Đại học Kinh tế Quốc dân thì cầu thanh khoản (hay là nhu cầu thanh khoản) là nhu cầu thanh toán của khách hàng mà ngân hàng có nghĩa vụ đáp ứng. Cầu thanh khoản bao gồm yêu cầu chi trả và tín dụng hợp pháp của khách hàng.
Việc ngân hàng bán các tài sản để đáp ứng nhu cầu thanh khoản gọi là bán thanh khoản. Các yếu tố chính tạo cầu thanh khoản Khách hàng rút các khoản tiền gửi (D1): Đây là nhu cầu thường xuyên, tức thời và xảy ra hằng ngày ở các NHTM. Các NHTM luôn phải đảm bảo một khoản dự trữ để đáp ứng nhu cầu thanh toán từ các nguồn tiền gửi không kì hạn và các nguồn tiền gửi thanh toán. Sự gia tăng ở cầu thanh khoản này có thể là do biến động về lạm phát, chênh lệch đáng kể về lãi suất huy động giữa các ngân hàng cũng như những cơ hội đầu tư có lãi suất hấp dẫn hơn so với việc gửi tiền vào ngân hàng.
Yêu cầu cấp các khoản tín dụng có chất lượng cao (D2): Đây cũng là một nhân tố tác động đáng kể đến cầu thanh khoản đối với ngân hàng. Nhu cầu này chịu tác động của nhiều yếu tố nhưng nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp, lãi suất cho vay giữa các NHTM với nhau. Hoàn trả các khoản vay mượn phi tiền gửi (D3): Đây là khoản tiền mà ngân hàng sẽ phải hoàn trả cho các khoản đi vay từ các tổ chức KT, cá nhân hay từ các tổ chức tín dụng hoặc NHNN Chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ (D4): Đây là các khoản chi phí trả lãi huy động, trả lãi phát hành giấy tờ có giá mà ngân hàng đã huy động trước đây đến hạn ngân hàng phải thanh toán cho khách hàng Thanh toán cổ tức cho các cổ đông (D5): Đây là khoản tiền mà ngân hàng phải trả cho các cổ đông của mình 9 Khi xem xét về thời gian, nhu cầu thanh khoản của một ngân hàng bao gồm cả trong ngắn hạn và dài hạn như sau: Đối với nhu cầu thanh khoản ngắn hạn mang tính tức thời. Các khoản tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi có kỳ hạn đến hạn, các công cụ huy động thuộc thị trường tiền tệ nằm trong phạm vi nhu cầu thanh khoản ngắn hạn.
Để đáp ứng nhu cầu thanh khoản thuộc loại này, đòi hỏi ngân hàng phải duy trì ở mức độ khá lớn các loại tài sản có tính thanh khoản cao (tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại NHTW và các định chế tài chính khác, chứng khoán chính phủ.) Đối nhu cầu thanh khoản dài hạn do các nhân tố mang tính chất thời vụ, chu kỳ và xu hướng tạo ra. Chẳng hạn nhu cầu rút tiền hay vay mượn của cá nhân thường đặc biệt tăng cao vào các dịp lễ hội trong năm để trang trải chi tiêu, mua sắm. Để đáp ứng loại nhu cầu thanh khoản này, đòi hỏi ngân hàng cần phải dự phòng trước khả năng cung cấp thanh khoản từ nhiều nguồn khác nhau và ở mức độ cao hơn so với nhu cầu thanh khoản ngắn hạn. Ví dụ như đặt kế hoạch thu hút các khoản tiền gửi mới, thỏa thuận vay dài hạn từ công chúng hoặc từ quỹ dự trữ của các ngân hàng khác.3 Trạng thái thanh khoản Đánh giá trạng thái thanh khoản: Trạng thái thanh khoản ròng = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản (NLP) Các trường hợp có thể xảy ra như sau: Thặng dư thanh khoản ( NLP > 0): NH ở trạng thái thừa thanh khoản.
Khi đó nhà quản lí phải đưa ra quyết định để sử dụng nguồn thanh khoản thừa này một cách hợp lí và đ ng thời điểm để đầu tư kiếm lời trong thời gian chờ để đáp ứng nhu cầu thanh khoản cho tương lai. Thừa thanh khoản là một trạng thái mất cân bằng của các NHTM, xảy ra trong nền KT hoạt động kém hiệu quả, NH không tiếp cận được với khách hàng hoặc không lựa chọn được nhiều khách hàng để cho vay. Trong phạm vi một NH, đây là việc không khai thác hết tiềm năng sinh lời của tài sản Có, chiếm giữ quá nhiều tài sản Có ở dạng trực tiếp hay gián tiếp không có khả năng sinh lời ( tồn quỹ tiền mặt quá 10 lớn) hoặc có thể do NH tăng vốn quá nhanh trong khi chưa có phương án sử dụng vốn hiệu quả Thanh khoản thừa thường được NH sử dụng như sau:Mua các chứng khoán dự trữ thứ cấp đã bán ra trước đó; Cho vay trên thị trường tiền tệ ( phù hợp với thời hạn nhàn rỗi của số thanh khoản thừa);Gửi tiền tại các tổ chức tín dụng khác. Thiếu hụt thanh khoản ( NLP < 0): NH đang trong tình trạng thiếu vốn để hoạt động.
Khi NH không đủ vốn đáp ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng, nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, của nền KT có thể gọi là thiếu vốn tuyệt đối, nghĩ là thiếu vốn đối với nhu cầu cho vay và đầu tư cho nền KT. Thiếu vốn tuyệt đối dễ mất những cơ hội đầu tư tốt có thể mang lại lợi nhuận cho NH, thậm chí có khả năng mất khách hàng khi họ phải đến NH khác để được đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn.