CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương này sẽ làm rõ các công trình nghiên cứu của các tác giả về mô hình đo lường hành vi QTLN cũng như các nghiên cứu của các tác giả về QTCT và QTLN ở Việt Nam và quốc tế để từ đó xác định khe hổng nghiên cứu và đề xuất các vấn đề cần nghiên cứu của luận án tại Việt Nam hiện nay. Với mục tiêu nghiên cứu trên tác giả đã tiến hành lược khảo, tổng kết lại các nghiên cứu trên thế giới cùng với các nghiên cứu ở Việt Nam, bao gồm các bài báo, luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu khoa học. Chủ đề nghiên cứu bao gồm: nghiên cứu về các mô hình nhận diện hành vi QTLN và các nhân tố đại diện QTCT tác động đến hành vi QTLN. Chương này gồm ba phần: 1.
Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới, 2. Tổng quan nghiên cứu tại Việt Nam, 3. Xác định vấn đề nghiên cứu của luận án.Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới 1. Các công trình nghiên cứu mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận Xu thế hội nhập với sự cạnh tranh khốc liệt trong nhu cầu vay vốn, phát hành cổ phiếu…gây áp lực rất lớn cho các NQL thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.
Vì vậy NQL đã vận dụng các nguyên tắc kế toán được chấp nhận và điều chỉnh các hoạt động kinh tế (HĐKT) nhằm tác động đến lợi nhuận theo quan điểm cá nhân. Do đó, trên thế giới trong hơn 30 năm qua đã có nhiều nghiên cứu của các tác giả về mô hình đo lường QTLN và các mô hình này phát triển ngày càng hữu hiệu hơn. Công trình nghiên cứu mô hình đo lường quản trị lợi nhuận thông qua các hoạt động kinh tế của Roychowdhury (2006) QTLN thông qua các HĐKT (Real earnings management - REM) là một hành động có mục đích của các NQL nhằm thay đổi lợi nhuận theo mục đích cá nhân bằng cách thay đổi thời gian ghi nhận của giao dịch hoặc cơ cấu hoạt động, một vụ đầu tư hoặc một giao dịch tài chính với những tác động lên dòng tiền và mang lại kết quả gần như tối ưu. Và đây là định nghĩa kế thừa từ định nghĩa của Healy và Wahlen (1999) và Zang (2006).
Nghiên cứu của Graham và cộng sự (2005) cho rằng các giám đốc tài chính luôn nghĩ lợi nhuận là mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư trên thị trường tài chính nên nghiên cứu thừa nhận khoảng 78% các giám đốc tài chính được khảo sát đều từ bỏ giá trị kinh tế. 2 để đạt được mức lợi nhuận ổn định. Với nghiên cứu của Healy và Wahlen (1999), Dechow và Skinner (2000), họ đã chỉ ra rằng các NQL đã dùng các hoạt động: gia tăng tốc độ bán hàng (thay đổi chính sách bán chịu, giảm giá bán, chiết khấu…), giảm chi phí nghiên cứu và phát triển, gia tăng sản xuất… để làm đẹp báo cáo tài chính và những hoạt động này vô cùng hợp lý trong kỳ kinh doanh hiện tại. Xuất phát từ nghiên cứu của Dechow và cộng sự (1998) về hành vi QTLN thông qua các HĐKT, Roychowdhury (2006) đã xây dựng và phát triển mô hình nhận diện hành vi QTLN thông qua các HĐKT và đây là tiền đề cho các nghiên cứu thực nghiệm khác sau này.
Roychowdhury (2006) đã sử dụng mô hình hồi quy chéo (cross – sectional) cho dữ liệu có thời gian từ 1987-2001 với số quan sát của 36 ngành là 4.252 công ty tại Mỹ. Mức độ bất thường của 3 yếu tố: dòng tiền HĐKD (Cash flow from operations), Chi phí SX (Production Costs) và chi phí hữu ích (Discretionary Expences) được Roychowdhury (2006) sử dụng để xem xét hành vi QTLN của NQL tác động đến HĐKT, cụ thể: CFOit 1 Salesit Salesit 1 2 3 it Ait 1 Ait 1 Ait 1 Ait 1 PRODit 1 Salesit Salesit Salesit 1 1 2 3 4 it Ait 1 Ait 1 Ait 1 Ait 1 Ait 1 DISEXPit 1 Salesit 1 1 2 it Ait 1 Ait 1 Ait 1 Với: - CFOit là dòng tiền HĐKD của DNi tại thời điểm t. - Ait-1 là giá trị tổng TS của DN i trong năm t -1. - Salesit là doanh thu của DN i trong năm t.
- Salesit là doanh thu của DN i trong năm t trừ đi doanh thu năm t-1. - Salesit-1 là doanh thu của DN i trong năm t trừ đi doanh thu của DN i trong năm t-2. - PRODit là gồm giá vốn hàng bán và chênh lệch hàng tồn kho của DN i trong năm t. 3 - DISEXPit là tổng chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D), chi phí bán hàng, chi phí sản xuất chung và chi phí quản lý doanh nghiệp của DN i trong năm t.
Roychowdhury (2006) cho rằng khi tồn tại một trong ba dấu hiệu bất thường như bất thường dòng tiền, bất thường sản xuất hay bất thường về chi phí hữu ích thì có tồn tại hành vi QTLN và lập luận này đã được chứng minh thông qua kết quả nghiên cứu. Như vậy cho đến thời điểm hiện nay, mô hình Roychowdhury (2006) vẫn là mô hình tối ưu để nhận diện hành vi QTLN thông qua các HĐKT. Do đó trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng mô hình Roychowdhury (2006) đo lường mức độ bất thường thông qua các hoạt động kinh tế đại diện cho QTLN. Công trình nghiên cứu về đo lường quản trị lợi nhuận theo cơ sở dồn tích Nghiên cứu sử dụng các khoản dồn tích (Accruals - Based Model) để đo lường QTLN là cách tiếp cận phổ biến nhất.
Giá trị dồn tích phát sinh hay mất đi tùy thuộc vào tình hình kinh doanh, điều kiện của đơn vị, không liên quan đến các hoạt động NQL chính là dồn tích không điều chỉnh (Non Discretionary Accruals - NDA), dồn tích có điều chỉnh (Discretionary Accruals - DA) là các khoản dồn tích do NQL tác động theo ý muốn chủ quan, là thang đo đại diện cho hành vi QTLN trong các nghiên cứu được tác giả hệ thống hóa trong luận án như sau: Mô hình Healy (1985) Healy (1985) sử dụng mẫu dữ liệu của 94 công ty để kiểm định kế hoạch tối đa tiền thưởng tác động như thế nào đến hành vi QTLN. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi có kế hoạch tiền thưởng NQL sử dụng các chính sách kế toán liên quan đến dồn tích để tác động đến lợi nhuận. Trong nghiên cứu của mình Healy (1986) giả định rằng giá trị NDA là hằng số không đổi qua thời gian, không chịu sự tác động bởi NQL hay có nghĩa là NDA có giá trị bằng 0 (không). Vì vậy tổng giá trị dồn tích (Total Accruals -TA) cũng chính là NDA và nếu TA- NDA có giá trị không bằng 0 (không) hay phần DA khác không thì tại doanh nghiệp có tồn tại hành vi QTLN.
TAit DAit Ait 1. 4 Trong đó Ait-1: Tổng giá trị TS doanh nghiệp i tại năm t-1 TAit: TDT của doanh nghiệp i tại năm t, được tính toán căn cứ LNST và dòng tiền HĐKD. DAit: DTĐC của doanh nghiệp i tại năm t Tuy nhiên mô hình này giả định NDA không đổi theo thời gian nhưng trong thực tế hoạt động kinh doanh của DN luôn thay đổi. Một khi hoạt động kinh doanh thay đổi thì NDA phải thay đổi theo nghĩa là DA thay đổi khi hoạt động KD thay đổi.
Vì vậy, sử dụng mô hình Healy (1985) để tính toán DA là chưa chính xác cũng như căn cứ vào mô hình Healy (1985) để dự đoán tình hình QTLN của DN cũng không chính xác. Mô hình DeAngelo (1986) DeAngelo (1986) trong nghiên cứu của mình đã cho rằng nếu tình hình kinh doanh của DN qua các năm không có sự thay đổi lớn thì tổng NDA ở năm t phải bằng tổng NDA ở năm t-1. Nếu có sự khác biệt giữa tổng dồn tích không điều chỉnh ở năm t và tổng dồn tích không điều chỉnh ở năm t-1 thì có tồn tại hành vi QTLN. Kết quả nghiên cứu với dữ liệu 64 công ty cổ phần niêm yết cho kết quả kiểm chứng như giả định.
Công thức mà DeAngelo (1986) đưa ra: TAit 1 DAit TAit Ait 1 Với:Ait-1: Tổng TS của DN i tại năm t-1 Mặc dù mô hình DeAngelo (1986) đã xác định DA riêng biệt là chênh lệch giữa tổng giá trị tồn tích hai kỳ kế tiếp nhau của từng DN và cũng chính là điểm khắc phục nhược điểm của Healy (1985), nhưng DeAngelo (1986) cũng giả định rằng tình hình kinh doanh của DN không biến động qua các năm, nên độ chính xác trong nhận diện thấp. Do đó các tác giả khác tiếp tục thực hiện các nghiên cứu của mình để khắc phục vấn đề trên. Mô hình Jones (1991). 5 Vào những năm đầu của thập niên 80, các công ty sản xuất công nghiệp (ngành ô tô, thép không rỉ, đồng, giày dép và may mặc) tại Mỹ thực hiện hành vi điều chỉnh giảm lợi nhuận so với thời điểm xin được hỗ trợ từ chính phủ, khi có sự điều tra của ITC (United States International Trade Commission).
Do đó Jones (1991) đã xem xét cần phải tìm hiểu vấn đề liên quan đến QTLN tại các công ty này. Vì vậy, căn cứ vào hai mô hình của Healy (1985) và DeAngelo (1986), Jones đã phát triển thành mô hình nhạy hơn và khắc phục nhược điểm của hai mô hình trên trong việc nhận diện hành vi QTLN đó là có tính đến sự thay đổi về mức độ HĐKD của DN. Jones (1991) cho rằng khi doanh thu thay đổi sẽ làm cho vốn kinh doanh thay đổi theo và làm cho dồn tích thay đổi, đồng thời khấu hao tài sản cố định làm giảm dồn tích. Vì vậy với các sự thay đổi đó (Doanh thu, vốn, dồn tích) làm cho lợi nhuận giảm do đó Jones đã sử dụng hai biến độc lập là thay đổi của doanh thu và tài sản cố định để dự đoán biến DA.