Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Nhân tố tổng hợp đại diện quản trị công ty tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty sản xuất niêm yết ở Việt Nam" được tác giả Ngô Nhật Phương Diễm thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Đình Trực và TS. Trần Văn Thảo, bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh năm 2019, thuộc chuyên ngành Kế toán (mã số 93.301).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Hành vi quản trị lợi nhuận (QTLN) được hiểu là tập hợp các quyết định của nhà quản lý nhằm trình bày thông tin lợi nhuận khác biệt so với thực tế, gây sai lệch nhận thức của người sử dụng báo cáo tài chính (BCTC) thông qua các chính sách kế toán, các khoản dồn tích hoặc các giao dịch kinh tế phát sinh (Ronen và Yaari, 2008). Các vụ việc gian lận số liệu kế toán tại các tập đoàn quốc tế như Enron (thiệt hại khoảng 70 tỷ USD), Worldcom (thiệt hại 180 tỷ USD đối với cổ đông), Xerox, cũng như hàng loạt trường hợp điều chỉnh giảm lợi nhuận lớn sau kiểm toán tại Việt Nam (CTCP Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành giảm 91% lợi nhuận năm 2017, Hoàng Anh Gia Lai giảm 661 tỷ đồng, Hùng Vương tăng lỗ 642 tỷ đồng, Thủy sản An Giang chuyển từ lãi 4 tỷ đồng sang lỗ 187 tỷ đồng sau kiểm toán) cho thấy mức độ tổn thất nghiêm trọng đối với vốn đầu tư của cổ đông.
Mặc dù chủ đề tác động của quản trị công ty (QTCT) đến QTLN đã nhận được sự quan tâm rộng rãi, phần lớn các công trình trong và ngoài nước chỉ tập trung vào các đặc điểm riêng lẻ của Hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban kiểm soát (BKS) như quy mô, tỷ lệ thành viên độc lập, trình độ chuyên môn, sự kiêm nhiệm, tần suất họp. Kết quả của hướng tiếp cận này thường thiếu tính đồng nhất và mâu thuẫn giữa các nghiên cứu. Đồng thời, các nghiên cứu tại Việt Nam trước đây chủ yếu sử dụng mẫu tổng hợp toàn bộ các công ty phi tài chính niêm yết, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về hành vi QTLN đối với nhóm ngành công nghiệp sản xuất – khu vực đóng góp tỷ trọng GDP cao nhất (quý 1 năm 2018 tăng 9,7%, đóng góp 3,39 điểm phần trăm) nhưng lại có chất lượng BCTC thấp nhất theo khảo sát thực tế (Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016). Do đó, việc xây dựng và kiểm định nhân tố tổng hợp đại diện QTCT đối với các công ty sản xuất niêm yết là khoảng trống nghiên cứu cần được giải quyết.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mục tiêu nghiên cứu 1: Khám phá nhân tố tổng hợp đại diện QTCT tác động đến hành vi QTLN tại các công ty sản xuất niêm yết ở Việt Nam.
- Mục tiêu nghiên cứu 2: Đo lường mức độ tác động của nhân tố tổng hợp đại diện QTCT tác động đến hành vi QTLN tại các công ty sản xuất niêm yết ở Việt Nam.
Tương ứng với hai mục tiêu trên, luận án đặt ra hai câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Nhân tố tổng hợp đại diện QTCT tác động đến hành vi QTLN tại công ty sản xuất niêm yết ở Việt Nam là gì?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Mức độ tác động của nhân tố tổng hợp đại diện QTCT ảnh hưởng đến hành vi QTLN tại các công ty sản xuất niêm yết ở Việt Nam như thế nào?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nhân tố tổng hợp đại diện QTCT tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận.
- Phạm vi không gian: Các công ty sản xuất niêm yết (CTSXNY) trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016. Mốc năm 2012 được lựa chọn do Bộ Tài chính ban hành Thông tư 121/2012/TT-BTC quy định về quy chế QTCT áp dụng cho các công ty niêm yết, giúp dữ liệu QTCT trên báo cáo thường niên (BCTN) và báo cáo quản trị (BCQT) được công bố tương đối đầy đủ; năm 2016 là năm tài chính hoàn tất thu thập dữ liệu tại thời điểm thực hiện luận án.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu về mô hình đo lường quản trị lợi nhuận
Trong lịch sử nghiên cứu kế toán, hai phương thức đo lường hành vi QTLN chính được phát triển gồm:
| Phương thức đo lường |
Công trình tác giả |
Mô hình và nguyên lý đo lường |
| QTLN thông qua các hoạt động kinh tế (REM) |
Roychowdhury (2006) |
Đo lường mức độ bất thường của ba thành phần: dòng tiền hoạt động kinh doanh ($CFO$), chi phí sản xuất ($PROD = \text{Giá vốn hàng bán} + \Delta \text{Hàng tồn kho}$), và chi phí hữu ích ($DISEXP = \text{Chi phí R&D} + \text{Chi phí bán hàng} + \text{Chi phí QLDN}$). |
| QTLN trên cơ sở dồn tích (AEM) |
Healy (1985) |
Giả định dồn tích không điều chỉnh ($NDA$) bằng 0, tổng dồn tích ($TA$) phản ánh dồn tích điều chỉnh ($DA$). |
|
DeAngelo (1986) |
Đo lường $DA$ bằng chênh lệch tổng dồn tích giữa hai năm liên tiếp ($TA_t - TA_{t-1}$). |
|
Jones (1991) |
Kiểm soát sự thay đổi doanh thu ($\Delta REV$) và nguyên giá tài sản cố định hữu hình ($PPE$) tác động đến $NDA$. |
|
Dechow, Sloan và Sweeney (1995) |
Điều chỉnh mô hình Jones bằng cách trừ đi khoản thay đổi phải thu khách hàng ($\Delta REV - \Delta AR$). |
|
Jeter và Shivakumar (1999) |
Bổ sung dòng tiền hoạt động kinh doanh ($CFO$) theo quý và năm để kiểm soát quan hệ phi tuyến tính. |
|
Kothari, Leone và Wasley (2005) |
Bổ sung biến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ($ROA_{t-1}$) nhằm kiểm soát hiệu quả hoạt động kinh doanh. |
|
Yoon và cộng sự (2006) |
Phát triển mô hình thích ứng cho thị trường châu Á dựa trên dòng tiền thu bán hàng, chi phí bằng tiền, chi phí khấu hao và dự phòng. |
Luận án lựa chọn mô hình Jones (1991) cho biến dồn tích điều chỉnh ($DA$) vì mô hình gốc này được thiết kế dựa trên các công ty công nghiệp sản xuất, đồng thời áp dụng mô hình Roychowdhury (2006) để nhận diện hành vi QTLN qua các hoạt động kinh tế ($REM$).
Các hướng nghiên cứu về quản trị công ty tác động đến quản trị lợi nhuận
-
Tiếp cận theo đặc điểm riêng lẻ:
- Nghiên cứu quốc tế: Các tác giả Chtourou và cộng sự (2001), Klein (2002), Xie và cộng sự (2003), Abbott và cộng sự (2004), Ebrahim (2007), Osma (2008), Lin (2011), Swastika (2013), Susanto và Pradipta (2016) đưa ra các kết quả trái chiều về vai trò của quy mô HĐQT, tính độc lập của HĐQT, và số lần họp. Chẳng hạn, Xie và cộng sự (2003), Osma (2008) cho rằng thành viên độc lập HĐQT làm giảm QTLN, nhưng Klein (2002), Lin (2011), Swastika (2013) lại kết luận không có mối quan hệ thống kê.
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Nguyễn Trọng Nguyên (2015), Nguyễn Thị Phương Hồng (2016), Essa và cộng sự (2016), Bùi Văn Dương và Ngô Hoàng Điệp (2017), Nguyễn Hà Linh (2017), Phạm Thị Kiều Trang (2017) cũng ghi nhận các kết quả không đồng nhất giữa quy mô HĐQT, tính độc lập và trình độ chuyên môn tài chính đối với chất lượng BCTC và mức độ QTLN.
-
Tiếp cận theo nhân tố tổng hợp:
- Carcello, Klein và Neal (2006) nghiên cứu 283 công ty phi tài chính tại Mỹ, xác lập chỉ số QTCT mạnh gồm 6 đặc điểm (quy mô HĐQT, tính độc lập HĐQT, quy mô BKS, tính độc lập BKS, quyền cổ đông, sở hữu tổ chức) và phát hiện QTCT hiệu quả làm giảm $DA$.
- Kang và Kim (2012) khảo sát 368 công ty sản xuất niêm yết tại Hàn Quốc (2005-2007), xây dựng chỉ số tổng hợp HĐQT gồm 5 đặc điểm (quy mô, số lần họp, tỷ lệ thành viên độc lập, tỷ lệ thành viên độc lập tham gia họp, tỷ lệ thành viên có chuyên môn tài chính) và chứng minh mối tương quan âm với mức độ bất thường qua hoạt động kinh tế.
- Hassan và Ahmed (2012) nghiên cứu 60 quan sát công ty sản xuất tại Nigeria (2008-2010), xây dựng chỉ số tổng hợp BKS gồm 3 đặc điểm (quy mô, tính độc lập, số lần họp).
- Hoang (2014) tại Việt Nam nghiên cứu 150 công ty niêm yết (2005-2011) với chỉ số tổng hợp đại diện đa dạng HĐQT về chức năng và cơ cấu.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
- Khoảng trống về phương pháp tiếp cận cấu trúc QTCT: Khắc phục hiện tượng không có ý nghĩa thống kê hoặc kết quả phân tán khi xem xét từng đặc điểm riêng lẻ của HĐQT và BKS bằng cách tích hợp chúng thành "nhân tố tổng hợp HĐQT" và "nhân tố tổng hợp BKS".
- Khoảng trống về mẫu ngành nghiên cứu tại Việt Nam: Tập trung chuyên biệt vào nhóm công ty sản xuất niêm yết trên HOSE và HNX, thay vì sử dụng mẫu gộp tất cả các ngành phi tài chính như các nghiên cứu trước đó.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết nền tảng
Luận án vận dụng 5 lý thuyết nền tảng và 1 lý thuyết bổ trợ để giải thích cơ chế tác động của QTCT đến hành vi QTLN:
- Lý thuyết đại diện (Agency Theory): Dựa trên sự tách biệt giữa quyền sở hữu (cổ đông) và quyền điều hành (ban giám đốc), dẫn đến xung đột lợi ích và bất cân xứng thông tin. HĐQT và BKS đóng vai trò là cơ chế giám sát nội bộ nhằm kiểm soát hành vi tư lợi của nhà quản lý.
- Lý thuyết phát tín hiệu (Signaling Theory): Giải thích việc nhà quản lý chủ động cung cấp thông tin tài chính chất lượng cao hoặc dùng các tín hiệu kế toán để truyền tải thông điệp về giá trị doanh nghiệp ra thị trường nhằm giảm thiểu tình trạng bất cân xứng thông tin.
- Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource Dependency Theory): HĐQT và BKS được xem là nguồn cung cấp tài nguyên, tri thức, kinh nghiệm và mạng lưới quan hệ, giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực kiểm soát.
- Lý thuyết các bên có liên quan (Stakeholder Theory): Doanh nghiệp chịu trách nhiệm giải trình không chỉ với cổ đông mà còn với chủ nợ, khách hàng, nhà cung cấp, người lao động và cơ quan quản lý nhà nước; cơ chế QTCT cân bằng lợi ích các bên thông qua sự minh bạch thông tin.
- Lý thuyết hành vi (Behavioral Theory): Giải thích động cơ chủ quan của nhà quản lý trong việc lựa chọn chính sách kế toán hoặc điều chỉnh các giao dịch kinh tế thực để đạt được lợi ích cá nhân (như lương thưởng, hoàn thành chỉ tiêu).
- Lý thuyết tới hạn (Critical Mass Theory): Kế thừa quan điểm của Granovetter (1978) và Kramer và cộng sự (2006), luận án lập luận rằng các đặc điểm riêng lẻ của HĐQT và BKS khi đứng độc lập có thể chưa đạt tới ngưỡng tác động đủ lớn; khi được tích hợp thành một chỉnh thể tổng hợp, sức mạnh giám sát sẽ vượt qua ngưỡng tới hạn và tạo ra tác động kiểm soát rõ rệt đối với hành vi QTLN.
Khái niệm và mô hình quản trị công ty
Căn cứ theo quy định của Bộ Tài chính và OECD, luận án định nghĩa QTCT là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và kiểm soát hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và các bên liên quan. Tại Việt Nam, mô hình QTCT áp dụng chủ yếu là mô hình hai cấp (Two-tier board model) gồm: Đại hội đồng cổ đông, HĐQT, BKS và Ban điều hành (Tổng Giám đốc/CEO).
- Nhân tố tổng hợp HĐQT: Là một chỉnh thể tích hợp 5 đặc điểm riêng lẻ của HĐQT: (1) Quy mô HĐQT; (2) Tỷ lệ thành viên độc lập; (3) Trình độ chuyên môn/kinh nghiệm tài chính kế toán; (4) Sự kiêm nhiệm chức danh Chủ tịch HĐQT và Giám đốc điều hành; (5) Tần suất/số lần họp HĐQT.
- Nhân tố tổng hợp BKS: Là một chỉnh thể tích hợp 4 đặc điểm riêng lẻ của BKS: (1) Quy mô BKS; (2) Tỷ lệ thành viên độc lập; (3) Trình độ chuyên môn tài chính kế toán; (4) Tần suất/số lần họp BKS.
Thiết kế và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp theo tuần tự khám phá (Sequential Exploratory Mixed Methods Design) qua hai giai đoạn:
+-----------------------------------------------------------------------+
| Giai đoạn 1: Nghiên cứu định tính |
| - Phỏng vấn sâu 3 nhóm chuyên gia am hiểu về QTLN và kế toán |
| - Khám phá và xác định các tiêu chí cấu thành nhân tố tổng hợp |
+-----------------------------------------------------------------------+
|
v
+-----------------------------------------------------------------------+
| Giai đoạn 2: Nghiên cứu định lượng |
| - Thu thập dữ liệu BCTC, BCTN, BCQT của CTSXNY trên HOSE & HNX |
| - Đo lường biến phụ thuộc AEM (Jones 1991) và REM (Roychowdhury 2006) |
| - Kiểm định tương quan, hồi quy OLS, FEM, REM, Pooled OLS-Robust |
+-----------------------------------------------------------------------+
- Phương pháp nghiên cứu định tính: Phỏng vấn sâu 3 nhóm chuyên gia (nhà nghiên cứu học thuật, kiểm toán viên độc lập, nhà quản lý doanh nghiệp) nhằm khám phá, hiệu chỉnh và khẳng định các thành phần cấu thành nhân tố tổng hợp HĐQT và nhân tố tổng hợp BKS trong bối cảnh thực tế tại Việt Nam theo Thông tư 121/2012/TT-BTC.
- Phương pháp nghiên cứu định lượng:
- Mẫu và dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp thu thập từ BCTC đã kiểm toán, BCTN, BCQT của các công ty sản xuất niêm yết trên HOSE và HNX giai đoạn 2012 - 2016.
- Kỹ thuật phân tích kinh tế lượng: Thống kê mô tả, phân tích ma trận tương quan Pearson, hồi quy đa biến với dữ liệu bảng bằng các mô hình: Hồi quy bình phương bé nhất gộp (Pooled OLS), Mô hình tác động cố định (Fixed Effects Model - FEM), Mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model - REM).
- Kiểm định chẩn đoán: Kiểm định Hausman để chọn lựa giữa FEM và REM; kiểm định Woolridge kiểm tra hiện tượng tự tương quan; kiểm định Breusch-Pagan/White kiểm tra phương sai thay đổi; kiểm định hệ số phóng đại phương sai (VIF) kiểm tra đa cộng tuyến; sử dụng ước lượng sai số chuẩn vững (Pooled OLS - Robust hoặc FEM Robust) để khắc phục triệt để các khuyết tật mô hình.
Nội dung chính theo từng chương
Phần giới thiệu
Trình bày bối cảnh thực hiện đề tài, các vụ việc gian lận số liệu kế toán trên thị trường quốc tế và Việt Nam. Nêu rõ tính cấp thiết của việc nghiên cứu QTLN trong nhóm ngành công nghiệp sản xuất, xác định mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu (2012-2016), định nghĩa sơ bộ về các thuật ngữ "nhân tố tổng hợp HĐQT" và "nhân tố tổng hợp BKS", cũng như kết cấu 5 chương của luận án.
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam theo hai trục nội dung chính:
- Các mô hình đo lường hành vi QTLN (Healy, 1985; DeAngelo, 1986; Jones, 1991; Dechow và cộng sự, 1995; Jeter và Shivakumar, 1999; Kothari và cộng sự, 2005; Yoon và cộng sự, 2006; Roychowdhury, 2006).
- Mối quan hệ giữa đặc điểm QTCT, đặc điểm công ty (quy mô, cấu trúc vốn/hệ số nợ) và hiệu quả hoạt động (dòng tiền $CFO$, $ROA$, giá trị vốn hóa, kiểm toán Big4) với hành vi QTLN.
Chương 1 chỉ ra khe hổng lý thuyết tại Việt Nam khi các nghiên cứu đặc điểm riêng lẻ cho kết quả mâu thuẫn, chưa có nghiên cứu nào xây dựng nhân tố tổng hợp đại diện HĐQT và BKS cho nhóm công ty sản xuất niêm yết.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Xây dựng nền tảng lý luận cho luận án:
- Trình bày hệ thống các định nghĩa QTCT từ Cadbury (1992), Dahya và cộng sự (1996), Shleifer và Vishny (1997), OECD (1999/2004), Wolfensohn (1999), Monks và Minow (2004), Franklin (2005), Solomon (2007) và Bộ Tài chính Việt Nam.
- Phân tích nguyên tắc QTCT của OECD và các quy định pháp lý tại Việt Nam (Luật Doanh nghiệp 2005, 2014; Thông tư 121/2012/TT-BTC; Nghị định 71/2017/NĐ-CP).
- Phân tích hai mô hình quản trị: mô hình một cấp (One-tier) và mô hình hai cấp (Two-tier).
- Khái niệm, phân loại và động cơ QTLN: AEM (thông qua các khoản dồn tích) và REM (thông qua điều chỉnh hoạt động kinh tế thực).
- Luận giải chi tiết 5 lý thuyết nền (Lý thuyết đại diện, Lý thuyết phát tín hiệu, Lý thuyết các bên liên quan, Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, Lý thuyết hành vi) và Lý thuyết tới hạn trong việc giải thích mối quan hệ giữa nhân tố tổng hợp QTCT và hành vi QTLN.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Thiết lập quy trình nghiên cứu hỗn hợp tuần tự:
- Quy trình định tính: Thiết kế bảng câu hỏi mở, chọn mẫu phỏng vấn sâu 3 nhóm chuyên gia am hiểu chuyên môn, thu thập dữ liệu định tính và tổng hợp cấu trúc nhân tố tổng hợp HĐQT (5 đặc điểm) và BKS (4 đặc điểm).
- Quy trình định lượng:
- Xác lập hai phương trình hồi quy đa biến:
- Phương trình 1 (mô hình AEM): Biến phụ thuộc là $DA$ (tính theo Jones 1991).
- Phương trình 2 (mô hình REM): Biến phụ thuộc là $REM$ (tính theo Roychowdhury 2006).
- Biến độc lập: Biến nhân tố tổng hợp HĐQT và Biến nhân tố tổng hợp BKS.
- Biến kiểm soát: Quy mô công ty ($SIZE$), cấu trúc vốn/hệ số nợ ($LEV$), dòng tiền hoạt động kinh doanh ($CFO$), tỷ suất sinh lời trên tài sản ($ROA$), kiểm toán Big4 ($AUDIT$).
- Trình bày chi tiết công thức đo lường từng biến, thang đo và kỳ vọng dấu của các giả thuyết nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Báo cáo kết quả phân tích thực nghiệm và thảo luận học thuật:
- Kết quả nghiên cứu định tính: Khẳng định sự phù hợp của việc tích hợp các đặc điểm HĐQT và BKS thành nhân tố tổng hợp trong điều kiện pháp lý và thực tiễn thị trường chứng khoán Việt Nam.
- Kết quả thống kê mô tả và tương quan: Phân tích các đặc tính phân phối của biến $DA$, $REM$, các biến độc lập và biến kiểm soát theo thời gian và theo công ty; kiểm tra hệ số tương quan để phát hiện sớm nguy cơ đa cộng tuyến.
- Kết quả hồi quy đa biến:
- Với phương trình 1 (biến phụ thuộc $DA$): Qua các bước kiểm định lựa chọn mô hình, mô hình Pooled OLS xuất hiện hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan (kiểm định Woolridge); tác giả sử dụng mô hình ước lượng Pooled OLS - Robust để khắc phục. Kết quả xác nhận nhân tố tổng hợp HĐQT và nhân tố tổng hợp BKS có mối quan hệ tương quan âm, có ý nghĩa thống kê với $DA$.
- Với phương trình 2 (biến phụ thuộc $REM$): Kết quả kiểm định Hausman ủng hộ mô hình tác động cố định (FEM). Mô hình FEM cho thấy các nhân tố tổng hợp QTCT có tác động làm giảm hành vi điều chỉnh các hoạt động kinh tế thực bất thường.
- Bàn luận kết quả: Kết quả chứng minh rằng khi các đặc điểm của HĐQT và BKS được liên kết thành nhân tố tổng hợp, năng lực giám sát được gia tăng đáng kể theo lý thuyết tới hạn và lý thuyết đại diện, từ đó hạn chế cả hai hình thức QTLN ($AEM$ và $REM$).
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Tổng kết toàn bộ các phát hiện nghiên cứu, đối chiếu với các mục tiêu và câu hỏi ban đầu:
- Đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn của luận án.
- Đề xuất hệ thống hàm ý chính sách cho các công ty sản xuất niêm yết và các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, các Sở Giao dịch Chứng khoán).
- Phân tích các giới hạn nghiên cứu và gợi ý các hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án bổ sung vào cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa QTCT và QTLN bằng cách chuyển đổi hướng tiếp cận từ "các đặc điểm riêng lẻ" sang "nhân tố tổng hợp đại diện QTCT" (bao gồm nhân tố tổng hợp HĐQT và nhân tố tổng hợp BKS).
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm khẳng định luận điểm: HĐQT và BKS hoạt động hiệu quả dưới góc độ tổng hợp các thuộc tính (quy mô, tính độc lập, chuyên môn tài chính, tính chuyên trách/không kiêm nhiệm, tần suất họp) sẽ tạo ra cơ chế giám sát hữu hiệu, làm giảm hành vi QTLN trên cả hai phương diện dồn tích ($AEM$) và hoạt động kinh tế thực ($REM$).
- Vận dụng thành công lý thuyết tới hạn (Critical Mass Theory) kết hợp với lý thuyết đại diện để giải thích hiện tượng: các thuộc tính riêng lẻ của QTCT tại các thị trường mới nổi như Việt Nam có thể chưa đủ mạnh khi đứng độc lập, nhưng khi đạt đến sự liên kết tổng thể sẽ phát huy vai trò kiểm soát.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đối với cơ quan quản lý thị trường (Bộ Tài chính, UBCKNN, HOSE, HNX): Cung cấp cơ sở khoa học để ban hành và hoàn thiện các quy định, chế tài về QTCT; định hướng xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng QTCT toàn diện thay vì chỉ kiểm tra từng tiêu chí cơ học riêng lẻ.
- Đối với các công ty sản xuất niêm yết: Nhận diện rõ tầm quan trọng của việc kiện toàn cơ cấu HĐQT (đảm bảo tỷ lệ thành viên độc lập, năng lực chuyên môn, tách bạch vị trí Chủ tịch và Tổng Giám đốc) và nâng cao thực quyền của BKS nhằm kiểm soát hành vi bóp méo lợi nhuận, nâng cao tính minh bạch của BCTC.
- Đối với các công ty kiểm toán và kiểm toán viên độc lập: Cung cấp công cụ đánh giá rủi ro sơ bộ khi lập kế hoạch kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm toán số 315 (VSA 315). Khi doanh nghiệp có chỉ số nhân tố tổng hợp HĐQT và BKS cao, kiểm toán viên có cơ sở đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức thấp hơn, từ đó thiết kế quy trình kiểm toán phù hợp.
Kiến nghị và hàm ý chính sách đề xuất
- Đối với công ty sản xuất niêm yết:
- Tăng cường cơ cấu thành viên độc lập thực chất trong HĐQT và BKS, không bố trí kiêm nhiệm chức danh Chủ tịch HĐQT và Giám đốc điều hành (CEO).
- Đảm bảo các thành viên HĐQT và BKS có trình độ chuyên môn sâu về tài chính kế toán, đồng thời duy trì tần suất họp định kỳ đầy đủ để kịp thời giám sát các quyết định kinh tế trọng yếu.
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước:
- Hoàn thiện khung khổ pháp lý theo hướng chuẩn hóa các tiêu chuẩn QTCT (như Nghị định 71/2017/NĐ-CP), tăng cường kiểm tra việc tuân thủ công bố thông tin quản trị trên BCTN và BCQT.
- Thiết lập các chế tài xử phạt nghiêm minh đối với các hành vi cố tình bóp méo số liệu kế toán và vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Phạm vi mẫu nghiên cứu: Luận án chỉ thu thập dữ liệu từ các công ty sản xuất niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX, chưa mở rộng sang các ngành phi tài chính khác (như thương mại, dịch vụ, xây dựng) và các doanh nghiệp chưa niêm yết hoặc giao dịch trên UPCoM.
- Khoảng thời gian nghiên cứu: Dữ liệu khảo sát dừng lại ở giai đoạn 2012 - 2016, gắn liền với thời kỳ thực thi Thông tư 121/2012/TT-BTC; chưa cập nhật tác động của các văn bản pháp lý mới ban hành sau đó như Nghị định 71/2017/NĐ-CP.
- Cấu trúc quản trị: Luận án tập trung đánh giá QTCT qua cấu trúc HĐQT và BKS đại diện cho mô hình hai cấp, chưa đo lường các yếu tố quản trị khác như sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài, sở hữu tổ chức, hay vai trò của ban kiểm toán nội bộ trực thuộc HĐQT trong mô hình một cấp.
Hướng nghiên cứu trong tương lai
- Mở rộng mẫu nghiên cứu sang toàn bộ các nhóm ngành kinh tế khác trên thị trường chứng khoán để so sánh đặc thù tác động của nhân tố tổng hợp QTCT giữa các lĩnh vực.
- Kéo dài chuỗi thời gian nghiên cứu đến các năm tài chính gần nhất nhằm đánh giá sự thay đổi trong hành vi QTLN sau khi Nghị định 71/2017/NĐ-CP và Luật Doanh nghiệp mới có hiệu lực.
- Bổ sung thêm các khía cạnh khác của QTCT vào nhân tố tổng hợp, bao gồm cấu trúc sở hữu, ủy ban kiểm toán, và các chỉ số đo lường trách nhiệm xã hội doanh nghiệp.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán - Tài chính: Tham khảo phương pháp tiếp cận nghiên cứu hỗn hợp tuần tự khám phá; quy trình đo lường các biến dồn tích điều chỉnh ($DA$) theo Jones (1991) và quản trị lợi nhuận qua hoạt động kinh tế thực ($REM$) theo Roychowdhury (2006); phương pháp xử lý dữ liệu bảng (Pooled OLS, FEM, REM và Robust).
- Kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán: Vận dụng khung đánh giá nhân tố tổng hợp HĐQT và BKS như một quy trình nhận diện rủi ro sai sót trọng yếu và gian lận BCTC khi thực hiện đánh giá môi trường kiểm soát theo chuẩn mực kiểm toán.
- Cơ quan quản lý thị trường chứng khoán: Tham khảo cơ sở thực nghiệm để xây dựng thang đo chỉ số QTCT chuẩn hóa cho các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam.
- Các nhà quản trị doanh nghiệp sản xuất: Nhận thức rõ các tiêu chuẩn quản trị nội bộ cần hoàn thiện để ngăn ngừa các rủi ro liên quan đến chất lượng thông tin kế toán.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao luận án lựa chọn nghiên cứu riêng nhóm công ty sản xuất niêm yết thay vì toàn bộ các công ty niêm yết?
Theo số liệu thống kê quốc gia, ngành công nghiệp sản xuất đóng vai trò huyết mạch đối với tăng trưởng kinh tế, dẫn đầu về tỷ trọng đóng góp vào GDP (tăng 9,7% trong quý 1 năm 2018). Tuy nhiên, theo các khảo sát thực nghiệm tại Việt Nam (như công trình của Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016), đây lại là nhóm ngành có chất lượng báo cáo tài chính thấp nhất và xảy ra nhiều sự cố điều chỉnh lợi nhuận lớn sau kiểm toán. Trong khi các nghiên cứu trước đây chủ yếu gộp chung tất cả các ngành, luận án chọn nghiên cứu chuyên biệt nhóm công ty sản xuất để phản ánh chính xác đặc thù ngành và đưa ra các giải pháp có tính ứng dụng cao.
2. Nhân tố tổng hợp Hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban kiểm soát (BKS) trong luận án gồm những tiêu chí cụ thể nào?
Căn cứ vào kết quả phỏng vấn sâu chuyên gia và Thông tư 121/2012/TT-BTC:
- Nhân tố tổng hợp HĐQT gồm 5 đặc điểm: (1) Quy mô HĐQT; (2) Tỷ lệ thành viên độc lập; (3) Trình độ chuyên môn/kinh nghiệm tài chính kế toán; (4) Sự kiêm nhiệm hai chức danh Chủ tịch HĐQT và Giám đốc điều hành; (5) Số lần họp HĐQT.
- Nhân tố tổng hợp BKS gồm 4 đặc điểm: (1) Quy mô BKS; (2) Tỷ lệ thành viên độc lập; (3) Trình độ chuyên môn tài chính kế toán; (4) Số lần họp BKS.
3. Luận án sử dụng những mô hình nào để đo lường hai dạng hành vi quản trị lợi nhuận?
- Quản trị lợi nhuận trên cơ sở dồn tích (AEM): Luận án sử dụng mô hình gốc của Jones (1991) để tính toán biến dồn tích điều chỉnh ($DA$), do mô hình này được thiết kế dựa trên các công ty công nghiệp sản xuất và kiểm soát tốt sự biến động của doanh thu và tài sản cố định.
- Quản trị lợi nhuận thông qua hoạt động kinh tế thực (REM): Luận án áp dụng mô hình của Roychowdhury (2006) để đo lường mức độ bất thường thông qua 3 thành phần: dòng tiền hoạt động kinh doanh bất thường ($CFO$), chi phí sản xuất bất thường ($PROD$), và chi phí hữu ích/chi phí thời kỳ bất thường ($DISEXP$).
4. Quy trình xử lý kinh tế lượng của luận án đã khắc phục các khuyết tật mô hình dữ liệu bảng như thế nào?
Trong quá trình ước lượng phương trình hồi quy đa biến:
- Tác giả thực hiện kiểm định đa cộng tuyến qua hệ số VIF, kiểm định Hausman để chọn lựa giữa mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM).
- Đối với hiện tượng tự tương quan (kiểm định Woolridge) và phương sai sai số thay đổi, luận án đã sử dụng mô hình hồi quy với sai số chuẩn vững (Pooled OLS - Robust cho mô hình biến phụ thuộc $DA$ và FEM cho mô hình biến phụ thuộc $REM$) để đảm bảo các ước lượng thu được không bị chệch và có độ tin cậy thống kê cao.
5. Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu đối với công tác kiểm toán độc lập theo Chuẩn mực kiểm toán số 315 là gì?
Chuẩn mực kiểm toán số 315 (VSA 315) yêu cầu kiểm toán viên phải tìm hiểu đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động để xác định, đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu. Kết quả luận án chỉ ra rằng nhân tố tổng hợp HĐQT và BKS có mối quan hệ nghịch chiều có ý nghĩa với hành vi QTLN. Do đó, kiểm toán viên có thể sử dụng chỉ số tổng hợp HĐQT và BKS như một công cụ hỗ trợ để đánh giá nhanh chất lượng hệ thống kiểm soát nội bộ: doanh nghiệp có chỉ số QTCT tổng hợp càng cao thì rủi ro phát sinh sai sót trọng yếu do QTLN càng thấp, giúp tối ưu hóa việc phân bổ nguồn lực và lập kế hoạch kiểm toán.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Nhật Phương Diễm đã giải quyết khoảng trống nghiên cứu về tác động của QTCT đến hành vi quản trị lợi nhuận tại các công ty sản xuất niêm yết ở Việt Nam thông qua cách tiếp cận nhân tố tổng hợp. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu hỗn hợp tuần tự khám phá, luận án đã xác lập cấu trúc nhân tố tổng hợp HĐQT và BKS, đồng thời kiểm định thực nghiệm tác động kìm hãm của các nhân tố này đối với cả hai hình thức QTLN dồn tích ($AEM$) và QTLN qua hoạt động kinh tế ($REM$). Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở lý luận vững chắc dựa trên lý thuyết đại diện và lý thuyết tới hạn, đồng thời cung cấp các bằng chứng thực tiễn hỗ trợ cơ quan quản lý, doanh nghiệp niêm yết và kiểm toán viên trong việc nâng cao chất lượng thông tin báo cáo tài chính.