Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ MÔ HÌNH QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1 Khái quát về quản trị công ty cổ phần và mô hình quản trị công ty cổ phần 1.1 Khái niệm về quản trị công ty cổ phần. Trước khi tìm hiểu khái niệm về quản trị công ty cổ phần, chúng ta cần phải hiểu rõ quản trị công ty (Corporate Governance) là gì? Từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu đã cố gắng đưa ra một khái niệm quản trị công ty một cách bao quá nhất, tuy nhiên, thực tế cho thấy, với mỗi một thể chế khác nhau, môi trường hoạt động khác nhau thì khó có thể đưa ra một khái niệm thống nhất có thể bao trùm và phản ánh đầy đủ về các đặc trưng về quản trị công ty có thể áp dụng cho mọi trường hợp và mọi thể chế. Quản trị công ty là một yếu tố then chốt để đẩy mạnh yếu tố thị trường, phát triển kinh tế cũng như tăng cường lòng tin của các nhà đầu tư. Quản trị công ty nó liên quan đến một tập hợp các mối quan hệ giữa Ban Giám đốc, Hội đồng Quản trị, cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan khác.
Quản trị công ty cũng thiết lập cơ cấu giúp xây dựng các mục tiêu của công ty,xác định các mục tiêu đó, và giám sát hiệu quả thực hiện các mục tiêu. Quản trị công ty tốt cần tạo được sự khuyến khích đối với Hội đồng Quản trị và Ban Giám đốc để thực hiện các mục tiêu vì lợi ích công ty và cổ đông, và phải tạo điều kiện giám sát hiệu quả.Sự tồn tại của hệ thống quản trị công ty hiệu quả trong phạm vi một công ty và trong cả nền kinh tế nói chung góp phần tạo ra sự tin tưởng là nền tảng cho sự vận hành của cả nền kinh tế thị trường.Nhờ đó, chi phí vốn thấp hơn và công ty được khuyến khích sử dụng các nguồn lực hiệu quả hơn, và vì thế củng cổ sự phát triển. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong cuốn “ Cẩm nang quản trị công ty ( xuất bản năm 2010) IFC đã khái quát Quản trị công ty như sau: Quản trị công ty là một hệ thống các mối quan hệ, được xác định bởi các cơ cấu và các quy trình (11,tr6). Đó là mối quan hệ giữa chủ sở hữu với người làm công, giữa người quản lý và người điều hành, và mối quan hệ giữa chính chủ sở hữu với xã hội, cộng đồng.Điển hình cho mối quan hệ giữa chủ sở hữu và người làm công là mối quan hệ giữa cổ đông và Ban giám đốc công ty khi các cổ đông cung cấp vốn cho Doanh nghiệp nhằm thu về lợi nhuận, và ngược lại.Ban giám đốc có trách nhiệm duy trì hoạt động kinh doanh nhằm đem về cho cổ đông lợi nhuận mong muốn.Cổ đông của Công ty cũng có mối quan hệ với HĐQT, BKS khi họ bầu ra các cơ quan này nhằm đại diện cho quyền lợi của mình, giám sát hoạt động của Ban Giám đốc,HĐQT,BKS đưa ra định hướng chiến lược cho Ban giám đốc và giám sát hoạt động của Ban giám đốc; đến lượt mình HĐQT,BKS lại chịu trách nhiệm trước các cổ đông thông qua ĐHĐCĐ (11,tr7).
Quản trị công ty cổ phần, gọi tắt là quản trị công ty, còn được hiểu là một hệ thống các thiết chế, chính sách, luật lệ,nhằm định hướng, vận hành và kiểm soát doanh nghiệp. Quản trị công ty cũng bao hàm mối quan hệ giữa nhiều bên, không chỉ trong nội bộ công ty cổ phần như các cổ đông, Ban Giám đốc điều hành, HĐQT mà còn những bên có lợi ích liên quan bên ngoài công ty, cơ quan quản lý Nhà nước, các đối tác kinh doanh và cả môi trường, cộng đồng, xã hội. Vào năm 1999, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD – Organization for Economic Cooperation and Development) đã xuất bản một tài liệu mang tên “Các nguyên tắc Quản trị công ty” (OECD Principles of Corporate Governance), trong đó đưa ra định nghĩa chi tiết về Quản trị công ty như sau: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Quản trị công ty là những biện pháp n i b để điều hành và kiểm soát công ty […], liên quan tới các mối quan hệ giữa Ban giám đốc, H i đồng quản trị và các cổ đông của công ty với các bên có quyền lợi liên quan. Quản trị công ty cũng tạo ra m t cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt đ ng của công ty.
Quản trị công ty chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được Ban giám đốc và H i đồng quản trị theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt đ ng của công ty m t cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực m t cách tốt hơn”. Theo tổ chức tài chính quốc tế (IFC – International Finance Corporation), Quản trị công ty là “những cơ cấu và những quá trình để định hướng và kiểm soát công ty”. Theo Ngân hàng thế giới (World Bank), “Quản trị công ty là m t hệ thống các yếu tố pháp luật, thể chế và thông lệ quản lý của các công ty. Nó cho phép công ty có thể thu hút được các nguồn tài chính và nhân lực, hoạt đ ng có hiệu quả và nhờ vào đó tạo ra các giá trị kinh tế lâu dài cho các cổ đông, trong khi vẫn tôn trọng quyền lợi của những người có lợi ích liên quan và của xã h i.
Đặc điểm cơ bản nhất của m t hệ thống Quản trị công ty là: (i) Tính minh bạch của các thông tin tài chính, kinh doanh và quá trình giám sát n i b đối với hoạt đ ng quản lý; (ii) Đảm bảo thực thi các quyền của tất cả các cổ đông; (iii) Các thành viên trong H i đồng quản trị có thể hoàn toàn đ c lập trong việc thông qua các quyết định, phê chuẩn kế hoạch kinh doanh, tuyển dụng người quản lý, trong việc giám sát tính trung thực và hiệu quả của hoạt đ ng quản lý và trong việc miễn nhiệm người quản lý khi cần thiết. Tại Việt Nam, trong khuôn khổ quy định về Quản trị công ty, Điều 2, Quy chế Quản trị công ty niêm yết ban hành kèm theo Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ngày 13/03/2007 quy định “Quản trị công ty là hệ thống 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát m t cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty”. Cũng theo điều này, các nguyên tắc quản trị công ty bao gồm: (i) Đảm bảo một cơ cấu quản trị hiệu quả; (ii) Đảm bảo quyền lợi của cổ đông; (iii) Đối xử công bằng giữa các cổ đông; (iv) Đảm bảo vai trò của những người có liên quan đến công ty; (v) Minh bạch trong hoạt động của công ty; và (vi) Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát lãnh đạo và kiểm soát công ty có hiệu quả. Quản trị công ty tạo lập một khuôn khổ cho các mối quan hệ giữa các cổ đông, hội đồng quản trị, ban kiểm soát và những người liên quan khác của công ty.
Đồng thời, các nguyên tắc quản trị công ty đặt ra các quy trình, thủ tục ban hành các quyết định trong công ty, qua đó ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực và chức vụ, giảm thiểu những rủi ro. Theo Luật Công ty của Vương quốc Anh năm 1985 cho rằng “Quản trị công ty là m t thiết chế pháp lý về mối quan hệ giữa cổ đông, các nhà quản lý và Kiểm soát viên”. Theo luật gia Nguyễn Ngọc Bích, quản trị công ty (tác giả sử dụng từ “lèo lái công ty” – corporate govermance) là một tập hợp các cơ chế có liên quan đến việc điều hành và kiểm soát công ty. Nó đề ra cách phân chia quyền hạn và nghĩa vụ giữa các thành viên của công ty bao gồm cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban giám đốc và những người có lợi ích có liên quan khác [22, tr.
Như vậy, mục đích chủ yếu của quản trị công ty là bảo vệ thích đáng quyền lợi của các cổ đông trong công ty. Theo quan điểm của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, quản trị công ty là một tập hợp các cơ chế có liên quan đến điều hành và quản lý công ty, đề ra các phương pháp phân chia quyền lực giữa các nhân tố tác động đến công ty bao gồm cổ đông, Hội đồng quản trị, bộ máy điều hành và các đối tượng khác (người lao động, chủ nợ, nhà cung cấp, đại lý bao tiêu)” (tr23). Có thể thấy việc quan điểm trên khá tương đồng với cách địa nghĩa của OECD. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có thể thấy, tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau về quản trị công ty, nhưng dù diễn đạt theo cách nào đi chăng nữa thì quản trị công ty phải có những đặc điểm sau: - Quản trị công ty tạo ra cơ cấu, hệ thống các mối quan hệ, các thiết chế, chính sách liên quan đến công ty.
Chẳng hạn, mối quan hệ giữa các cổ đông và Ban Giám đốc bao gồm việc các cổ đông cung cấp vốn cho Ban Giám đốc để thu được lợi suất mong muốn từ khoản đầu tư (cổ phần) của mình. Các cổ đông bầu ra một thể chế giám sát, thường được gọi Ban kiểm soát để đại diện cho quyền lợi của mình giám sát Ban Giám đốc, và thể chế giám sát này lại chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị. Các cơ cấu và các quy trình xác định những mối quan hệ này thường xoay quanh các cơ chế quản lý năng lực hoạt động và các cơ chế bao cáo khác nhau. Các mối quan hệ này nhiều khi liên quan tới các bên có các lợi ích khau nhau, đôi khi là lợi ích xung đột.
Sự khác biệt về lợi ích có thể tồn tại ở các bộ phận quản trị công ty (Chẳng hạn như xung đột lợi ích giữa các chủ sở hữu và các thành viên Ban Giám đốc) hay có thể tồn tại trong mỗi bộ phận quản trị (Chẳng hạn giữa các cổ đông đa số và thiểu số, cá nhân và tổ chức, kiểm soát và không kiểm soát). Các công ty cần phải xem xét và đảm bảo sự cân bằng giữa các lợi ích xung đột này.