CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẠI CHÚNG 1. Lý luận chung về Hội đồng quản trị công ty đại chúng 1. Khái niệm Hội đồng quản trị công ty đại chúng Thuật ngữ “quản trị công ty” xuất phát từ thuật ngữ “Corporate governance” xuất hiện lần đầu vào năm 1962 trong cuốn sách “The Government of Corporations” của tác giả Richard Eells. Theo OECD: “Quản trị công ty bao gồm việc thiết lập mối quan hệ giữa cơ cấu quản lý công ty, hội đồng quản lý công ty, các cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan khác nhau.
Quản trị công ty cũng cung cấp cấu trúc mà thông qua đó các mục tiêu của công ty được thực hiện và những biện pháp để đạt được những mục tiêu và khả năng giám sát được xác định”4. Theo Ngân hàng thế giới: “QTCT là một hệ thống các yếu tố pháp luật, thể chế và thông lệ quản lý công ty, nó cho phép công ty có thể thu hút được các nguồn tài chính và nhân lực, hoạt động có hiệu quả, nhờ đó tạo ra các giá trị kinh tế lâu dài cho các CĐ, trong khi vẫn tôn trọng quyền lợi của những người có lợi ích liên quan và của xã hội”5. CTĐC là tình trạng pháp lý mà một CTCP có thể đạt đến khi tiến hành một số bước chuyển về quy mô vốn và cơ cấu quản trị, một công ty cũng có thể được thành lập với tình trạng CTĐC. Để đạt đến trạng thái CTĐC, các yêu cầu cần đáp ứng bao gồm: (1) Khả năng công chúng có thể sở hữu CP công ty thông qua hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng; hoặc (2) Quy mô vốn điều lệ đạt được ở một mức độ nhất định, đi kèm là quy mô về số lượng CĐ có quyền biểu quyết.
Chính vì vậy, loại hình CTĐC có đặc điểm là số lượng CĐ nhiều, quy mô vốn lớn, có sự tách bạch giữa các CĐ và người quản lý, sử dụng vốn. Về bản chất, CTĐC mang đầy đủ những đặc trưng của một CTCP như: Thứ nhất, vốn điều lệ (VĐL) được chia thành nhiều phần bằng nhau; 8 Thứ hai, CĐ có thể là tổ chức, cá nhân; yêu cầu về số lượng cổ đông tối thiểu và không hạn chế số lượng tối đa; Thứ ba, CĐ chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã góp vào DN; Thứ tư, CĐ có quyền tự do chuyển nhượng CP của mình cho người khác, trừ trường hợp bị pháp luật hạn chế cụ thể; Thứ năm, tương tự CTCP thông thường, CTĐC có quyền phát hành CP, trái phiếu và các loại chứng khoán khác của công ty. Tuy nhiên, CTĐC mang một số đặc trưng nổi trội và được yêu cầu tuân thủ có phần nghiêm ngặt hơn so với CTCP thông thường: Thứ nhất, mục đích thành lập: một trong những mục đích chính của việc thành lập và/hoặc đăng ký CTĐC là huy động vốn từ cộng đồng đầu tư và giao dịch cổ phiếu công khai, tập trung trên TTCK. Huy động vốn rộng rãi là phương thức hiệu quả để tăng nguồn lực tài chính với quy mô lớn trong thời gian ngắn, tạo nền tảng mở rộng, phát triển hoạt động kinh doanh của công ty hoặc giảm nợ, đồng thời tạo lợi nhuận cho chính các cổ đông góp vốn.
Cần nhấn mạnh, tiềm lực tài chính là một điều kiện thuận lợi đối với việc thành công từ tìm kiếm cơ hội, tham gia giao dịch, thực hiện dự án lớn và có tính chất phức tạp. Thứ hai, quy mô: như đã đề cập ở trên, CTĐC có quy mô lớn hơn so sánh với CTCP thông thường, khi đặt ra yêu cầu tối thiểu về mức vốn điều lệ đã góp, số lượng cổ đông tối thiểu, hoặc công ty đã thực hiện chào bán thành công cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Thứ ba, cơ quan cấp phép và quản lý: ngoài Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh, thành phố nơi DN đặt trụ sở chính, CTĐC còn có trách nhiệm đăng ký và chịu sự quản lý của Ủy ban chứng khoán nhà nước. 9 Thứ tư, nghĩa vụ cần lưu ý: bên cạnh nghĩa vụ của một DN tổ chức dưới loại hình CTCP, CTĐC để đảm bảo tính minh bạch trong tổ chức và hoạt động còn phải tuân thủ chặt chẽ những nghĩa vụ sau đây: • Công bố thông tin theo quy định của pháp luật Chứng khoán.
Nội dung công bố gồm: báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, báo cáo tình hình QTCT; họp ĐHĐCĐ; mua lại cổ phiếu của công ty; giao dịch xung đột lợi ích; tỷ lệ sở hữu vốn nước ngoài… • Tuân thủ quy định về QTCT: Điều lệ công ty và Quy chế nội bộ phải tuân thủ mẫu do pháp luật quy định; chủ tịch HĐQT không được kiêm GĐ/TGĐ;… • Thực hiện đăng ký cổ phiếu tập trung tại Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam. • Đăng ký giao dịch cổ phiếu trên hệ thống giao dịch cho chứng khoán chưa niêm yết và/hoặc đăng ký niêm yết đối với CTĐC hình thành do đáp ứng điều kiện về quy mô vốn tối thiểu hoặc số lượng cổ đông tối thiểu. • Đưa cổ phiếu vào niêm yết hoặc đăng ký giao dịch trên hệ thống giao dịch chứng khoán sau khi kết thúc đợt chào bán ra công chúng đối với CTĐC hình thành do chào bán thành công cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Qua những nội dung đã tìm hiểu ở trên, tác giả đưa ra cách nhìn khái quát về QTCTĐC dưới góc độ pháp lý như sau: Thứ nhất, theo nghĩa rộng, QTCTĐC là các quy định, cơ chế tổ chức CTĐC một cách có hiệu quả vì lợi ích của chính công ty đó và của toàn xã hội, theo đó chủ yếu xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể quản lý, giám sát công ty và các cơ chế đảm bảo thực hiện.
Thứ hai, theo nghĩa hẹp, QTCTĐC có thể được hiểu là chế định về quản lý nội bộ CTĐC, điều chỉnh mối quan hệ giữa các CSH với nhau, giữa họ với bộ máy quản lý điều hành công ty qua đó giảm thiểu nguy cơ lạm dụng chức vụ, rủi ro không cần thiết. 10 Những nội dung kể trên đã cung cấp cho ta cái nhìn toàn diện về QTCT, vậy ta cũng có thể hình dung về HĐQT – là cơ quan thực hiện nhiệm vụ QTCT. HĐQT CTĐC là cơ quan của CTĐC và thực hiện nhiệm vụ QTCTĐC, có toàn quyền nhân danh CTĐC để quyết định, thực hiện quyền và nghĩa vụ của CTĐC, trừ các quyền và nghĩa vụ thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ và chịu sự kiểm soát của ĐHĐCĐ. HĐQT CTĐC có những đặc điểm sau: đây là cơ quan có chức năng quản lý CTĐC; là cơ quan đại diện cho CTĐC trong thực hiện một số quyết định quan trọng; có tính độc lập trong hoạt động quản trị công ty để đảm bảo môi trường hoạt động của CTĐC có tính công bằng, công khai, minh bạch.
Vai trò của Hội đồng quản trị trong công ty đại chúng Tại Việt Nam, trước khi LCK ra đời, pháp luật về chứng khoán cũng như TTCK chưa có cơ sở pháp lý hay định nghĩa về CTĐC. Tuy nhiên, thực tế đã xuất hiện mô hình CTĐC dưới dạng: (1) Các công ty CTĐC niêm yết phát hành số lượng lớn chứng khoán ra công chúng; (2) Các CTCP phát hành chứng khoán riêng lẻ nhiều lần có số lượng cổ đông lớn; (3) DN Nhà nước thực hiện CP hoá. CTĐC là tình trạng pháp lý mà một CTCP có thể đạt đến khi tiến hành một số bước chuyển về quy mô vốn và cách thức quản trị, một công ty cũng có thể tổ chức với tình trạng CTĐC ngay từ khi mới thành lập. CTĐC có đặc điểm là số lượng CĐ nhiều, quy mô vốn lớn, tại CTĐC luôn có sự tách bạch giữa CĐ và người quản lý, sử dụng vốn.
HĐQT CTĐC đóng một vai trò rất quan trọng đối với hoạt động và sự phát triển của CTĐC. Về cơ bản, các vai trò của HĐQT CTĐC bao gồm vai trò quản lý và vai trò giám sát đối với CTĐC. Về vai trò quản lý, HĐQT CTĐC là cơ quan lập ra các kế hoạch kinh doanh, đưa ra định hướng phát triển, hoạch định các chiến lược tăng trưởng cho công ty. CTĐC có đặc thù hoạt động trên TTCK nên HĐQT CTĐC còn phải có trách nhiệm đưa ra các quyết định liên quan đến chứng khoán của công ty như giá bán, giá mua,.đồng thời là cơ quan thực hiện quản lý các biện pháp phòng ngừa rủi ro đối với công ty mình.
HĐQT 11 CTĐC với vị trí của mình có thể đưa ra các quyết định quan trọng liên quan đến các giao dịch thuộc thẩm quyền phê duyệt, đảm bảo lợi ích tối đa cho NĐT và các bên cùng chia sẻ quyền lợi. HĐQT CTĐC cũng là cơ quan quyết định các vấn đề liên quan đến cơ cấu, quy chế nội bộ, xây dựng chính sách của công ty. Để đảm bảo một CTĐC có đội ngũ cán bộ quản lý chất lượng, HĐQT CTĐC còn có thể thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý để đảm bảo chất lượng của người kế nhiệm. Về vai trò giám sát, HĐQT CTĐC thực hiện vai trò này qua quá trình giám sát hoạt động và điều phối, chỉ đạo hoạt động của bộ máy nội bộ CTĐC.
HĐQT CTĐC thực hiện giám sát hoạt động kinh doanh, sử dụng vốn công ty của các cơ quan, cán bộ cấp dưới. Ngoài ra, HĐQT CTĐC còn phải thực hiện giám sát, đảm bảo tính minh bạch đối với các dữ liệu liên quan tới tình hình hoạt động của công ty. Mối quan hệ của Hội đồng quản trị công ty đại chúng với các cơ quan khác trong công ty đại chúng (Xem hình 1 dưới đây) 12 Hình 1: Sơ đồ mô hình tổ chức của một công ty đại chúng (Nguồn: Fastdo.vn) Mối quan hệ giữa các cổ đông và HĐQT (hay dịch sát nghĩa từ thuật ngữ tiếng Anh mà các nước theo hệ thống thông luật thường sử dụng là ban giám đốc – board of directors) chịu sự ảnh hưởng sâu sắc của học thuyết đại diện (agency theory) và chế định tín thác (trust)6. Theo đó, mối quan hệ này được xem là quan hệ hợp đồng uỷ thác mà trong đó các cổ đông (người uỷ thác – trustor) trao quyền / uỷ thác cho toàn bộ các thành viên của HĐQT (người nhận uỷ thác hay còn được gọi là người thụ uỷ – trustee) để hành động cho và vì lợi ích của công ty (người thụ hưởng – beneficiary) cũng như định đoạt các tài sản của công ty7.