Chương 1 trình bày những vấn đề chung về nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, và những đóng góp của đề tài và bố cục đề tài. - Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM Chương 2 trình bày nội dung cơ sở lý thuyết quản trị, hiệu quả hoạt động của ngân hàng, tổng kết các mô hình nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của quản trị đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng để làm cở sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu ở chương sau. - Chương 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Dựa trên cở sở lý thuyết chương 2, chương 3 đề cập về mô hình nghiên cứu, các biến nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu đã sử dụng trong luận văn nhằm thu được kết quả phù hợp với mục tiêu đề ra. - Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương 4 thực hiện thống kê mô tả các biến trong mô hình, thực hiện các kiểm định mô hình nghiên cứu, phân tích tương quan giữa các biến trong mô hình và phân tích tác động của các nhân tố tác động đến tăng trưởng tín dụng.Từ kết quả đó đưa ra mô hình hồi quy phù hợp thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố nội tại ngân hàng, yếu tố kinh tế vĩ mô và tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại cổ phần.
- Chương 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 6 Chương 5 đánh giá kết quả nghiên cứu của đề tài, những hạn chế và hướng phát triển tiếp theo. Từ đó đưa ra một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM CP Việt Nam thông qua các yếu tố thuộc quản trị công ty. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM 2.1 Quản trị ngân hàng 2.1 Các lý thuyết về quản trị 2.1 Lý thuyết đại diện (Agency theory) Lý thuyết người đại diện xuất phát từ sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý công ty. Sự tách biệt này càng trở nên phổ biến khi các công ty ngày càng lớn mạnh và mở rộng về quy mô, chủ sở hữu không đủ khả năng để tham gia điều hành công ty mà họ sẽ có xu hướng thuê người để điều hành công ty.
Tuy nhiên, có sự mâu thuẫn giữa người chủ sở hữu và người quản lý chính là những người đại diện trong việc điều hành hoạt động công ty khi đề cập đến lợi ích của riêng họ. Do đó, Vấn đề người đại diện là một trong những vấn đề lâu đời vẫn tồn tại kể từ sự phát triển của các công ty cổ phần. Với sự thay đổi của thời gian, vấn đề người đại diện đã có những hình dạng khác nhau và các tài liệu đã có bằng chứng về vấn đề này. Các tổ chức ngày nay luôn tập trung nhiều vào mối quan hệ giữa chủ sở hữu (principal) và nhà quản lý (agent) để đảm bảo tối đa hóa giá trị công ty.
Ngành ngân hàng ngày nay cũng tồn tại nhiều vấn đề về mối quan hệ này và mâu thuẫn luôn xảy ra trong hoạt động tài chính (Shah, 2014). Lý thuyết này được gọi là lý thuyết đại diện (Agency theory). Lý thuyết đại diện được công nhận bởi Jensen & Meckling (1976) và sau đó là Fama và Jensen (1983). Cốt lõi của lý thuyết này là việc sắp xếp các quyền lợi xung đột thông qua việc tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý trong tổ chức (Nguyễn Kim Quốc Trung, 2018).
Theo Jensen và Meckling (1976), lý thuyết người đại diện cho rằng khi có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý sẽ nảy sinh mâu thuẫn giữa người chủ sở hữu và người điều hành. Người điều hành không phải lúc nào cũng hành động vì lợi ích tốt nhất của cổ đông. Có thể xảy ra những trường hợp như sau: 8 + Ban điều hành sử dụng tiền để mở rộng hoạt động kinh doanh, khiến vị trí của họ ổn định hơn, lương và quyền lực lớn hơn. + Chế độ đãi ngộ, lương thưởng và những khoản trợ cấp rất lớn của người điều hành được tính vào chi phí kinh doanh mà cổ đông phải gánh chịu.
+ Cán bộ điều hành có thể tham gia những khoản đầu tư mạo hiểm nhằm thu lợi ngắn hạn. Dựa trên lý thuyết người đại diện, việc kiêm nhiệm sẽ giúp giảm sự xung đột lợi ích giữa nhà quản lý và chủ sở hữu; tác giả đề xuất giả thuyết nghiên cứu: H1: tỉ lệ kiêm nhiệm trong HĐQT ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh 2.2 Lý thuyết quản lý (Stewardship theory) Lý thuyết quản lý là một khuôn khổ cho rằng mọi người về bản chất có động cơ làm việc cho người khác hoặc cho tổ chức để hoàn thành nhiệm vụ và trách nhiệm mà họ được giao phó. Do đó, mọi người có tư duy tập thể và ủng hộ tổ chức hơn là chủ nghĩa cá nhân và do đó làm việc hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức, nhóm hoặc xã hội bởi vì làm như vậy mang lại cho họ mức độ hài lòng cao hơn. Vì vậy, lý thuyết quản lý cung cấp một khuôn khổ để mô tả các động cơ thúc đẩy hành vi của nhà quản trị trong các loại hình tổ chức khác nhau.
Người quản lý là người đảm nhận trách nhiệm quan tâm một thứ gì đó thay cho một người hoặc một nhóm người khác. Do đó, người quản lý không có quyền sở hữu đối với những gì họ có trách nhiệm quan tâm, tuy nhiên, thực hiện nhiệm vụ của mình một cách tận tâm vì họ phải báo cáo công việc của họ cho chủ sở hữu. Nhìn chung nhà quản trị chú trọng đến tài sản hoặc tài sản của người khác, mặc dù căn cứ theo khái niệm là nhà quản trị cũng có thể áp dụng cho việc nhận trách nhiệm chăm sóc người khác. Đặc điểm chính của người quản trị là trách nhiệm giải trình đối với hành động của mình.
Do đó, nghĩa vụ giải trình đòi hỏi người quản lý phải đưa ra quyết định và thực hiện các hành động có lợi cho chủ sở hữu bất kể hành vi đạo đức. 9 Lý thuyết quản lý đã được phát triển như một khuôn khổ để hiểu các động cơ thúc đẩy hành vi của một quản lý trong bối cảnh tổ chức và xã hội. Do đó, lý thuyết quản lý khác với lý thuyết đại diện (the agency theory) dựa trên chủ nghĩa cá nhân và cho rằng động cơ làm cơ sở cho hành vi của mọi người trong tổ chức là sự thỏa mãn cho lợi ích của họ. Ngược lại, lý thuyết quản lý lập luận rằng những người với tư cách là người quản lý có tư duy tập thể và ủng hộ tổ chức, do đó có được lợi ích cao hơn khi làm việc hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức, nhóm hoặc xã hội.
Điều này không có nghĩa là người quản lý không chú trọng đến mục tiêu cá nhân của họ. Các quản lý nhận ra sự đánh đổi giữa nhu cầu cá nhân và mục tiêu của tổ chức nhưng tin rằng bằng cách làm việc để đạt được các mục tiêu của tổ chức hoặc tập thể, nhu cầu cá nhân của họ cũng sẽ được đáp ứng (Davis & cộng sự, 1997). Việc thể hiện hành vi có đạo đức của nhà quản lý trong thực tế đòi hỏi phải chấp nhận rủi ro để hành động theo những cách sẽ duy trì các nguyên tắc và tiêu chuẩn đạo đức bất chấp tác động tiềm tàng của nó đối với phúc lợi cá nhân và nghề nghiệp như lòng tự trọng và danh tiếng của cá nhân. Sự phát triển của lý thuyết quản lý là một phần của việc tìm kiếm rộng rãi hơn các lý thuyết thay thế để mô tả mối quan hệ giữa một bên là các nhà quản lý với các cổ đông và các bên liên quan khác, bên ngoài đặc tính chi phối lý thuyết đại diện.
Mục đích của việc phát triển lý thuyết như vậy là để giúp xác định rõ một mô hình quản trị thay thế trong các tổ chức doanh nghiệp và các tổ chức khác. Trong các tập đoàn được tổ chức quy mô lớn, mô hình quản trị dựa trên lý thuyết quản lý sẽ có những đặc điểm khác biệt và đôi khi hoàn toàn trái ngược với những đặc điểm mà lý thuyết đại diện đã đề cập. Dựa trên lý thuyết Quản Lý, việc quy mô HĐQT tăng lên đồng nghĩa với việc có nhiều nhà quản lý sẽ càng có nhiều người hoạt động vì lợi ích chung, do đó tác giả đề xuất giả thuyết nghiên cứu: H2: quy mô HĐQT có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh 10 2.3 Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory) Lý thuyết bên liên quan là quan điểm của chủ nghĩa tư bản nhấn mạnh các mối quan hệ kết nối giữa một doanh nghiệp và khách hàng, nhà cung cấp, nhân viên, nhà đầu tư, cộng đồng và những người khác có cổ phần trong tổ chức. Lý thuyết cho rằng một công ty nên tạo ra giá trị cho tất cả các bên liên quan, không chỉ cho các cổ đông.
Năm 1984, Freeman ban đầu đã trình bày chi tiết Lý thuyết các bên liên quan về quản lý tổ chức và đạo đức kinh doanh đề cập đến các đạo đức và giá trị trong việc quản lý một tổ chức. Freeman (1984) đã đề cập đến phương pháp tiếp cận các bên liên quan xác định và mô hình hóa các nhóm là các bên liên quan của một công ty, đồng thời mô tả và đề xuất các phương pháp mà ban lãnh đạo có thể quan tâm đúng mức đến lợi ích của các nhóm đó. Các bên có liên quan là những nhóm cá nhân hoặc tổ chức có những lợi ích hợp pháp theo từng khía cạnh riêng biệt và có những mục tiêu khác nhau. Từ góc độ các bên liên quan, kinh doanh có thể được hiểu là một tập hợp các mối quan hệ giữa các nhóm có cổ phần trong các hoạt động tạo nên doanh nghiệp (Freeman, 1984; Jones, 1995; Walsh, 2005).
Đó là về cách khách hàng, nhà cung cấp, nhân viên, nhà tài chính (chủ sở hữu cổ phiếu, trái chủ, ngân hàng…), cộng đồng và nhà quản lý tương tác để cùng tạo ra và giao dịch giá trị. Để hiểu một doanh nghiệp là biết các mối quan hệ này hoạt động và thay đổi như thế nào theo thời gian.