Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương 2 trình bày các vấn đề tổng quan về lý thuyết CBTT, các khái niệm, yêu cầu và chỉ số đo lường về mức độ CBTT, tổng hợp các bài nghiên cứu có liên quan CBTT. Trong chương này tác giả còn tìm hiểu mối quan hệ giữa nhân tố ảnh hưởng với thông tin được công bố của các DN niêm yết trên sàn chứng khoán. Dựa vào các khái niệm, lý thuyết về CBTT và các nghiên cứu trước tác giả có cơ sở để đề xuất các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu.1 Khái niệm, phân loại về công bố thông tin 2.1 Một số khái niệm 2.1 Khái niệm về thông tin và CBTT Thông tin là những sự kiện, con số được thể hiện bằng hình thức hữu ích cho đối tượng sử dụng để phục vụ cho việc hoạch định chính sách và ra quyết định kinh tế. Việc nắm bắt và cập nhật thông tin thường xuyên rất có ích với việc ra quyết định vì nó giảm sự không chắc chắn và gia tăng tri thức về các hoạch định mà người sử dụng muốn hướng đến (Gelinas, Dull và cộng sự, 2012).
Nghiên cứu của Viên Thế Giang (2008) tiếp cận với khái niệm thông tin công bố trên TTCK có thể nhìn nhận dưới 3 góc độ: góc độ về kinh tế, xã hội và pháp lý. + Dưới góc độ kinh tế, thông tin công bố trên TTCK là toàn bộ các thông tin phản ánh tình hình tài chính của DN trong những giai đoạn phát triển khác nhau và được thể hiện thông qua các BCTC của DN. Qua kênh thông tin này ta có thể thấy được mức độ “lành mạnh” của tình hình tài chính của DN, cũng như tiềm năng, khả năng sinh lợi của doanh nghiệp ở hiện tại và tương lai thông qua các báo cáo phân tích về tài chính. + Dưới góc độ xã hội, thông tin công bố trên TTCK là một bộ phận không thể thiếu của TTCK.
Thông qua kênh thông tin này các nhà đầu tư có được cái nhìn tổng thể về TTCK cũng như thông tin đối với các DN niêm yết như thông tin về tổ chức phát hành, thông tin về chỉ số chứng khoán, thông tin về diễn biến các giao dịch trên thị trường. phản ánh quy mô, mức độ phát triển của TTCK, khẳng định vai trò của TTCK đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. + Dưới góc độ pháp lý, thông tin công bố trên TTCK phản ảnh mức độ tuân thủ các quy định pháp luật được áp dụng đối với các chủ thể tham gia thị trường, phản ánh 6 hàng loạt các quan hệ pháp luật đa dạng phức tạp trong nội bộ của DN như quan hệ giữa cổ đông với nhà quản trị DN; Ban kiểm soát với HĐQT và giám đốc. Như vậy, dưới góc độ pháp lý, thể hiện mức độ tuân thủ pháp luật về CBTT đối với các chủ thể tham gia thị trường là điều kiện để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét quyết định cho phép tổ chức phát hành được chào bán cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn.
Nói tóm lại, CBTT trên TTCK là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền nhằm công bố các thông tin liên quan đến tổ chức và hoạt động của tổ chức phát hành, hoạt động quản lý các giao dịch CK và hoạt động quản lý nhà nước về TTCK.2 Khái niệm về TTKT và BCTC Trong các thông tin công bố thì BCTC chính là thông tin kế toán. Như vậy, thông tin kế toán là toàn bộ thông tin được cung cấp thông qua hệ thống các BCTC của một DN trong một thời kỳ nhất định (bao gồm cả các báo cáo giữa niên độ và báo cáo thường niên). Đây là thông tin quan trọng được nhiều nhà đầu tư quan tâm nhất, vì căn cứ vào đây người ta có thể thấy được kết quả kinh doanh, cũng như “sức khỏe” về tài chính của DN đó. Theo Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 01, BCTC theo nghĩa hẹp là các báo cáo trình bày về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh cũng như việc quản lý các nguồn vốn cho kinh doanh của một đơn vị kinh tế.
Tuy nhiên, theo nghĩa rộng thì BCTC không chỉ bao gồm các BCTC như trên mà còn bao gồm cả Báo cáo phân tích và đánh giá của nhà quản lý, Báo cáo kiểm toán và các báo cáo khác. Theo chuẩn mực kế toán Việt nam VAS 21, BCTC là các báo cáo kế toán cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Theo quyết định 15/2006/QĐ-BTC thì hệ thống BCTC của DN gồm có 4 biểu mẫu: Bảng CĐKT, Báo cáo KQKD, Báo cáo LCTT và TM BCTC.2 Phân loại CBTT Trong nghiên cứu của Đặng Thị Thúy Hằng (2011), CBTT được chia ra làm hai loại: công bố bắt buộc và công bố tự nguyện hay không bắt buộc. Công bố bắt buộc là những công bố kế toán được yêu cầu bởi luật pháp và những quy định của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ.
Những công bố này phải 7 được lập và trình bày theo những quy định của Luật kinh doanh, UBCK, các cơ quan quản lý về kế toán. Công bố tự nguyện chỉ như là các thông tin được cung cấp thêm nhằm thỏa mãn nhu cầu của những người sử dụng thông tin bên ngoài DN như các nhà phân tích tài chính, các công ty tư vấn, các nhà đầu tư là các tổ chức,… Theo xu hướng hiện nay thì các công bố tự nguyện đang thu hút mối quan tâm lớn của các đối tượng sử dụng và các DN cũng ngày càng thu được nhiều lợi ích hơn khi công bố các thông tin dạng này. Để kết nối một DN với rất nhiều đối tượng sử dụng thông tin khác nhau bên ngoài DN, thông tin kế toán được trình bày trong các BCTC của DN đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp những thông tin hữu ích giúp cho người sử dụng thông tin ra quyết định (Healy & Palepu, 2001; Adina & Ion, 2008). Điều này có nghĩa rằng các TTKT do DN công bố với công chúng thông qua các BCTC có ảnh hưởng thật sự đến quá trình hoạch định chính sách, các quyết định kinh tế đối với người sử dụng thông tin, đặc biệt là các nhà đầu tư (Beyer và Guttman, 2010).
Các đối tượng có nhu cầu sử dụng TTKT được công bố bởi các DN niêm yết trên sàn CK có thể tiếp cận thông tin bằng nhiều cách khác nhau như: trang mạng điện tử của doanh nghiệp, báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng. các thông tin mà đối tượng sử dụng có thể tiếp cận như: Báo cáo giữa niên độ kế toán, báo cáo thường niên năm đã được kiểm toán, CBTT bất thường khi niêm yết, CBTT theo yêu cầu. Môi trường pháp lý và các yêu cầu về thực hiện công bố thông tin.1 Môi trường pháp lý + Các văn bản pháp lý về CBTT trên TTCK: Khi các chủ thể là DN tham gia niêm yết cổ phiếu trên sàn CK thì đòi hỏi họ phải CBTT theo quy định của nhà nước. Văn bản pháp lý cao nhất của TTCK là Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29/6/2006; Luật số 62/2010/QH12 ngày 24/11/2010 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán; căn cứ Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật chứng khoán và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật chứng khoán.
Thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 05/04/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc CBTT trên TTCK. Quyết định số 07 /2013/QĐ-SGDHCM ngày 24/07/2013 của SGDCK TPHCM về việc ban hành quy chế CBTT tại sở. Đây là những văn bản pháp lý quy định cụ thể, tạo điều kiện cho các tổ 8 chức tham gia thị trường thực hiện tốt nghĩa vụ CBTT của mình, đồng thời cũng tạo thuận lợi cho việc giám sát hoạt động CBTT của những chủ thể tham gia thị trường. Luật chứng khoán và thông tư số 52/2012/TT-BTC đã thể hiện được các yêu cầu mới của hoạt động CBTT trong bối cảnh triển khai các cam kết quốc tế về CK và TTCK, đáp ứng được yêu cầu quản lý CBTT trên TTCK Việt Nam.
Song song với việc xây dựng khung pháp luật về CBTT trên TTCK, cơ quan quản lý nhà nước về CK và TTCK đã tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về CBTT, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về CBTT trên TTCK. + Các văn bản pháp lý đối với lập và trình bày BCTC. BCTC là thông tin chứa đựng tình hình tài chính của DN niêm yết trên TTCK, đây là báo cáo bắt buộc DN phải công bố định kỳ và báo cáo quyết toán năm đã được kiểm toán. Để trình bày BCTC đòi hỏi DN phải tuân thủ các văn bản pháp lý sau: - Luật kế toán số 03/2003/QH11 ngày 17/6/2003 và Nghị định số 129/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004 của Chính phủ Qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật kế toán trong hoạt động kinh doanh.
- Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ban hành Chế độ Kế toán doanh nghiệp do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành và Thông tư số 244/2009/TT-BTC ngày 31 tháng12 năm 2009 Hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Chế độ kế toán Doanh nghiệp. - Thông tư số 210/2009/TT-BTC về Hướng dẫn áp dụng Chuẩn mực kế toán quốc tế về trình bày báo cáo tài chính và thuyết minh thông tin đối với công cụ tài chính.1 Môi trường pháp lý CBTT Nguồn: tự thực hiện. 9 Đây là các văn bản pháp lý hướng dẫn các DN niêm yết trong việc lập và trình bày BCTC nhằm cung cấp cho thị trường những thông tin hữu ích, giúp các nhà đầu tư thấy được tình hình hoạt động kinh doanh cũng như kết quả mà DN đạt được. Trong bài luận văn này tác giả sẽ dựa vào các văn bản trên để đo lường và phân tích tình hình CBTT trên BCTC của các DN niêm yết trên SGDCK TPHCM, đề từ đó rút ra các nhận định mang tính khách quan về hoạt động CBTT trên BCTC hiện nay.2 Yêu cầu CBTT theo chuẩn mực kế toán Việt Nam.