CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Các nghiên cứu về vấn đề thuyết minh Báo cáo tài chính, công bố thông tin tài chính và phi tài chính được thưc hiện trên thế giới là khá phổ biến. Từ các nghiên cứu xây dựng nền tảng lý thuyết, mô hình đến những nghiên cứu chuyên sâu chỉ phân tích đánh giá một nội dung cụ thể có được công bố hay không. Tại Việt Nam, các nghiên cứu liên quan đến vấn đề công bố thông tin và thuyết minh Báo cáo tài chính mới chỉ có những nghiên cứu ban đầu về mặt tổng quan nhưng cũng đã tiếp cận được phần lớn các kết quả nghiên cứu trước đó của các tác giả trên thế giới. Với nghiên cứu thực hiện về các đặc điểm của Ban quản trị có tác động đến mức độ công bố thông tin trên Bảng thuyết minh Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã thực hiện tìm hiểu các nghiên cứu trước về các vấn đề có liên quan được thực hiện tại Việt Nam và các nước.
Việc tìm hiểu các nghiên cứu trước được tập trung vào các nghiên cứu có các đặc điểm tương đồng với nghiên cứu mà tôi dự định sẽ thực hiện: có mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu tương tự, các nghiên cứu thực hiện khảo sát các nhân tố tác động đến thuyết minh Báo cáo tài chính, công bố thông tin là các nhân tố có liên quan đến quản trị công ty, Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát …. Và từ đó tìm ra khoảng trống trong các nghiên cứu. Dưới đây là một số các nghiên cứu tiêu biểu mà tôi sử dụng làm tài liệu tham khảovà cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu của mình. Các nghiên cứu trên thế giới Nghiên cứu đầu tiên sử dụng phương pháp khoa học để đo lường chất lượng thuyết minh được thực hiện bởi Cerf ở Mỹ từ năm 1961 trong nghiên cứu “Corporate reporting and investment decisions”.
Ông là người khởi xướng sử dụng phương pháp chỉ số (the index methodology) trong đo lường mức độ công bố thông tin trên Bảng thuyết minh. Trong nghiên cứu ban đầu này tác giả đã tìm hiểu ảnh 7 hưởng của quy mô công ty, số lượng cổ đông và tỷ lệ lợi nhuận đến mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp. Tuy là nghiên cứu ban đầu về công bố thông tin nhưng nghiên cứu là nền tảng, cơ sở khoa học quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo sau này.Nghiên cứu này sử dụng phương pháp chỉ số thuyết minh được sử dụng trong nhiều nghiên cứu sau này có liên quan đến đánh giá mức độ công bố thông tin trên Bảng thuyết minh hay công bố thông tin của doanh nghiệp. Vì là nghiên cứu ban đầu về đánh giá mức độ công bố thông tin trên Bảng thuyết minh nên tác giả chưa tìm hiểu hết các nhân tố có thể ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin.
Tác giả cũng chưa có nhận định về việc các đặc điểm của Ban giám đốc hay Hội đồng quản trị có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin hay không. Năm 2002, Haniffa and Cooke thực hiện nghiên cứu về các nhân tố thuộc đặc điểm quản trị công ty và văn hóa ảnh hưởng đến công bố thông tin tại các công ty niêm yết của Malaysia. Tác giả đã sử dụng phương pháp chỉ số công bố để tìm ra mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thuộc văn hóa, quản trị công ty, những thành viên gia đình thuộc hội đồng quản trị, và Chủ tịch không tham gia quản lý đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo thường niên. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Đối với các nhân tố thuộc đặc điểm quản trị công ty thì biến chủ tịch là CEO có tác động tiêu cực đến mức độ công bố thông tin trên Bảng thuyết minh tự nguyện và là biến có ảnh hưởng lớn nhất, đối với biến có thành viên gia đình trong ban quản trị cũng làm giảm mức độ công bố thông tin.
Các biến liên quan đến văn hóa không gây ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin. Nghiên cứu này mở ra một hướng nghiên cứu mới về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp. Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin không chỉ đơn thuần là đặc điểm của doanh nghiệp mà còn là đặc điểm của thành phần ban quản trị công ty, Ban giám đốc, những người chịu trách nhiệm điều hành và cung cấp các thông tin về hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ đánh giá về mức độ công bố thông tin tự nguyện của doanh nghiệp, không tìm hiểu về mức độ công bố thông tin bắt buộc.
từ đó chưa đánh giá được mức công bố thông tin chung của doanh nghiệp một cách tổng quát nhất. 8 Trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa đặc điểm của quản trị công ty và công bố thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên tại Kenya của D. Izan năm 2006, tác giả đã sử dụng lý thuyết đại diện để kiểm tra mối quan hệ giữa hoạt động quản trị công ty với những thông tin được công bố tự nguyện trên Báo cáo thường niên của các doanh nghiệp tại Kenya. Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự hiện diện của ủy ban kiểm toán là một yếu tố quan trọng liên quan đến mức độ công bố thông tin tự nguyện; tỷ lệ thành viên của hội đồng quản trị không tham gia điều hành doanh nghiệp có tác động tăng mức độ công bố thông tin tự nguyên.
Đối với nhân tố cơ cấu lãnh đạo của doanh nghiệp lại không có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của công ty. Bên cạnh đó quy mô của hội đồng quản trị có ảnh hưởng tích cực đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của doanh nghiệp. Đây là một nghiên cứu tiêu biểu về ảnh hưởng của quản trị công ty đến công bố thông tin tự nguyện của các doanh nghiệp, nhưng tác giả mới chỉ tập trung vào mức độ công bố thông tin tự nguyện mà bỏ qua mức độ công bố thông tin bắt buộc, mức độ công bố thông tin tổng quan của doanh nghiệp. Lin Liao, Le Luo, Qingliang Tang (2014), trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự đa dạng giới tính, hội đồng quản trị, ủy ban môi trường và các công bố về hiệu ứng nhà kính tại Anh đã chỉ ra rằng, tỷ lệ nữ trong Hội đồng quản trị, Hội đồng quản trị độc lập cao, ủy ban môi trường làm tăng mức độ công bố các thông tin về tác động của hoạt động doanh nghiệp ảnh hưởng đến môi trường.
Đây là một trong ít những nghiên cứu việc ảnh hưởng của giới tính của các thành viên ban điều hành đến hoạt động và công bố thông tin của doanh nghiệp. Kết quả của nghiên cứu đã đưa ra được những nhân tố mới ảnh hưởng đến công bố thông tin của doanh nghiệp. Tuy nhiên nghiên cứu này cũng có hạn chế là chỉ tập trung vào một mục công bố thông tin mà chưa bao quát được các mục công bố thông tin khác mà doanh nghiệp cần cung cấp cho thị trường. 9 Shazrul Ekhmar Abdul Razaka, Mazlina Mustaphab, 2013.
Trong bài viết “Corporate Social Responsibility Disclosures and Board Structure”, nghiên cứu về cấu trúc của ban điều hành doanh nghiệp đến mức độ công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, đã thực hiện tìm hiểu ảnh hưởng của các nhân tố tỷ lệ sở hữu của ban giám đốc, CEO kiêm chủ tịch Hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên độc lập của Hội đồng quản trị, quy mô của Hội đồng quản trị đến việc công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: tỷ lệ sở hữu của ban giám đốc có ảnh hưởng tiêu cực; các nhân tố việc kiêm nhiệm của CEO và chủ tịch Hội đồng quản trị, quy mô hội đồng quản trị, và tỷ lệ thành viên độc lập của Hội đồng quản trị không ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Đây là một nghiên cứu mới được công bố gần đây và cũng là một nghiên cứu khá đặc biệt khi chỉ tập trung vào tìm hiểu ảnh hưởng của các đặc điểm của ban điều hành, quản trị công ty đến việc công bố thông tin mà hầu hết các nghiên cứu trước chưa đề cập tới. Tuy nhiên điểm hạn chế của nghiên cứu này cũng là chỉ tập trung vào một mục công bố thông tin mà không đề cập đến toàn bộ các nội dung mà doanh nghiệp cần cung cấp cho thị trường.
Từ những nghiên cứu trên, ta có thể thấy rằng, các nghiên cứu trên thế giới liên quan đến vấn đề công bố thông tin và thuyết minh rất đa dạng và được kế thừa và phát triển qua nhiều nghiên cứu khác nhau. Có một điểm chung đối với các nghiên cứu liên quan đến vấn đề công bố thông tin là đối tượng nghiên cứu thường là mức độ công bố thông tin, thuyết minh tự nguyện hay một mục thuyết minh tự nguyện nào đó được khuyến kích, mà không đánh giá mức độ công bố thông tin, thuyết minh bắt buộc hoặc mức độ công bố thông tin trên Bảng thuyết minh tổng quan gồm thuyết minh tự nguyện và bắt buộc. Nên khi áp dụng vào môi trường kinh doanh đang phát triển tại Việt Nam cần phải điều chỉnh cho phù hợp vì việc tuân thủ các quy định pháp luật của các doanh nghiệp Việt là chưa hoàn hảo nên cần đánh giá cả vấn đề thuyết minh bắt buộc và tự nguyện. Các nghiên cứu tại Việt Nam.
Cùng với sự hội nhập mạnh mẽ của nền kinh tế và văn hóa, xã hội, ngành khoa học nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực kinh tế cũng đang dần tiếp cận với nền khoa học kinh tế trên thế giới. Các công trình nghiên cứu khoa học tại Việt Nam cũng đang hội nhập về phương pháp và quan điểm nghiên cứu được thực hiện tại các nước phát triển theo cả hai hướng hàn lâm và thực tiễn. Chính điều này đã giúp nền tảng lý thuyết có liên quan đến lĩnh vực kinh tế, kế toán – kiểm toán, mà cụ thể là vấn đề nghiên cứu về công bố thông tin, thuyết minh Báo cáo tài chính ngày một phát triển hơn. Dưới đây là một số các nghiên cứu về vấn đề công bố thông tin của các doanh nghiệp được thực hiện trong thời gian gần đây.