LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Môi trƣờng kinh doanh quốc tế không chỉ đang chuyển dịch theo hƣớng ngày càng toàn cầu hóa hơn mà còn đồng thời phải đối mặt với các cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính và lạm phát. Đặc biệt là ở thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, khi mà đây mới chỉ là một thị trƣờng còn rất non trẻ trình độ hiểu biết về các báo cáo công ty, các quy định tài chính còn rất hạn chế. Do đó, để bắt kịp với tốc độ phát triển nhanh và sự cạnh tranh khốc liệt, các công ty Việt Nam, đặc biệt là các công ty niêm yết đang cố gắng thỏa mãn ở mức tối đa những gì mà những đối tƣợng sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp cần, mà trong đó, việc tăng cƣờng mức độ công bố các thông tin trên báo cáo thƣờng niên đang đƣợc lƣu ý.
Bên cạnh đó, trƣớc những thất bại của các công ty niêm yết lớn trong hai năm gần đây (nhƣ CTCP Kỹ nghệ Khoáng sản Quảng Nam, Tổng công ty xây lắp Dầu khí Nghệ An…), nhu cầu về công bố thông tin của công ty niêm yết đã tăng lên đồng thời đặt thêm áp lực trên các công ty niêm yết trong việc nâng cao chất lƣợng báo cáo của mình. Điều này là do những lý do sau: Thứ nhất, CBTT giống nhƣ “một cây cầu” kết nối một công ty với rất nhiều đối tƣợng sử dụng thông tin khác nhau bên ngoài doanh nghiệp, những thông tin đƣợc trình bày trong các báo cáo thƣờng niên của công ty đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc cung cấp những thông tin hữu ích giúp cho ngƣời sử dụng thông tin ra quyết định. Thứ hai, mức độ CBTT cao có thể giúp thu hút các cổ đông mới qua đó giúp duy trì một nhu cầu tích cực đối với cổ phiếu và giá cổ phiếu phản ánh đầy đủ hơn giá trị nội tại của nó. Thứ ba, báo cáo chất lƣợng cao là điều cần thiết để duy trì một hệ thống thị trƣờng vốn hiệu quả.
Một thị trƣờng vốn tính thanh khoản cao đòi hỏi sự sẵn có của thông tin minh bạch và đầy đủ để tất cả những ngƣời tham gia có thể đƣa ra quyết định khi họ phân bổ vốn giữa các lựa chọn thay thế cạnh tranh. Việc tăng cƣờng CBTT giúp giảm bớt nguy cơ bất cân xứng thông tin và do đó làm giảm chi phí vốn 2 vì nó có vai trò quan trọng trong việc huy động vốn, cung cấp môi trƣờng đầu tƣ cho công chúng, tạo môi trƣờng giúp Chính Phủ thực hiện chính sách vĩ mô. Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm doanh nghiệp niêm yết và mức độ công bố thông tin trên báo cáo thƣờng niên tại sở giao dịch chứng khoán TPHCM”. Mục tiêu nghiên cứu 2.
Mục tiêu chung: Phân tích mối quan hệ giữa đặc điểm doanh nghiệp và mức độ CBTT nhằm đƣa ra các kiến nghị để nâng cao mức độ CBTT trên BCTN. Mục tiêu cụ thể: - Hệ thống hóa các lý thuyết liên quan đến mức độ CBTT và đặc điểm doanh nghiệp từ đó đƣa ra các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu. - Phân tích ảnh hƣởng của các đặc điểm DN tới mức độ CBTT trên BCTN thông qua mô hình. - Đề xuất các kiến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu.
Câu hỏi nghiên cứu - Thứ nhất: Các lý thuyết liên quan đến mức độ CBTT là gì? - Thứ hai: Các đặc điểm nào của công ty ảnh hƣởng tới mức độ CBTT? - Thứ ba: Các đặc điểm công ty ảnh hƣởng đến mức CBTT trên BCTN nhƣ thế nào? - Thứ tƣ: Các kiến nghị để tăng cƣờng mức độ CBTT? 4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 4. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng đƣợc nghiên cứu: Nghiên cứu mức độ công bố thông tin và các đặc điểm DN ảnh hƣởng tới mức độ CBTT trên BCTN của DN niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian: Các DN niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP.
- Phạm vi thời gian: năm 2013. Phƣơng pháp nghiên cứu 5. Phƣơng pháp định tính: Dựa vào các lý thuyết có liên quan, tác giả xác định các đặc điểm doanh nghiệp ảnh hƣởng tới mức độ CBTT. Thông qua việc tham khảo Bộ tiêu chí CBTT mà sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội dùng để xếp hạng CBTT các DN, tác giả tiến hành đánh giá lại thông qua khảo sát, gửi bảng câu hỏi đến các đối tƣợng có liên quan để khẳng định lại Bộ tiêu chí CBTT.
Từ đó, sử dụng phƣơng pháp chỉ số CBTT bằng cách dựa vào Bộ tiêu chí để tính toán chỉ số CBTT của mỗi DN bằng phƣơng pháp đo lƣờng không trọng số. Phƣơng pháp định lƣợng: Nghiên cứu đƣợc thực hiện nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm DN và mức độ CBTT, đƣợc thực hiện qua các giai đoạn: - Chọn mẫu nghiên cứu là các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP. - Thu thập báo cáo thƣờng niên của các doanh nghiệp theo mẫu đã chọn. - Đo lƣờng các biến đặc điểm DN dựa trên dữ liệu thu thập từ BCTN.
- Thiết lập chỉ số phản ánh mức độ CBTT trên báo báo thƣờng niên của các doanh nghiệp thông qua phƣơng pháp chỉ số CBTT theo cách tiếp cận không trọng số. - Sử dụng phƣơng pháp thống kê mô tả, phân tích tƣơng quan, kiểm định t-test và phân tích hồi quy bội để đo lƣờng ảnh hƣởng của các biến đặc điểm DN lên mức độ CBTT. Đóng góp của nghiên cứu Về mặt khoa học: Nghiên cứu củng cố và bổ sung cơ sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hƣởng tới mức độ CBTT thông tin trên BCTN của DN. Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu là căn cứ khoa học để các DN cung cấp thông tin trên BCTN, đồng thời nghiên cứu còn là tài liệu giúp các đối tƣợng sử dụng BCTN của doanh nghiệp hiểu rõ hơn về các thông tin mà doanh nghiệp công bố.
Đồng thời các đề xuất nghiên cứu đƣa ra góp phần giúp doanh nghiệp cải thiện mức độ CBTT, cung cấp thông tin hữu ích cho ngƣời sử dụng thông tin ra quyết định. Kết cấu dự kiến của luận văn Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị 5 CHƢƠNG 1:TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Nội dung CBTT đã đƣợc nghiên cứu tại nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam với nhiều khía cạnh, thời điểm và các phạm vi khác nhau. Có thể kể đến các nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc nhƣ sau: 1. Các nghiên cứu thế giới Hiện nay, một hạn chế lớn khi nghiên cứu về CBTT là cách tiếp cận để đo lƣờng mức độ CBTT.
Theo Francesca Citro (2013) với nghiên cứu “Disclosure level evaluation and disclosure determinant analysis: a literature review” đã chỉ ra rằng cho đến nay có hai cách tiếp cận chính đã đƣợc sử dụng để hình thành một bảng chấm điểm mức độ CBTT của các công ty: phân tích nội dung và chỉ số CBTT. Trong đó, phân tích nội dung là phƣơng pháp sử dụng các kỹ thuật nghiên cứu suy luận từ dữ liệu, nghiên cứu ngôn ngữ để lƣợng hóa chúng và từ đó xếp hạng CBTT. Tuy nhiên phƣơng pháp này tốn rất nhiều công sức nên hạn chế có cỡ mẫu lớn. Cách tiếp cận thứ hai là phƣơng pháp chỉ số CBTT.
Theo đó, ngƣời nghiên cứu sẽ xây dựng bộ tiêu chí CBTT. Bộ tiêu chí này bao gồm một danh sách các khoản mục thông tin đƣợc lựa chọn, có thể đƣợc công bố trong báo cáo của các công ty. Đây là cách đƣợc đa số các nhà nghiên cứu sử dụng. Sau đó, các mục thông tin sẽ đƣợc đo lƣờng trong các biến giả theo phƣơng pháp không trọng số (lƣỡng phân) hoặc phƣơng pháp có trọng số.
Sau khi hiểu rõ đƣợc cách thức đo lƣờng mức độ CBTT, các nhà nghiên cứu sẽ có cơ sở để phát triển nghiên cứu tìm hiểu về các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT. Bhayani (2012) nghiên cứu về “The Relationship between comprehensiveness of corporate disclosure and firm characteristics in India”. Tác giả nghiên cứu ảnh hƣởng của quy mô, lợi nhuận, cơ cấu sở hữu, công ty kiểm toán, đòn bẩy tài chính tác động lên mức độ CBTT. Cũng áp dụng phƣơng pháp chỉ số CBTT với đo lƣờng không trọng số, nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty có quy mô lớn, lợi nhuận cao, đòn bẩy cao, đƣợc kiểm toán bởi các công ty kiểm toán lớn có xu hƣớng minh bạch thông tin hơn.
6 Nandi and Ghosh (2012) nghiên cứu về “Corporate governance attributes, firm characteristics and the level of corporate disclosure: Evidence from the Indian listed firms”. Bài nghiên cứu này cũng sử dụng phƣơng pháp chỉ số CBTT nhƣng dựa trên mô hình của Standard & Poor để đo lƣờng mức độ CBTT. Kết quả cho thấy quy mô, lợi nhuận và tính thanh khoản ảnh hƣởng tích cực đến mức độ CBTT. Tuy nhiên đòn bẩy và thành phần HĐQT lại ảnh hƣởng tiêu cực đến mức độ CBTT.
Yanesari et al. (2012) nghiên cứu về “Board Characteristics and Corporate Voluntary Disclosure: An Iranian Perspective”. Cũng với phƣơng pháp chỉ số CBTT, nghiên cứu dựa trên thực nghiệm để kiểm tra mối quan hệ giữa thành phần HĐQT, tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT với mức độ CBTT. Kết quả cho thấy công ty có tỷ lệ thành viên HĐQT càng cao thì mức độ CBTT càng cao.
Tuy nhiên, nghiên cứu lại không tìm thấy mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT và mức độ CBTT. Fathi (2013) với nghiên cứu “Corporate Governance and the Level of Financial Disclosure by Tunisian Firm” đã phân tích mức độ CBTT của các công ty ở Tunisian. Nghiên cứu cũng chọn cách tiếp cận thứ hai là chỉ số CBTT. Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty có quy mô, lợi nhuận, tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT khác nhau thì điểm số CBTT cũng khác nhau.
Nghiên cứu của Aljifri and Alzarouni (2013) về “The assosiation between firm characteristics and corporate financial disclosures: evidence from UAE companies”. Tác giả cũng sử dụng phƣơng pháp chỉ số CBTT để nghiên cứu tác động của loại ngành, lợi nhuận, quy mô, tính thanh khoản, tỷ lệ sở hữu nƣớc ngoài, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập lên mức độ CBTT. Nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp trong lĩnh vực ngân hàng có mức độ CBTT cao hơn ngành sản xuất và dịch vụ. Ngoài ra, quy mô của công ty cũng đƣợc tìm thấy là có liên quan đáng kể với mức độ công bố thông tin.
Nghiên cứu của Sartawi et al.