phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm các chƣơng nhƣ sau: CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN CHƢƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ e 12 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan về CLTT 1.1 Chất lượng thông tin - Theo tiêu chuẩn số 8402-86, Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO và tiêu chuẩn số TCVN 5814-94 Tiêu chuẩn Việt Nam thì “Chất lƣợng là tập hợp các đặc tính của một thực thể, đối tƣợng; tạo cho chúng khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn”. Theo ISO 9000:2005 thì “Chất lƣợng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu”. Có nhiều quan điểm và tiêu chuẩn khác nhau về chất lƣợng thông tin. Wang và cộng sự năm 1998 “Chất lƣợng thông tin có thể định nghĩa là thông tin phù hợp cho việc sử dụng của ngƣời sử dụng thông tin”.
Đƣợc xem quan điểm phổ biến nhất về chất lƣợng thông tin vì chúng xuất phát từ các nghiên cứu có tính kinh điển về chất lƣợng của Deming năm 1986, Juran and Gryna năm l988, “chất lƣợng thông tin là đặc tính của thông tin để giúp đạt đƣợc các yêu cầu hay sự mong đợi của ngƣời sử dụng thông tin”; theo Lesca, Lesca năm 1995 “ chất lƣợng thông tin đƣợc định nghĩa là sự khác biệt giữa thông tin yêu cầu đƣợc xác định bởi mục tiêu và thông tin đạt đƣợc. Trong một tình huống lý tƣởng sẽ không có sự khác biệt giữa thông tin yêu cầu và thông tin đạt đƣợc. Việc đo lƣờng chất lƣợng thông tin có tính cảm tính và sự khác biệt giữa thông tin yêu cầu và thông tin đạt đƣợc càng nhỏ thì chất lƣợng thông tin càng cao”. Theo Eppler và Muenzenmayer (2002) thì chất lƣợng thông tin đƣợc phân thành hai loại chất lƣợng đó là: (1) Chất lƣợng về nội dung (content quality) bao gồm các thông tin có liên quan (Revelant Information) và các thông tin hữu ích (Sound Information) đáp ứng cho mục tiêu thực hiện; (2) Chất lƣợng về truyền tải thông tin (Media quality) bao gồm quá trình xử lý thông tin tối ƣu hoá (Optimized Process) và cơ sở hạ tầng phục vụ cho quá trình xử lý thông tin (Reliab e 13 Infrastructure).
Theo Rapina (2014), chất lƣợng thông tin có đặc điểm là có thể đáp ứng hoặc thậm chí vƣợt qua mong đợi của khách hàng, ngƣời sử dụng thông tin, chất lƣợng thông tin là sự khác biệt giữa thông tin yêu cầu và thông tin đạt đƣợc. Knight và cộng sự (2005) đã thực hiện một tổng hợp từ 12 nghiên cứu chất lƣợng thông tin đƣợc chấp nhận rộng rãi trong khoảng thời gian từ 1996 - 2002. Kết quả cũng cho thấy có tới 20 tiêu chuẩn chất lƣợng thông tin đƣợc đề cập tới trong bảng dƣới đây: Bảng 1.1: Tiêu chuẩn chất lƣợng thông tin Số lần đƣợc đề cập Đặc tính Giải thích trong các nghiên cứu Thông tin chính xác, đáng tin cậy và đƣợc chứng 1. Độ chính xác 8 nhận không có lỗi.
Mức độ nhất Thông tin đƣợc trình bày theo cùng định dạng và 7 quán tƣơng thích với dữ liệu trƣớc đó. Mức độ truy cập thông tin bị hạn chế một cách 3. Bảo mật 7 thích hợp để duy trì an ninh Thông tin đƣợc cập nhật một cách đầy đủ cho 4. Kịp thời 7 các mục tiêu đang thực hiện.
Thông tin không bị bỏ sót và có đủ chiều rộng và 5. Đầy đủ 5 chiều sâu cho mục tiêu đang thực hiện. Phạm vi mà thông tin thể hiện gọn gàng, rõ ràng, 6. Ngắn gọn 5 cô đọng mà đầy đủ.
Mức độ mà thông tin là chính xác và đáng tin 7. Độ tin cậy 5 cậy. Mức độ thông tin có sẵn, hoặc dễ dàng và nhanh 8. Có thể truy cập 4 chóng có thể truy cập.
e 14 Mức độ mà thông tin có thể truy cập về mặt vật 9. Mức độ khách Thông tin không thiên vị, không bị đánh giá và 4 quan thành kiến. Mức độ thông tin có thể áp dụng và hữu ích cho Thích hợp 4 thực hiện mục tiêu của đơn vị. Khả năng sử 4 Mức độ sử dụng thông tin rõ ràng và dễ sử dụng dụng Mức độ dễ 5 Thông tin rõ ràng mà không mơ hồ và dễ hiểu hiểu Số lƣợng thông Phạm vi mà số lƣợng hoặc khối lƣợng thông tin 3 tin có sẵn là thích hợp.
Phạm vi mà thông tin đƣợc coi là đúng và đáng Mức độ tin cậy 3 tin cậy Dễ dàng tìm Mức độ mà thông tin có thể dễ dàng tìm thấy và 3 kiếm liên kết dễ dàng. thông tin đƣợc đánh giá cao về nguồn hoặc nội Thông dụng 3 dung Mức độ hữu Thông tin có thể áp dụng và hữu ích cho mục 3 ích tiêu đang thực hiện. Mức độ hiệu Thông tin có thể đáp ứng nhanh chóng nhu cầu 3 quả thông tin cho thực hiện mục tiêu. Mức độ mà thông tin có lợi, cung cấp lợi thế từ Giá trị gia tăng 3 việc sử dụng nó.2 Chất lượng thông tin kế toán Khái niệm TTKT là một khái niệm thuộc về thông tin nên khái niệm chất lƣợng TTKT cũng đƣợc xây dựng, phát triển trên nền tảng của khái niệm chất lƣợng e 15 thông tin.
Hiện tại, có rất nhiều quan điểm và tiêu chuẩn về chất lƣợng TTKT. Chất lƣợng thông tin kém có thể có ảnh hƣởng xấu đến việc ra quyết định (Huang, Lee và Wang 1999), cho thấy rằng lỗi trong cơ sở dữ liệu hàng tồn kho có thể gây ra quyết định sai bởi ngƣời quản lý; hoặc giá cổ phiếu có tác động nghiêm trọng đến lợi nhuận của công ty và sự hài lòng của khách hàng. Chất lƣợng TTKT có thể đƣợc đánh giá bởi bốn thuộc tính chính xác, kịp thời, đầy đủ và nhất quán, họ đã kiểm tra các yếu tố thành công quan trọng cho chất lƣợng TTKT, họ đã xác định và phỏng vấn bốn nhóm là (nhà sản xuất thông tin, ngƣời quản lý thông tin, ngƣời tiêu dùng thông tin và ngƣời quản lý thông tin), họ cho rằng vấn đề tổ chức, hệ thống và vấn đề con ngƣời là quan trọng để xác định chất lƣợng thông tin.1 Theo quan điểm của Chuẩn mực kế toán Việt Nam Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, chất lƣợng thông tin đƣợc trình bày ở nội dung “các yêu cầu cơ bản đối với kế toán”, bao gồm: (1) Trung thực: Các thông tin và số liệu kế toán phải đƣợc ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh; (2) Khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán phải đƣợc ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo; (3) Đầy đủ: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan tới kỳ kế toán phải đƣợc ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót; (4) Kịp thời: Các thông tin và số liệu kế toán phải đƣợc ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trƣớc thời hạn qui định, không đƣợc chậm trễ; (5) Dễ hiểu: Các thông tin và số liệu kết toán trình bày trong báo cáo tài chính phải rõ ràng, dễ hiểu đối với ngƣời sử dụng. Thông tin về những vấn đề phức tạp trong báo cáo tài chính phải đƣợc giải trình trong phần thuyết minh; (6) Có thể so sánh: Các thông tin và số liệu kế toán cần đƣợc tính toán và trình bày nhất quán.
Trƣờng hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết minh để ngƣời sử dụng BCTC có thể so sánh và đánh giá (VAS 01 - Chuẩn mực kế toán Việt Nam - Ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ- BTC ngày 31 tháng 12 năm 2002 của Bộ trƣởng Bộ Tài chính) e 16 1.2 Quan điểm của IPSASB Theo IPSASB, Những đặc điểm chất lƣợng của thông tin trên BCTC bao gồm: tính thích hợp, trình bày hợp lý, tính có thể hiểu đƣợc, tính kịp thời, tính có thể so sánh đƣợc, tính kiểm chứng. Ngoài ra, IPSASB đƣa ra những hạn chế của chất lƣợng thông tin là cân đối giữa lợi ích và chi phí; sự kịp thời và sự cân đối giữa các đặc điểm chất lƣợng. Ngoài ra, IPSASB đƣa ra các hạn chế liên quan tới các đặc tính chất lƣợng TTKT, gồm: sự kịp thời, cân đối giữa lợi ích và chi phí, cân đối giữa các đặc điểm chất lƣợng. Các đặc điểm của chất lƣợng TTKT theo IPSASB đƣợc tóm tắt theo sơ đồ sau đây CHẤT LƢỢNG THÔNG TIN KẾ TOÁN Tính Trình Có thể Tính Có thể Tính thích bày hợp hiểu kịp thời so sánh kiểm hợp lý đƣợc đƣợc chứng Cân đối giữa các đặc điểm chất lƣợng và lợi ích - chi phí Hình 1.1: Sơ đồ thể hiện đặc điểm chất lƣợng TTKT theo IPSASB (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp) 1.
Các lý thuyết nền liên quan đến CLTT trên BCTC 1.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) đƣợc ba nhà khoa học đƣa ra trong những năm khác nhau là George Akerlof (1970), Michael Spence (1973) và Joseph Stiglitz (1975) và đã khẳng định đƣợc vai trò quan trọng trong nền kinh tế học hiện đại bằng giải Nobel kinh tế năm 2001. George kelof (1970) với lý thuyết “vỏ chanh”: Theo Auronen (2003) “ Asymmetric Information: Theory and Applications”, George kerlof là ngƣời đầu tiên giới thiệu về lý thuyết thông tin bất cân xứng năm 1970. Với lý thuyết “vỏ e 17 chanh “. Cốt lõi của lý thuyết này là một trong hai bên biết nhiều thông tin hơn hai bên còn lại.
Hệ quả là có sự lựa chọn đối nghịch của hai bên. Michael Spence (1973) với lý thuyết phát tín hiệu: Tiếp tục phát triển lý thuyết của G.Akerlof, bên phát tín hiệu là ngƣời lao động với những thông tin nhƣ bằng cấp, trình độ,…và ngƣời tuyển dụng lao động làm sao hiểu năng lực thật sự của ngƣời lao động (Auronen,2003). Liên quan đến đề tài nghiên cứu này là chất lƣợng báo cáo tài chính (phát tín hiệu) và các bên liên quan nhƣ cơ quan chủ quản, ngƣời sử dụng …làm sao để xác thực các thông tin này là chính xác. Cơ chế sàng lọc có liên quan trong nghiên cứu này có thể hiểu là những điều kiện mà các bên có thể ràng buộc thông tin trên BCTC phải có những thông tin theo những tiêu chuẩn nào.
Áp dụng lý thuyết này vào nghiên cứu nhằm giải thích cho sự tác động của nhân tố Chế độ chính sách nhà nƣớc, chế độ chính sách nhà nƣớc ảnh hƣởng đến chất lƣợng thông tin trên BCTC của BHXH tỉnh Bình Định.