CHƯƠNG 1.1 NỀN TẢNG LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN Vốn luân chuyển (working capital) được định nghĩa là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn. Trong nghiên cứu của Guthmann and Dougall (1948) thì vốn luân chuyển chuyển hoá qua tất cả các dạng – tồn tại từ tiền mặt đến hàng tồn kho, trở thành khoản phải thu và trở về hình thái cơ bản là tiền mặt kết thúc và tiếp tục một chu kỳ kinh doanh mới. Theo Dewing (1941), nó cùng với vốn cố định, là một thành tố quan trọng của doanh nghiệp. Mục đích của bài nghiên cứu này chính là xem xét mối quan hệ giữa các thành phần của vốn luân chuyển như hàng tồn kho, khoản phải thu và khoản phải trả đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Mục tiêu căn bản của quản trị vốn luân chuyển là tối ưu hóa việc đầu tư vào tài sản ngắn hạn và giảm mức độ nợ ngắn hạn, từ đó, doanh nghiệp có thể tối thiểu việc duy trì các nguồn quỹ cho vốn luân chuyển và nâng cao khả năng sinh lời từ hoạt động kinh doanh. Do vậy, hiệu quả của quản trị vốn luân chuyển phụ thuộc vào sự cân đối giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lời của doanh nghiệp (Filbeck et al. Vốn luân chuyển thường được sử dụng để đo lường tính thanh khoản của doanh nghiệp, tuy nhiên tính thanh khoản quá cao có thể tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (Bhattacharya, 2001). Có rất nhiều nhân tố tác động đến quản trị vốn luân chuyển, loại hình kinh doanh là yếu tố trước tiên có thể kể đến.
Các doanh nghiệp thương mại và sản xuất sẽ có nhu cầu nắm giữ hàng hoá cũng như có biên độ các khoản phải thu và phải trả lớn, trái ngược với các doanh nghiệp thiên về kinh doanh dịch vụ. Quy mô doanh nghiệp cũng là một yếu tố có ảnh hưởng khá lớn. Doanh nghiệp nhỏ hoặc các doanh nghiệp mới đi vào hoạt động sẽ duy trì vốn luân chuyển ở mức thấp, khác với các doanh nghiệp lớn liên tục phát triển và ngày càng có nhu cầu mở rộng kinh doanh. Tuy nhiên, cũng tuỳ theo giai đoạn mà chính sách hoạt động của doanh nghiệp sẽ quyết định lượng vốn luân chuyển được duy trì ổn định.
Việc mở rộng hoạt động sẽ gia tăng nhu cầu về tài sản cố định cũng như tài sản luân chuyển, cần tăng vốn luân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 chuyển để tăng bù đắp cho công việc kinh doanh trong dài hạn. Điều này tất nhiên đi kèm với rủi ro cho doanh nghiệp. Các yếu tố bên ngoài cũng có thể ảnh hưởng đến quản trị vốn luân chuyển. Phần lớn các doanh nghiệp trải qua sự thay đổi bất thường trong nhu cầu đối với hàng hoá dịch vụ trong chu kỳ kinh tế.
Hoặc một sự thay đổi tích cực trong công nghệ sẽ đẩy nhanh năng suất hoạt động, các sản phẩm chất lượng với số lượng lớn sẽ được tiêu thụ nhanh hơn đồng nghĩa với việc tiền luân chuyển nhanh hơn. Tuy nhiên đầu tư vào công nghệ cần nguồn tiền và nhân lực lớn.2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 1.1 Quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời Shin and Soenen (1998) và sau này Erasmus (2010) sử dụng khái niệm Chu kỳ Thương mại thuần ( Net Trade Cycle or Cash Conversion Cycle) trong nghiên cứu của mình. NTC được tính bằng tổng các khoản phải thu thương mại và hàng tồn kho, sau đó trừ đi các khoản phải trả và biểu diễn kết quả dưới dạng phần trăm của doanh thu, là thước đo hiệu quả của quản trị vốn luân chuyển. Shin and Soenen (1998) đã sử dụng một mẫu lớn gồm 58.985 doanh nghiệp Mỹ suốt từ năm 1975 đến 1994 để nghiên cứu mối quan hệ giữa chu kỳ thương mại thuần (NTC) và lợi nhuận hoạt động của doanh nghiệp.
Tác giả nhận thấy rằng, doanh nghiệp có thể đạt được doanh thu lớn hơn với chính sách tín dụng thoáng hơn, tức là chu kỳ chuyển đổi tiền mặt dài hơn sẽ tăng khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Tuy nhiên, Erasmus (2010) sử dụng một mẫu của các doanh nghiệp Nam Phi lại cho kết quả theo quan điểm truyền thống khi cho rằng có một mối tương quan âm đáng kể giữa NTC và khả năng sinh lời. Nghiên cứu cho thấy một chu kỳ tiền mặt dài hơn làm giảm khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Deloof (2003) phát hiện ra rằng cách thức quản lý vốn luân chuyển có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Nghiên cứu phân tích một mẫu gồm 1.009 doanh nghiệp phi tài chính lớn của Bỉ trong giai đoạn 1992 - 1996 và nhận thấy rằng có một mối quan hệ tương quan âm giữa lợi nhuận hoạt động gộp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 với số ngày các khoản phải thu, hàng tồn kho và các khoản phải trả của các doanh nghiệp. Do đó, tác giả đưa ra kết luận rằng các nhà quản lý có thể nâng cao hiệu suất, tạo ra giá trị cho các cổ đông của doanh nghiệp bằng cách rút ngắn thời gian của các khoản phải thu và hàng tồn kho ở mức tối thiểu hợp lý. Kết quả cũng cho thấy có mối tương quan âm giữa các tài khoản phải trả và lợi nhuận của doanh nghiệp vì nó phù hợp với quan điểm cho rằng các doanh nghiệp có lợi nhuận ít sẽ thường trì hoãn, kéo dài thời gian trả nợ của họ. Lazaridis and Tryfonidis (2006) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của doanh nghiệp bằng việc sử dụng mẫu nghiên cứu gồm 131 doanh nghiệp niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng khoán Athens.
Họ phát hiện ra rằng tồn tại một mối quan hệ ngược chiều và có ý nghĩa thống kê giữa khả năng sinh lời (được đo bằng lợi nhuận hoạt động gộp) với chu kỳ luân chuyển tiền mặt tiền mặt, kỳ tồn kho và phải thu bình quân được sử dụng là thước đo hiệu quả quản trị vốn luân chuyển. Tuy nhiên, kỳ phải trả có tương quan dương với khả năng sinh lời chỉ ra rằng chiếm dụng vốn của nhà cung cấp càng lâu càng có lợi. Họ kết luận rằng các nhà quản lý có thể tạo ra lợi nhuận cho các doanh nghiệp của họ bằng cách giải quyết đúng chu kỳ luân chuyển tiền mặt và giữ mỗi thành phần khác nhau của chu kỳ luân chuyển tiền mặt (tài khoản phải thu, các khoản phải trả, hàng tồn kho) ở một mức độ tối ưu. Garcia-Teruel and Martínez-Solano (2007) đã nghiên cứu tác động của quản tri vốn luân chuyển đến khả năng sinh lời bằng cách sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng bao gồm 8,872 doanh nghiệp nhỏ và vừa của Tây Ban Nha trong giai đoạn 1996 – 2002.
Chiếm tỷ trọng lớn trong bảng cân đối kế toán của các doanh nghiệp này là tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn có vai trò là nguồn tài trợ từ bên trong doanh nghiệp. Kết quả thể hiện rằng, những nhà quản lý có thể gia tăng giá trị cổ phần bằng cách giảm lượng hàng tồn kho, số ngày các khoản phải thu và số ngày các khoản phải trả. Thêm vào đó, việc rút ngắn chu kỳ chuyển đổi tiền mặt cũng cải thiện khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Tương tự, Raheman and Nasr (2007) cũng cho thấy mối quan hệ ngược chiều có ý nghĩa giữa các thành phần vốn luân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 chuyển và khả năng sinh lời với một mẫu gồm 94 doanh nghiệp Pakistan trong giai đoạn 1999 – 2004.
Garcia et al. (2011) dựa trên mẫu nghiên cứu gồm 2.974 doanh nghiệp phi tài chính tài chính được niêm yết trên 11 sàn giao dịch chứng khoán ở Châu Âu trong khoảng thời gian 12 năm, kể từ năm 1998 đến 2009, kết quả phân tích hồi quy bằng phương pháp GLS và OLS chỉ ra rằng có một mối quan hệ tương quan âm đáng kể giữa kỳ thu tiền, kỳ lưu kho, kỳ phải trả chu kỳ luân chuyển tiền mặt và khả năng sinh lời. Họ cho rằng các doanh nghiệp có thể tăng khả năng sinh lời bằng cách giảm khoảng thời gian vốn luân chuyển mà doanh nghiệp nắm giữ. Azhar and Noriza (2010) sử dụng các dữ liệu thứ cấp được lấy từ cơ sở dữ liệu của Bloomberg để phân tích, mẫu gồm 172 doanh nghiệp niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng khoán Bursa của Malaysia được lựa chọn ngẫu nhiên trong khoảng thời gian năm năm từ năm 2003 đến năm 2007, họ cho rằng tồn tại mối quan hệ tương quan âm đáng kể giữa các biến quản trị vốn luân chuyển và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Mohammad (2011) đã nghiên cứu dựa trên mẫu quan sát gồm 1.063 doanh nghiệp hàng đầu trong số 2.628 doanh nghiệp niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng khoán Tehran, Iran trong giai đoạn 2001-2006, kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng trong những doanh nghiệp nghiên cứu, có một mối quan hệ tương quan đáng kể giữa làm quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời, quản trị vốn luân chuyển có tác động ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp và các nhà quản lý có thể tạo ra giá trị cho các cổ đông bằng cách giảm các khoản phải thu và hàng tồn kho. Nobanee and Haddad (2014) sử dụng mẫu nghiên cứu lớn gồm 2.123 doanh nghiệp hoạt động của Nhật Bản niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng khoán Tokyo trong suốt giai đoạn 1990-2004 để nghiên cứu mối quan hệ giữa quản lý vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Kết quả cho thấy rằng các nhà quản lý có thể cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp bằng cách quản lý vốn luân chuyển có hiệu quả. Thêm vào đó, họ đề nghị các nhà quản lý nên cân nhắc cẩn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 thận đối với việc trì hoãn các khoản phải trả vì nó có thể gây tổn hại đối với uy tín tín dụng của doanh nghiệp và kết quả là giảm khả năng sinh lời trong dài hạn.
Losbichler et al. (2008) thực hiện nghiên cứu trên 6,925 doanh nghiệp Châu Âu trong giai đoạn 1995 – 2004. Nghiên cứu chỉ ra rằng, ngành công nghiệp dẫn đầu trong chuỗi giá trị có khả năng giảm chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) trong khi vẫn duy trì cùng mức chi phí cung ứng từ các doanh nghiệp khác trong chuỗi giá trị (value chain). Napompech (2012) phân tích hồi quy dựa trên một mẫu quan sát dữ liệu bảng của 255 doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch của Sở Giao dịch Chứng khoán Thái Lan từ năm 2007 đến năm 2009.