phần mở đầu. Các dữ liệu thu thập được dựa trên kỳ vọng của người trả lời các bản hỏi và nhận thức của họ về các nhận định theo mô hình Servqual và chỉ số Bachelet. Sau đó là thực hiện kiểm định thang đo Servqual bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha; phân tích nhân tố; phân tích hồi quy đa biến nhằm kiểm định các giả thuyết được đặt ra trong chương 2 để cho ra kết quả sau cùng. 5 Cuối cùng là kết luận về kết quả nghiên cứu, nêu lên sự thỏa mãn của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ của công ty ở mức độ nào và nhân tố nào có sự ảnh hưởng lớn nhất đến sự hài lòng đó.
Chương 4: Đề xuất khuyến nghị phát triển chất lượng dịch vụ của công ty để tăng sự thỏa mãn của khách hàng Phần đầu chương đưa ra cơ sở để đề xuất khuyến nghị dựa trên những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của công ty; một số định hướng phát triển của công ty. Phần tiếp là tìm ra những vấn đề mà công ty nên có hướng cải tiến hoặc thay đổi về chất lượng. Từ đó tác giả đề xuất một số khuyến nghị có thể giúp công ty phát triển hơn nữa chất lượng dịch vụ của mình, để mang đến lợi ích lâu dài và bền vững cho khách hàng, làm gia tăng giá trị cảm nhận và sự thỏa mãn của khách hàng. Cuối cùng là việc đưa ra những hạn chế của việc nghiên cứu và mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo cho đề tài này được hoàn thiện hơn.
Kết luận: Trong phần cuối của bài viết, một bản tóm tắt về những vấn đề chính hay những phát hiện sẽ được trình bày và qua đó sẽ cung cấp câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu 6 CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Các nghiên cứu nƣớc ngoài 1.1 Nghiên cứu của Binta Abubakar (2001) Mục tiêu nghiên cứu: Điều tra mức độ hài lòng của khách hàng đối với các siêu thị tại Úc. Phương pháp nghiên cứu: Cỡ mẫu được sử dụng là 800 với tỷ lệ đáp ứng là 75%. Tất cả các câu hỏi dựa trên thang điểm Likert 10, từ 1= “hoàn toàn không hài lòng” đến 10= “hoàn toàn hài lòng”. Những đáp viên được yêu cầu cho điểm tầm quan trọng của các nhân tố và sau đó đánh giá mức độ hài lòng của họ với nhà bán lẻ.
Phân tích dữ liệu bằng SPSS 17. Kết quả nghiên cứu: Trong số các nhân tố đưa ra khảo sát về tầm quan trọng tác động đến sự hài lòng của khách hàng thì yếu tố “danh tiếng” của nhà bán lẻ được coi là quan trọng nhất, bao gồm danh tiếng của nhà bán lẻ, danh tiếng về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Bên cạnh đó, kết quả khảo sát sự hài lòng của khách hàng cho thấy khách hàng hài lòng nhất đối với chất lượng dịch vụ và khả năng tiếp cận với các nhà bán lẻ, và dịch vụ khách hàng tốt có thể là tiền đề quan trọng để tạo được lòng trung thành với khách hàng và duy trì khả năng quay trở lại của khách hàng.2 Nghiên cứu của Chingang Nde Daniel và Lukong Paul Berinyuy (2010). Mục tiêu nghiên cứu: 7 Thử nghiệm mô hình Servqual trong bối cảnh của cửa hàng tạp hóa để biết ứng dụng của mô hình trong việc đo lường chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng.
Từ đó, các nhà bán lẻ hàng tạp hóa xác định cách hiệu quả nhất để thu hẹp khoảng cách chất lượng dịch vụ và chọn khoảng trống để đề ra kế hoạch cải tạo chất lượng dịch vụ nhằm thỏa mãn cao nhất sự hài lòng của khách hàng. Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng phương pháp suy diễn về các giả thuyết nghiên cứu dựa trên lý thuyết của mô hình Servqual. Phương pháp nghiên cứu định lượng được lựa chọn thích hợp cho việc trả lời các câu hỏi nghiên cứu, giúp cho việc đánh giá nhận thức của khách hàng về chất lượng dịch vụ chính xác hơn. Đối tượng được phỏng vấn trực tiếp là các sinh viên đến từ bất kỳ quốc tịch nào trên thế giới.
Số mẫu là n= 180. Phương pháp phân tích dữ liệu: Phần mềm SPSS và các công cụ thống kê mô tả liên quan đến giá trị trung bình, độ bền Cronbach Alpha, độ lệch chuẩn. Kết quả nghiên cứu: Trong nghiên cứu này, tác giả đã cố gắng để đo lường chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng, tuy nhiên từ kết quả phân tích cho thấy một số yếu tố (hữu hình, đáp ứng và sản phẩm) đã không chứng minh sự đáng tin cậy để đo lường. Yếu tố sản phẩm không thể hiện tốt độ tin cậy có nghĩa là nó không phải là biện pháp tốt về chất lượng dịch vụ trong cửa hàng tạp hóa (Theo Magi và Julander, 2009 trang 33-41 thì yếu tố sản phẩm rất quan trọng trong việc đo lường chất lượng dịch vụ trong cửa hàng thực phẩm).
Kết quả cũng cho thấy rằng mô hình Servqual không phải là một công cụ tốt để đo lường chất lượng dịch vụ tại các cửa hàng tạp hóa. Để duy trì khả năng cạnh tranh, các cửa hàng phải cải thiện hiệu suất trên tất cả các 8 khía cạnh của chất lượng dịch vụ để tăng sự hài lòng của khách hàng vì người tiêu dùng mong đợi nhiều hơn những gì họ đã và đang được cung cấp.3 Nghiên cứu của Tsang Kwai Chi (2010). Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá chất lượng dịch vụ của H & M - một trong những nhà bán lẻ thời trang nhanh chóng nổi tiếng nhất ở Hồng Kông thông qua cảm nhận của khách hàng. Xem xét mong đợi của khách hàng về dịch vụ của nhà bán lẻ thời trang H&M và làm thế nào để cải thiện / nâng cao những chất lượng dịch vụ đó thông qua 5 tiêu chí về chất lượng dịch vụ của mô hình Servqual (hữu hình, độ tin cậy, đáp ứng, bảo đảm, và sự đồng cảm).
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập dữ liệu là quan sát, nghiên cứu định tính (phỏng vấn trực tiếp và qua điện thoại với nhân viên bán hàng, thảo luận nhóm (nhóm 6 sinh viên thuộc các chuyên ngành khác nhau đượcmời tham gia trong một cuộc phỏng vấn 45 phút). Mục đích là để xác định các đặc trưng của các nhà bán lẻ thời trang nhanh tại Hồng Kông, và để khám phá các khuyến nghị về cách cải thiện chất lượng dịch vụ cho các nhà bán lẻ thời trang và định lượng (khảo sát bằng 260 bản câu hỏi với hình thức khảo sát trực tiếp, qua internet, email, dùng thang đo likert 7 điểm). Phương pháp phân tích dữ liệu: thống kê mô tả (các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, phương sai), phần mềm SPSS 17, phân tích độ tin cậy Cronbach Alpha của 5 yếu tố; dùng T-Test (là một cặp mẫu được sử dụng để kiểm tra giả thuyết là đúng trước khi câu hỏi được gửi đi). Kết quả nghiên cứu: Trong sự mong đợi của khách hàng đối với các nhà bán lẻ thời trang tại Hồng Kông, yếu tố hữu hình được xem như là yêu cầu cơ bản của chuỗi cửa hàng thời trang quốc tế.
9 Trong nhận thức của khách hàng đối với H & M: Yếu tố hữu hình không được như mong đợi (nhân viên bán hàng được xem như là thiếu kinh nghiệm và đào tạo kém). Những khuyến nghị trong bài được đưa ra chủ yếu liên quan đến nhân viên bán hàng của cửa hàng.2 Các nghiên cứu trong nƣớc 1.1 Nghiên cứu Nguyễn Thị Mai Trang (2006). Mục tiêu nghiên cứu: Khám phá, điều chỉnh, bổ sung mô hình các thành phần của chất lượng dịch vụ siêu thị và thang đo lường các thành phần đó tại thành phố Hồ Chí Minh; xem xét mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự cảm nhận của khách hàng về giá cả hàng hóa bán trong siêu thị và lòng trung thành của khách hàng đối với các siêu thị. Phương pháp nghiên cứu: Thang đo được sử dụng là thang đo chất lượng dịch vụ bán lẻ, với phương pháp nghiên cứu định tính để điều chỉnh, bổ sung các thành phần chất lượng dịch vụ siêu thị tại Việt Nam (gồm 5 thành phần là: tính đa dạng của hàng hóa, khả năng phục vụ của nhân viên, cách thức trưng bày trong siêu thị, mặt hàng trong siêu thị, an toàn trong siêu thị).
Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp khách hàng bằng bảng câu hỏi tại 4 hệ thống siêu thị ở thành phố Hồ Chí Minh là (1) Coopmart, (2) Maximart, (3) Cora, (4) Citimart. Mẫu được chọn là n= 318. Phương pháp phân tích dữ liệu: Các thang đo khái niệm được đánh giá bằng hệ số Cronbach Alpha và được kiểm định thông qua phương pháp phân tích nhân tố EFA. Mô hình lý thuyết và các giả thuyết được kiểm định bằng phương pháp phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính.
Kết quả nghiên cứu: Nghiên cứu đã xác định rằng chất lượng dịch vụ siêu thị bao gồm 5 thành phần là chủng loại hàng hóa, khả năng phục vụ nhân viên, trưng bày 10 hàng hóa, mặt bằng siêu thị và mức độ an toàn trong siêu thị. Kết quả chỉ ra rằng nếu tăng chất lượng dịch vụ thì sẽ làm tăng mức độ thỏa mãn của khách hàng. Khách hàng sẽ trung thành với siêu thị khi họ thỏa mãn với dịch vụ và hàng hóa mà siêu thị cung cấp. Bên cạnh đó, kết quả cho thấy yếu tố tuổi và thu nhập không làm ảnh hưởng đến vai trò và chất lượng của dịch vụ đối với sự thỏa mãn và lòng trung thành của khách hàng siêu thị.2 Nghiên cứu của Nguyễn Huy Phong và Phạm Ngọc Thúy (2007) Mục tiêu nghiên cứu: So sánh hai mô hình đo lường chất lượng dịch vụ Servqual và Servperf trong bối cảnh nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng khách hàng đối với dịch vụ tại các siêu thị bán lẻ Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành theo hai bước chính: Nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Bước 1: hiệu chỉnh bộ thang đo Servqual cho phù hợp với bối cảnh của siêu thị bán lẻ Việt Nam, sau đó sử dụng thang đo này phỏng vấn sâu 15 khách hàng thường xuyên mua sắm tại các siêu thị trung tâm để hoàn chỉnh bộ câu hỏi phỏng vấn. Bước 2: phỏng vấn 300 khách hàng có độ tuổi từ 18 trở lên tại các siêu thị Coopmart, Maximart, Big C, Citimart.