Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu, trình bày mục tiêu, ý nghĩa và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Cở sở lý thuyết của luận văn và các nghiên cứu trước đây. Chương 3: Trình bày mô hình nghiên cứu của luận văn Chương 4: Phương pháp nghiên cứu, trình bày thiết kế nghiên cứu, qui trình nghiên cứu, nghiên cứu sơ bộ, thủ tục phân tích nhân tố khám phá. Chương 5: Phân tích và kết quả trình bày: qui trình thu thập dữ liệu và thống kê mô tả, tính độ tin cậy, phân tích nhân tố khám phá, mô hình nghiên cứu chính thức, phân tích hồi qui và thảo luận.
Kết luận 6 Chương 2 Cơ sở lý thuyết Vốn được Karl Marx xem như là “phần giá trị thặng dư (được tạo ra thông qua quá trình sản xuất hàng hoá và trao đổi) mà nó tạo lợi nhuận thêm nữa” (Lin, 2002, p. “Tuy nhiên, với người theo trường phái Marx, đầu tư và lợi nhuận được ban cho các nhà tư bản. Một người lao động được thuê trong qui trình sản xuất không sinh ra vốn hoặc tích luỹ vốn cho những người lao động” (Lin, 2002, p. “Những người lao động được trả tiền cho công sức lao động của họ với mức lương đủ để họ mua được các món hàng duy trì đời sống (như thực phẩm, nhà trọ và quần áo)” (Lin, 1999).
Thế nhưng, nếu chúng ta cho rằng vốn chỉ bao gồm vốn vật lý như người theo trường phái Marx cổ điển, thì chúng ta khó có thể giải thích động cơ con người học tập, sở hữu tri thức, rèn luyện kỹ năng, kinh nghiệm. Để bổ sung thêm một thành phần của vốn, Adam Smith1 đề nghị khái niệm vốn con người. “Vốn con người, cái vốn mà giả sử rằng có thể do bên cá nhân người lao động quyết định, có nguồn gốc từ Smith2, ông bao gộp mọi khả năng có được và hữu ích của dân cư quốc gia như là một phần của vốn” (Lin, 2002, p. 7) đã ghi: “Ta có thể xem vốn kinh tế là tài khoản của mọi người nằm trong ngân hàng, vốn con người nằm trong khối óc mỗi người, vốn xã hội gắn liền với cấu trúc của mối quan hệ của họ”.
Theo tác giả Burt (2000, p. 347) nói: 1 Nhận định này suy ra từ trích dẫn lại của tác giả Lin. 2 Tác giả Lin trích dẫn từ quyển sách “The Wealth of Nations. 7 Lời giải thích vốn con người về sự khác nhau của mọi người, ai làm tốt hơn là do họ có nhiều năng lực cá nhân hơn; họ thông minh hơn, họ hấp dẫn hơn, nói năng lưu loát hơn, nhiều kĩ năng hơn.
Vốn xã hội là một bổ sung cho ngữ cảnh vốn con người. Ẩn dụ vốn xã hội trong mọi người, ai làm tốt hơn là người bằng cách nào đó có kết nối tốt hơn. Có nhiều tác giả khác nhau đề ra các khái niệm vốn xã hội, tuy nhiên các khái niệm được trình bày dưới đây được chọn lọc từ những công trình nổi bật chính yếu, hỗ trợ cho mục tiêu nghiên cứu này.1 Khái niệm Vốn xã hội Nguồn gốc của khái niệm vốn xã hội có thể phải đi từ đầu thế kỷ hai mươi với L. Judson Hanidan, thậm chí có thể là trước đó với Weber, Simmel và Durkheim v.
Luận văn này xem điểm sáng nổi bật đầu tiên là triết gia Bourdieu (1986, p. 51), người đã sớm đề ra khái niệm vốn xã hội hết sức khái quát như sau: Vốn xã hội là sự tổng hợp các khả năng thực tế hoặc tiềm ẩn mà do liên kết đến sự sở hữu một mạng lưới bền vững các mối quan hệ có tính tổ chức hoá (nhiều hoặc ít) của sự quen biết và cộng nhận lẫn nhau. Nói cách khác, số lượng thành viên trong nhóm mang lại cho mỗi thành viên nhóm sự ủng hộ của vốn (thuộc về) tập thể, một từ hợp cho ngữ cảnh này như “hạn mức tín dụng” để cho vay. Những mối quan hệ này chỉ có thể tồn tại trong trạng thái thực tiễn, trong vật chất cụ thể và/hoặc các biểu tượng trao đổi để giúp duy trì chúng.
Mối quan hệ cũng có thể được tổ chức với tính chất xã hội và được bảo toàn bằng cách dùng danh nghĩa chung (như tên dòng họ, lớp học, bộ lạc, một trường học, hoặc một đảng phái, v. Và mối quan hệ cũng có thể bằng một tập toàn bộ hoạt động của tổ chức đồng thời phát hoạ lên hình dạng và lan truyền đi cho những ai trong chúng; trong trường hợp này, chúng ít 8 nhiều được ban hành thật sự, được duy trì và được củng cố, thông qua trao đổi. Nhận xét, triết gia Bourdieu khẳng định sự tồn tại của vốn xã hội, khẳng định vốn xã hội của một thành viên có thể mang lại từ mạng lưới xã hội mà thành viên đó tham gia. Khái niệm thành viên trong mạng lưới xã hội do Bourdieu đề cập chỉ mới ở mức cá nhân.
Một nhà nghiên cứu khác, Coleman (1988, p. 98) định nghĩa thông qua các chức năng: Vốn xã hội được định nghĩa bằng các chức năng của nó. Nó không phải là một đơn thể, mà là trạng thái muôn màu muôn vẻ của những đơn thể khác nhau, với hai yếu tố chung: chứa đựng hầu như một số khía cạnh của cấu trúc xã hội và làm thuận lợi hoạt động của những chủ thể hành động – dù là những cá nhân hay là tập thể – bên trong cấu trúc. Giống như những dạng vốn khác, vốn xã hội hữu ích, làm cho có thể đạt được một số mục đích nào đó, mà nếu thiếu vắng nó thì hoàn toàn không thể.
Giống như vốn vật chất và vốn con người, vốn xã hội không thể hoàn toàn thay thế được, nhưng có thể thay thế trong một số hoạt động nhất định. Một dạng nhất định của vốn xã hội có ích trong việc tạo thuận lợi một số hoạt động nào đó, có thể vô ích hoặc gây hại các hoạt động khác. Nhận xét, Coleman khẳng định vốn xã hội hữu ích, đây là một điểm khác hơn so với Bourdieu. Quan trọng hơn, chủ thể hành động trên mạng lưới theo Coleman có thể là một tổ chức hoặc là một cá nhân.
Theo nhận xét của tác giả Lin (1999, p. 27) thì định nghĩa của Coleman “xoay vòng lặp lại (nguyên nhân được xác định bằng kết quả)”, cũng như “không thể định lượng” được vốn xã hội. Nhà nghiên cứu Lin (2002, p. 19) đã tổng quát hoá các định nghĩa, khái niệm vốn xã hội của những tác giả trên chỉ đơn giản qua một câu: 9 Vốn xã hội là đầu tư trong các mối quan hệ xã hội với lợi nhuận kì vọng mang về trên thị trường.
Thị trường có thể là thị trường kinh tế, chính trị, lao động hay cộng đồng. Nhận xét, định nghĩa tổng quát này nhất quán với học thuật vốn xã hội của ngành xã hội học, kinh tế, chính trị, v. Và học giả Lin (2002, p. 29) cũng định nghĩa vốn xã hội theo phương diện những thành phần của vốn xã hội: Vốn xã hội là các tài nguyên nhúng trong cấu trúc xã hội mà nó có thể được sử dụng và/hay huy động trong các hoạt động phục vụ cho một mục đích.
Trong định nghĩa này có ba thành phần có tính quyết định: (1) tài nguyên, được nhúng trong cấu trúc xã hội, và (3) hoạt động. Nhận xét, tài nguyên3 nằm bên trong cấu trúc xã hội, những tài nguyên xã hội này “có thể là hàng hoá vật chất như: đất đai, nhà cửa, xe cộ, tiền và cũng có thể là hàng hoá mang tính chất biểu tượng: giáo dục, thành viên câu lạc bộ, bậc đáng kính trọng, nghề nghiệp cao quí hay chức danh tổ chức, dòng họ, danh tiếng hay là danh vọng” (Lin, 2002, p. Một định nghĩa vốn xã hội được kết hợp từ hai hướng nghiên cứu xã hội và chính trị, cũng như có khả năng chuyển hoá thành thang đo lường được, do Shah và Gil de Zuniga (2008, p. 824) tổng hợp: Vốn xã hội được định nghĩa như là các khả năng của thông tin, những chuẩn tắc và những quan hệ xã hội nhúng trong các cộng đồng mà khả năng đó có thể hợp tác hoạt động tập thể và để đạt được những mục tiêu chung.
Có điểm quan trọng cần nhận dạng là vốn xã hội bao hàm những cả hai nhân tố tâm lý (ví dụ: thái độ tín cẩn) và nhân tố xã hội (ví dụ: thành viên nhóm), và 3 Trong luận văn này, các từ “tài nguyên”, “nguồn lực”, “khả năng” được dùng thay thế cho nhau tuỳ thuộc vào ngữ cảnh nhấn mạnh vào tính cụ thể, hữu hình hay tổng thể. 10 có cấu tạo đa cấp gồm cấp vĩ mô, cấp trung, cấp vi mô. Ở cấp vĩ mô là kết nối giữa các tổ chức địa phương cả công cộng lẫn tư nhân. Ở cấp trung, nó được quan sát trong một tập hợp những mạng lưới giữa cá nhân với nhau của sự liên kết xã hội và việc truyền thông xã hội, trong đó những cá nhân kia được chứa vào mạng lưới đó.
Và ở cấp vi mô, nó có thể được xem như là những đặc điểm cá nhân mà những đặc điểm này làm cho những người dân có thể tham gia vào đời sống cộng đồng, như là chuẩn tắc có qua có lại và cái cảm giác tín cẩn vào đồng bào và những tổ chức xã hội. Nhận xét, định nghĩa của Shah và Gil de Zuniga diễn đạt lại các định nghĩa của giới nghiên cứu trước đó, ví dụ: quan hệ xã hội của Bourdieu, Coleman, tín cẩn xã hội và chuẩn tắc xã hội của Putnam (1995). Tuy nhiên, tác giả thông qua cách trình bày từ cấp độ của vốn xã hội giúp chúng ta dễ dàng hơn về quan sát vốn xã hội. Bởi vì luận văn này tiến có hành thực nghiệm quan sát, đo lường vốn xã hội cá nhân cho nên một định nghĩa như hai tác giả Shah và Gil de Zuniga đã trình bày là cần thiết phải nói đến.
Một số tài liệu nghiên cứu (Putnam & Goss, 2002, p. 76) cho rằng vốn xã hội là khái niệm đa hướng, một số tài liệu nghiên cứu khác (Son & Lin, 2008; Gil de Zúñiga et al., 2012) thì chỉ xem vốn xã hội là khái niệm đơn hướng. Luận văn này chọn theo hướng biến phụ thuộc vốn xã hội là đơn hướng khi khảo sát cá nhân bởi vì: muốn quan tâm đến tổng thể vốn xã hội hơn là từng thành phần đơn lẻ, chú trọng vào những tác động làm chênh lệch tổng thể vốn xã hội cá nhân. 11 Bảng 2-1: Các định nghĩa vốn xã hội Tác giả Định nghĩa vốn xã hội Bourdieu (1986) Tổng hợp các nguồn lực do liên kết đến một mạng lưới các mối quan hệ.