CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VE MOI LIÊN HỆ GIỮA NGHIEN ĐIỆN THOẠI THONG MINH VÀ ROI LOAN GIAC NGU CUA SINH VIEN 1. Lịch sử nghiên cứu về mối liên hệ giữa nghiện điện thoại thông minh và chất lượng giắc ngủ 1. Lich sử nghiên cứu về mối liên hệ giữa nghiện điện thoại thông minh va chất lượng giấc ngủ trên thé giới 1.1 Lich sử nghiên cứu về nghiện điện thoại thông minh Trong nghiên cứu "Việc sử dụng điện thoại thông minh và chứng nghiện điện thoại thông minh trong giới trẻ 6 Thụy Sĩ” (Severin Haug và cộng sự, 2015) gồm 1.519 sinh viên từ 127 lớp học trường dạy nghề Thụy Sĩ. Nghiên cứu này đã điều tra các chỉ số về việc sử dụng điện thoại thông minh, nghiện điện thoại thông minh và môi liên hệ của chúng với các biến số liên quan đến nhân khẩu học và hành vi sức khỏe ở những người trẻ tuôi.
Nghiện điện thoại thông minh được đánh giá bằng một phiên bản ngắn của Thang đo nghiện điện thoại thông minh danh cho thanh thiếu niên (SAS-SV). Kết quả: Nghiện điện thoại thông minh xảy ra ở 256 (16,9%) trong số 1. Thời gian sử dụng điện thoại thông minh lâu hơn trong một ngày thông thường, khoảng thời gian ngắn hơn cho đến khi sử dụng điện thoại thông minh dau tiên vào budi sáng và báo cáo rằng mạng xã hội là chức năng điện thoại thông minh phù hợp với cá nhân nhất có liên quan đến chứng nghiện điện thoại thông minh. Nghiện điện thoại thông minh phô biến hơn ở thanh thiếu niên (15—16 tuổi) so với thanh niên (19 tuôi trở lên), học sinh có cả cha lẫn mẹ sinh ra bên ngoài Thụy Si, những người báo cáo hoạt động thê chất thấp hơn và những người báo cáo căng thăng cao hơn.
Nghiên cứu Đánh giá tai liệu: Nghiện điện thoại thông minh ở sinh viên đại học (Hafidha Suleiman Al-Barashdi và cộng sự, 2015) xem xét các tải liệu ngày cảng tăng về chứng nghiện điện thoại thong minh ở sinh viên chưa tốt nghiệp đại học dé xác định xu hướng. Thiết ké/Phuong pháp tiếp cận dựa trên các tài liệu được xuất ban trong giai đoạn 1996-2013. Các khái niệm như triệu chứng và mức độ nghiện này sẽ được làm rõ. Sau đó, các van dé cơ bản và các vấn dé phương pháp được nêu ra trong tai liệu sẽ được dé cập đến.
Bai báo cũng xem xét mối quan hệ giữa chứng nghiện điện thoại thông minh ở sinh viên đại học và thành tích học tập của họ. Cuối cùng, sự khác biệt đáng kẻ về nghiện giữa các sinh viên đại học theo giới tính, lĩnh vực nghiên cứu, trình độ học vấn của cha mẹ và mức thu nhập gia đình được kiểm tra. Kết quả chỉ ra: Trong khi một số 5 nghiên cứu chỉ ra sự khác biệt về giới tính trong việc sử dụng điện thoại thông minh gây nghiện, những nghiên cứu khác đã chứng minh răng giới tính và việc sử dụng điện thoại thông minh không có liên quan đáng kẻ. Một vài nghiên cứu đã xem xét mỗi quan hệ giữa chứng nghiện và ngành học của sinh viên.
Một số trong số này đã phát hiện ra rằng sinh viên khoa nhân văn có mức độ nghiện ngập cao hơn sinh viên khoa học vật lý. Cho đến nay, người ta biết rất ít về mức độ của mối quan hệ giữa các yếu tổ kinh tế xã hội (như trình độ học vấn của cha mẹ và thu nhập gia đình), hành vi sử dụng điện thoại di động và tình trạng nghiện của sinh viên đại học. Kết qua liên quan đến việc sử dụng điện thoại thông minh va thu nhập gia đình đã cho thấy những dấu hiệu trái ngược. Cũng không có sự thống nhất về kết quả liên quan đến việc sử dụng điện thoại thông minh và giáo dục của cha mẹ.
Trong bài báo nghiên cứu “Sự thật về nghiện điện thoại thông minh” ( Emanuel, Richard và cộng sự, 2015) với mẫu đại diện gồm 404 sinh viên. Kết quả chỉ ra: Một phan năm đánh giá ban than là hoàn toan phụ thuộc vào điện thoại của ho; khoảng một nửa đông ý rằng ho quá phụ thuộc. Nhiều phụ nữ hơn nam giới cho biết họ cảm thấy an toàn hơn khi sử dụng điện thoại so với khi không có điện thoại. Hơn một nứa số sinh viên năm nhất cho biết họ sử dụng điện thoại như một cách dé thoát khỏi các van dé hoặc giải tỏa tâm trạng tôi tệ.
Các sinh viên hoàn toản không đông ý rằng họ khó tập trung đo sử dụng điện thoại. Sự thật về chứng nghiện điện thoại thông minh là mọi người không nghiện điện thoại thông minh của họ, họ nghiện thông tín, giải trí và các kết nồi cá nhân mà nó mang lại. Mọi người sẽ tiếp tục cô gắng hết sức dé kết nỗi với những người khác. Điện thoại thông minh cung cấp một cách di động, tức thời dé cập nhật thông tin, giải trí và kết nôi.
Y nghĩa của việc nghiện điện thoại thông minh được khám phá và một số tác động của điện thoại thông minh - tự xa lánh va thiếu kiên nhẫn - được thảo luận. Nghiên cứu về “So sánh các yếu tố rủi ro và bảo vệ liên quan đến nghiện điện thoại thông minh vả nghiện Internet” (Sam-wook cho và cộng su, 2015), đã thực hiện nghiên cứu nhằm đánh giá rủi ro và các yếu tô bảo vệ liên quan đến nghiện điện thoại thông minh ở sinh viên đại học và so sánh các yếu tố này với những yếu tổ liên quan đến nghiện Internet trên mẫu sinh viên đại học (N = 448) ở Hàn Quốc, dữ liệu được phân tích bằng nhiều phân tích hồi quy tuyến tính. Nghiên cứu hiện tại cho thấy khả năng bản thân việc sử dụng điện thoại thông minh không phải là một mục tiêu ma là thay vào đó la một phương tiện dé tham gia vào các hoạt động gây nghiện có thé truy cập được trên các thiết bị này. Nghiên cứu “Tiêu chí chân đoán được dé xuất cho chứng nghiện điện thoại thông minh” (Yu-Hsuan Lin va cộng sy, 2016) đã phat triển mười hai tiêu chí ứng viên cho các triệu chứng đặc trưng của chứng nghiện điện thoại thông minh và bốn tiêu chí cho sự suy giảm chức năng do sử dụng điện thoại thông minh qua mức.
Những người tham gia bao gồm 281 sinh viên đại học. Mỗi người tham gia được đánh giá một cách có hệ thống vẻ các hành vi sử đụng điện thoại thông minh băng cuộc phỏng vấn chân đoán có cấu trúc của bác sĩ tâm thần. độ đặc hiệu và độ chính xác chân đoán của các tiêu chí triệu chứng ứng cử viên đã được phân tích có liên quan đến ấn tượng toàn cầu về lâm sang của bác sĩ tâm than. Lựa chọn mô hình tối ưu với điểm giới hạn của tiêu chí chân đoán phân biệt đối tượng nghiện điện thoại thông minh với đối tượng không nghiện sau đó được xác định bằng độ chính xác chân đoán tốt nhất.
Sáu mô hình tiêu chí triệu chứng với điểm cat tối ưu được xác định dựa trên độ chính xác chan đoán tối đa. Các tiêu chí chân đoán nghiện điện thoại thông minh được đề xuất bao gồm (1) sáu tiêu chi triệu chứng, (2) bốn tiêu chí suy giảm chức năng và (3) tiêu chí loại trừ. Đặt ba tiêu chí triệu chứng làm điêm cắt cho kết quả chân đoán chính xác cao nhất (84.3%), trong khi độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 79,4% và 87,5%. Nhóm tác giả dé xuất xác định tình trạng suy giảm chức năng của hai hoặc nhiều hơn trong số bốn lĩnh vực xem xét khả năng tiếp cận và thâm nhập cao của việc sử dụng điện thoại thông minh.
Tại Hàn Quốc. theo báo cáo điều tra đối với 15.600 người ding ĐTTM tuôi từ 10 đến 54 được công bố vào tháng 3/2016 của Cơ quan Thông tin Xã hội Quốc gia (NIA), | trong 4 học sinh trung học Han Quốc có chiều hướng nghiện điện thoại thông minh - tăng 11% so với năm 2012. Nghiên cứu của NIA cũng cho thấy 9% người lớn có nguy cơ phụ thuộc vào DTTM (Cơ quan Thông tin Xã hội Quốc gia (NIA), 2016). Nghiên cứu “Những thói quen sử dụng di động” ghi nhận 58% nam giới và 47% phụ nữ có hành vi nghiện điện thoại ,76% phụ nữ sử dụng điện thoại di động trong phòng tắm, 74% ở nam giới.
Thậm chí có nghiên cứu còn phát hiện thấy ở một số quốc gia tý lệ phụ nữ sử dụng điện thoại đi động trong phòng tắm lên tới 91%. Có đến 44% số người được hỏi trả lời rằng, họ cảm thay lo lắng, bồn chén khi bị mắt điện thoại, trở thành nạn nhân của “cuộc sóng thiếu điện thoại” trong thời gian chừng một tuần. Diéu này ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và sức khỏe nhiều người, nhất là nhóm người nghiện điện thoại. Theo một nghiên cứu được công bồ trên tạp chí khoa học BMC Psychiatry của trường Đại Hoc King's College London thì tỉ lệ nghiện ĐTTM của người trẻ đang ở mức gần 25%, tương đương với cứ 4 người thì thì ] người mắc.
Theo đó, khoảng 10% - hơn 30% trẻ em và thanh thiếu niên đang sử dụng DTTM theo cách có hai, và trung bình khoảng 7 hơn 23% đang có dấu hiệu mắc phải "các van đề do sử dụng ĐTTM " (gọi tắt là PSU - problematic smartphone use). Đây là kết quả của một chuỗi 41 nghiên cứu về tác hại của điện thoại thông minh tới tinh thần kéo dài từ năm 2011 tới 2019 liên quan đến hơn 40.000 người dưới 20 tuôi. Theo Sky News, các nha nghiên cứu định nghĩa PSU lả hành vi liên quan đến việc sử dụng điện thoại thông minh dưới dang gây nghiện, chang hạn như lo lắng khi không mang theo điện thoại hoặc sẵn sàng bỏ bê các hoạt động khác dé đành thời gian cho điện thoại. Nghiên cứu cũng cho thấy có mối liên hệ giữa PSU và các vấn đề về sức khỏe tâm thần như lo lắng, căng thắng, mat ngủ và tâm trạng chán nan.
(Sei Yon Sohn, Philippa Rees, Bethany Wildridge, Nicola J. Kalk & Ben Carter, 2019). Nghiên cứu “M6i tương quan vẻ cấu trúc và chức năng của chứng nghiện điện thoại thông minh” (Juliane Horvath và cộng sy, 2020) cho thay mức độ phô biến và tính khả dung của điện thoại thông minh đã tăng lên đáng kẻ trong những năm qua. Xu hướng nay đi kèm với những lo ngại ngày cảng tăng về các tác động bat lợi tiêm tang của việc sử dụng điện thoại thông minh quá mức, đặc biệt là đối với sức khỏe thé chất và tinh than.
Gan đây, thuật ngữ “nghiện điện thoại thông minh” đã được giới thiệu để mô tả hành vi gây nghiện liên quan đến điện thoại thông minh va sự suy yếu về thé chat và tâm lý xã hội có liên quan.