CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM CHI NHÁNH TRUNG HÒA CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG HĐV CỦA NHTMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM - CHI NHÁNH TRUNG HÒA GIAI ĐOẠN 2020-2022 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN TẠI NHTMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM - CHI NHÁNH TRUNG HÒA ĐẾN NĂM 2025. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm của ngân hàng thương mại Theo Luật các TCTD khóa XI (2004): “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung là thường xuyên nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Dựa trên những dịch vụ mà NH cung cấp, khái niệm ngân hàng được định nghĩa: “Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.
Theo Nghị định Chính phủ số 59/2009/NĐCP: “Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của luật các Tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật”. Theo Luật các TCTD (2011): “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động của ngân hàng theo quy định của Luật này. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.” Qua các khái niệm trên có thể thấy bản chất chung của các NHTM là đi vay để cho vay, tức huy động tiền gửi chủ yếu từ các tầng lớp dân cư và TCKT rồi lại sử dụng số tiền đó để tiến hành các hoạt động cho vay cũng như đầu tư của ngân hàng.2 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại 1.1 Hoạt động huy động vốn Theo Cao Thị Ý Nhi (2018): “Huy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn kinh doanh cho ngân hàng thương mại. Huy động vốn là hoạt động thu hút nguồn tiền nhàn rỗi từ nền kinh tế thông qua các hình thức tiết kiệm định kỳ, phát hành giấy tờ có giá và các hình thức khác để tạo nguồn vốn cho vay của NHTM.” HĐV có thể được thực hiện thông qua những hình thức khác nhau.
Nguồn vốn của NHTM bao gồm: vốn CSH, vốn vay, vốn khác.2 Hoạt động cho vay Đây là hoạt động cơ bản nhất của ngân hàng thương mại và cũng là hoạt động mang lại phần lớn lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động cho vay của NHTM đóng vai trò quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước. Hoạt động cho vay của NHTM giúp đáp ứng nhu cầu về vốn cho việc chi tiêu và đầu tư mua sắm tài sản của các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế, góp phần sử dụng hiệu quả nguồn vốn trong nền kinh tế.3 Hoạt động cung cấp dịch vụ a, Dịch vụ thanh toán Dịch vụ thanh toán trong nước; Dịch vụ thanh toán quốc tế; Dịch vụ thẻ; Dịch vụ ngân hàng điện tử. b, Dịch vụ ủy thác Theo Cao Thị Ý Nhi (2018), dịch vụ ủy thác bao gồm: “Ủy thác cho vay; Ủy thác đầu tư; Ủy thác nhờ thu; Ủy thác chuyển tiền - thanh toán hộ; Ủy thác quản lý vốn; Ủy thác bảo quản và ký gửi; Ủy thác quản lý danh mục đầu tư.” c, Dịch vụ ngân quỹ 15 1.3 Chức năng và vai trò của ngân hàng thương mại 1.1 Chức năng a, Trung gian tài chính Là “cầu nối” giữa người thừa và người thiếu vốn, NHTM huy động các nguồn tiền tạm thời nhàn rồi từ các chủ thể kinh tế để hình thành nên nguồn vốn cho vay và sử dụng nguồn vốn này để đáp ứng nhu cầu vay vốn của các chủ thể thiếu vốn (cần bổ sung vốn, gửi vào tài khoản dự trữ bắt buộc hoặc tài khoản thanh toán tại ngân hàng trung ương, NHTM.) mà chủ yếu là cho vay ngắn hạn.
Với chức năng này NHTM vừa đi vay, vừa cho vay. Chức năng trung gian tín dụng xuất phát từ yêu cầu cần khắc phục khiếm khuyết của thị trường tài chính (cung và cầu về vốn không khớp nhau về thời gian và số lượng đã ảnh hưởng lớn tới tính tuần hoàn liên tục của quá trình tái sản xuất). Chức năng trung gian tín dụng phản ánh rõ nét nhất bản chất của NHTM trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. Người bán hàng Ngân hàng Người mua hàng hóa/ dịch vụ thương mại hóa/ dịch vụ b, Trung gian thanh toán NHTM đứng ra làm trung gian thanh toán giữa các khách hàng, giúp họ không phải trực tiếp thanh toán với nhau.
Chức năng trung gian thanh toán là kết quả của chức năng trung gian tín dụng. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, rất nhiều khách hàng đến mở tài khoản tại hệ thống, NHTM sẽ có thể thực hiện chức năng trung gian thanh toán khi tiến hành trích tiền từ tài khoản người mua (theo lệnh của bên mua) để thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản của người bán hay thực hiện các khoản thu khác theo lệnh của khách hàng. NHTM ra đời và phát triển đã làm thay đổi căn bản hoạt động 16 thanh toán, tạo ra hệ thống TTKDTM khá hoàn hảo trên phạm vi toàn thế giới. NHTM cung cấp các hình thức thanh toán tiện ích: séc, uỷ nhiệm thu/chi, thanh toán điện tử, thanh toán bù trừ.
cho phép khách hàng lựa chọn hình thức thanh toán hiệu quả và an toàn nhất. c, Chức năng tạo tiền Quá trình tạo tiền của NHTM thực chất là quá trình kết hợp chặt chẽ hoạt động tín dụng và hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (giữa chức năng trung gian thanh toán và trung gian thanh toán), làm cho hệ thống NHTM có khả năng tạo ra tiền ghi sổ (bút tệ) trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM. Khi NHTM sử dụng khoản tiền gửi để cho vay, khách hàng sử dụng tiền vay (số dư trên tài khoản trung gian thanh toán) để thanh toán hàng hóa dịch vụ. tức là ngân hàng đã tạo tiền.
Chức năng tạo tiền của NHTM chỉ xảy ra khi các hoạt động này được thực hiện bằng chuyển khoản, ghi Nợ cho tài khoản này, ghi Có cho tài khoản liên quan.2 Vai trò của ngân hàng Thứ nhất ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế NHTM ra đời là tất yếu của nền sản xuất hàng hoá. Sản xuất hàng hoá phát triển, lưu thông hàng hoá ngày càng mở rộng, trong xã hội xuất hiện người thì có vốn nhàn rỗi, người thì cần vốn để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều này giải quyết bằng cách NHTM đứng ra huy động vốn tạm thời nhàn rỗi từ các doanh nghiệp, dân cư sau đó sẽ cung ứng lại cho nơi cần vốn để tiến hành hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh. Xã hội càng phát triển nhu cầu vốn cần cho nền kinh tế càng tăng, không một tổ chức nào có thể đáp ứng được.
Chỉ có ngân hàng - tổ chức trung gian tài chính mới có thể đứng ra điều hoà, phân phối vốn giúp cho các thành phần kinh tế cùng phát triển. Thứ hai ngân hàng thương mại là cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường NHTM đóng vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và thị trường dưới hai góc độ. Thứ nhất, vốn là yếu tố đầu vào cơ bản, quan trọng của sản xuất kinh doanh. 17 Khi vốn tự có không đủ hoạt động, các doanh nghiệp phải tìm đến các nguồn vốn khác.
NHTM sẽ giúp doanh nghiệp giải quyết bằng nguồn vốn tín dụng. Như vậy, NHTM chính là cầu nối đưa doanh nghiệp đến với thị trường bằng các phương thức tín dụng. Thứ hai, NHTM làm trung gian thanh toán giữa doanh nghiệp và các đối tác, khách hàng. Như vậy, NHTM giúp doanh nghiệp và thị trường gần nhau hơn về không gian và thời gian.
Thứ ba ngân hàng thương mại là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước Khi nhà nước muốn khuyến khích phát triển một ngành, vùng hoặc lĩnh vực kinh tế nào đó thì cùng với việc sử dụng các cơ chế chính sách thì các Ngân hàng thương mại luôn được sử dụng bằng cách Ngân hàng thương mại yêu cầu các Ngân hàng thương mại thực hiện chính sách ưu đãi trong đầu tư, sử dụng vốn như: lãi suất ưu đãi, kéo dài thời hạn vay, giảm điều kiện vay vốn hoặc qua hệ thống Ngân hàng thương mại Nhà nước cấp vốn ưu đãi cho các lĩnh vực nhất định. Khi nền kinh tế tăng trưởng quá mức nhà nước thông qua Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ như: tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc để giảm khả năng tạo tiền từ đó giảm khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế. Thứ tư ngân hàng thương mại là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế Hiện nay xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới với việc hình thành hàng loạt các tổ chức kinh tế, các khu vực mậu dịch tự do, làm cho các mối quan hệ thương mại, lưu thông hàng hoá giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng được mở rộng, trong đó đầu tư ra nước ngoài là một hướng đầu tư quan trọng và mang lại nhiều lợi nhuận. Đồng thời các nước cần xuất khẩu những mặt hàng mà mình có lợi thế so sánh và nhập khẩu hàng hóa.
Các ngân hàng thương mại với những nghiệp vụ kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, bảo lãnh, các nghiệp vụ thanh toán quốc tế, đã góp 18 1.2 Khái quát hoạt động huy động vốn trong kinh doanh của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm huy động vốn Cao Thị Ý Nhi (2018): “Huy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn kinh doanh cho ngân hàng thương mại.” Theo Đặng Thị Thu Trà (2008): “Huy động vốn của các ngân hàng thương mại là nghiệp vụ tạo vốn của Ngân hàng với nhiều hình thức đa dạng và phong phú.