Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ mang tên "Mô phỏng quá trình chưng chân không để tách phân đoạn tinh dầu thông và ứng dụng" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Phùng Thị Anh Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Trung Kiên và GS.TS. Phạm Văn Thiêm tại Bộ môn Quá trình – Thiết bị Công nghệ Hóa học và Thực phẩm, Viện Kỹ thuật Hóa học, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

Về tính cấp thiết, tinh dầu thông là nguồn nguyên liệu quan trọng cho các ngành công nghiệp dược liệu, hóa mỹ phẩm và hóa chất. Tại Việt Nam, sản lượng tinh dầu thông thô do các đơn vị như Công ty cổ phần Thông Quảng Ninh và Công ty cổ phần Thông Quảng Phú chế biến đạt từ 6.500 đến 7.000 tấn/năm. Mặc dù tiềm năng nguyên liệu dồi dào, các cơ sở sản xuất trong nước hiện chỉ tạo ra sản phẩm tinh dầu thô với hàm lượng cấu tử chính $\alpha$-pinene đạt mức nhỏ hơn hoặc bằng 65%. Toàn bộ tinh dầu thông tinh khiết phục vụ công nghiệp chất lượng cao (yêu cầu hàm lượng $\alpha$-pinene lớn hơn 99%) hiện phải nhập khẩu từ các quốc gia như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Ấn Độ. Hệ tinh dầu thông là hỗn hợp nhiều cấu tử, có đặc tính không bền nhiệt, dễ bị phân hủy và đồng phân hóa khi đun nóng kéo dài ở áp suất thường. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: tại Việt Nam chưa có công bố khoa học nào xây dựng hoàn chỉnh mô hình nhiệt động, mô phỏng số học quá trình chưng cất gián đoạn nhiều cấu tử trên tháp đệm chân không, cũng như chưa xác lập được bộ thông số công nghệ và chiến lược vận hành thực tế để thu nhận sản phẩm $\alpha$-pinene có độ tinh khiết lớn hơn hoặc bằng 99%.

Mục tiêu của luận án bao gồm ba nội dung chính được văn bản đánh số như sau:

  1. Nghiên cứu xác định mô hình nhiệt động (mô hình cân bằng pha) cho hệ nhiều cấu tử tinh dầu thông;
  2. Nghiên cứu mô phỏng và thực nghiệm quá trình phân tách, tinh chế hệ tinh dầu thông bằng phương pháp chưng luyện gián đoạn ở áp suất thấp (chân không) nhằm thu được sản phẩm có độ tinh khiết cao (hàm lượng $\alpha$-pinene $\ge 99%$) từ hỗn hợp dầu thông thô;
  3. Nghiên cứu và đề xuất chiến lược vận hành hệ thống tháp chưng chân không gián đoạn loại đệm từ kết quả nghiên cứu mô phỏng, qua đó xác định được các thông số công nghệ thích hợp của quá trình.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hỗn hợp tinh dầu thông thô Việt Nam (hỗn hợp terpene nhiều cấu tử với các thành phần chính gồm $\alpha$-pinene, $\beta$-pinene, 3-carene, limonene, camphene, $\alpha$-thujene, terpinolene) và quá trình chuyển khối trong hệ thống thiết bị chưng luyện gián đoạn loại đệm cấu trúc làm việc dưới áp suất chân không. Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian được triển khai tại phòng thí nghiệm Bộ môn Quá trình – Thiết bị Công nghệ Hóa học và Thực phẩm kết hợp với hệ thống thiết bị thực nghiệm bán công nghiệp tại Công ty TNHH Xuất nhập khẩu tinh dầu và hương liệu (ARENEX Co., ltd), đồng thời khảo sát mẫu nguyên liệu thực tế tại Công ty cổ phần Thông Quảng Ninh và Công ty TNHH VISTA. Phạm vi kỹ thuật tập trung vào việc mô hình hóa cân bằng pha lỏng – hơi, thủy động lực học lớp đệm, và tối ưu hóa chế độ tách phân đoạn nhằm tinh chế $\alpha$-pinene đạt tiêu chuẩn thương phẩm.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được tác giả hệ thống hóa theo các nhóm công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam:

Về lịch sử phân tích và xác định cấu trúc các hợp chất trong tinh dầu thông: Houton DE Labillardiere (1818) là người đầu tiên phân tích cấu tử chính của dầu nhựa thông; tiếp theo là các khảo sát có hệ thống của M. Vol Liebig. Đến năm 1880, Vanlac đề xuất phương pháp phân loại cấu tử tinh dầu. Năm 1885, Otto Wallach xác định cấu trúc và đặt tên cấu tử pinene dựa trên nhiệt độ sôi và hành vi phản ứng; các kết quả nghiên cứu tecpen của ông được tổng kết trong cuốn sách "Terpene và Campher" (1914).

Về cân bằng pha lỏng – hơi (VLE) của hệ hydrocacbon và terpene: Cơ sở lý thuyết cân bằng pha dựa trên điều kiện đẳng fugat ($f_i^V = f_i^L$). Tác giả điểm lại các mô hình tính toán hệ số hoạt độ pha lỏng gồm mô hình Wilson (Wilson và Deal, 1962), mô hình NRTL (Renon và Prausnitz), mô hình UNIQUAC (Abrams và Prausnitz, 1974), và mô hình đóng góp nhóm UNIFAC (Derr và Deal, 1969). Đối với hỗn hợp tinh dầu thông, nhóm nghiên cứu tại các trường đại học Indonesia đã áp dụng mô hình đóng góp nhóm cho các cấu tử dầu thông. Tại Trung Quốc, nhóm tác giả Tong và Wang (2004, 2014) khảo sát cân bằng lỏng – hơi của các hệ có chứa pinene; Zhangfa và cộng sự nghiên cứu ứng dụng mô hình UNIFAC kết hợp tháp đệm cấu trúc để phân tách $\alpha$-pinene đạt hàm lượng 98%.

Về mô hình hóa, mô phỏng và công nghệ tháp chưng gián đoạn: Tháp chưng luyện gián đoạn nhiều cấu tử được biểu diễn qua hệ phương trình vi phân – đại số động học MESH (Material, Equilibrium, Summation, Heat). Mujtaba nghiên cứu mô phỏng vận hành chưng luyện gián đoạn bằng mô hình liên tục. Chilton và Colburn (1935) đề xuất mô hình hai lớp màng để xác định đơn vị chuyển khối ($H = n_{oy} HETP$). Kister và Larson xây dựng tương quan thực nghiệm tính toán chiều cao tương đương đĩa lý thuyết ($HETP$) theo bề mặt riêng của đệm. Nghiên cứu của Sama (2001, Ấn Độ) sử dụng tháp chưng gián đoạn chứa đệm lộn xộn để phân tách $\alpha$-pinene đạt 95%, tuy nhiên sử dụng công thức tính toán đơn giản và khó mở rộng quy mô. Về mặt thiết bị, hãng Sulzer đã phát triển các dòng đệm kim loại từ BX, CY đến Mellapak 250Y và CY Plus (700Y), tạo ra thế hệ đệm có diện tích bề mặt riêng lớn và trở lực thấp.

Về tình hình nghiên cứu tại Việt Nam: Phan Tống Sơn (1987) khảo sát thành phần tinh dầu thông Lâm Đồng và các hướng chuyển hóa hóa học; Hoàng Thanh Hương phân lập chiết tách tinh dầu làm dược liệu. Các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu đi sâu vào phản ứng hóa học (hydrat hóa tạo terpin hydrate, đồng hóa thành camphene, clo hóa làm thuốc trừ sâu). Về công nghệ phân tách: Trịnh Văn Dũng (2003) nghiên cứu tinh chế nhưng dùng phương pháp đơn giản nên chưa nâng cao được hàm lượng cấu tử chính; Trần Mạnh Tiến (2009) đưa ra mô hình chưng cất chân không tháp đệm nhưng mới dừng ở việc thống kê một số số liệu mà chưa có mô hình và thông số vận hành cụ thể; Đặng Xuân Hảo (2006) thiết kế tháp chưng phân đoạn chân không cao dạng đệm theo mô hình Billet với công suất 1.000 kg/mẻ thu được $\alpha$-pinene đạt 98%, nhưng quá trình nghiên cứu thuần túy dựa trên thực nghiệm tốn kém.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là: kết hợp phương pháp mô phỏng số học (sử dụng mô hình nhiệt động UNIFAC và NRTL) với thực nghiệm trên hệ thống tháp đệm cấu trúc Sulzer CY Plus quy mô bán công nghiệp, qua đó xác định cơ chế thủy động lực học, tối ưu hóa năng lượng cấp đáy, thời gian khởi động tháp và thiết lập phương án vận hành linh hoạt để phân tách thành công cấu tử $\alpha$-pinene đạt hàm lượng từ 99% trở lên.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các mô hình nhiệt động

Quá trình chưng luyện gián đoạn hệ nhiều cấu tử không ổn định được mô tả toán học dựa trên hệ phương trình MESH:

  • Cân bằng vật chất chung và cân bằng vật chất từng cấu tử: $$\frac{dM_i}{dt} = L_{i+1} + V_{i-1} - L_i - V_i$$ $$\frac{d(M_i x_{i,j})}{dt} = L_{i+1} x_{i+1,j} + V_{i-1} y_{i-1,j} - L_i x_{i,j} - V_i y_{i,j}$$
  • Cân bằng năng lượng: $$\frac{d(M_i H_i^L)}{dt} = L_{i+1} H_{i+1}^L + V_{i-1} H_{i-1}^V - L_i H_i^L - V_i H_i^V$$
  • Điều kiện cân bằng lỏng – hơi (VLE): $$\phi_i y_i P = \gamma_i x_i f_i^0$$ Trong đó $\phi_i$ là hệ số fugat trong pha hơi; $\gamma_i$ là hệ số hoạt độ trong pha lỏng; $f_i^0$ là fugat ở trạng thái chuẩn của cấu tử $i$; $P$ là áp suất chung của hệ thống.

Hệ số hoạt độ pha lỏng $\gamma_i$ được khảo sát qua hai mô hình chính:

  1. Mô hình NRTL (Non-Random Two-Liquid): Tính toán dựa trên năng lượng tương tác giữa các phân tử thông qua các tham số $\tau_{ji}$, $G_{ji}$ và thông số trật tự cục bộ $\alpha_{ji}$.
  2. Mô hình UNIFAC: Phương pháp đóng góp nhóm phân chia logarit hệ số hoạt độ thành phần tổ hợp (combinatorial, $\ln \gamma_i^C$) biểu thị ảnh hưởng kích thước, hình dạng phân tử và phần dư (residual, $\ln \gamma_i^R$) biểu thị tương tác năng lượng giữa các nhóm chức: $$\ln \gamma_i = \ln \gamma_i^C + \ln \gamma_i^R$$ Các tham số hình học phân tử gồm thể tích phân tử $r_i = \sum \nu_k^{(i)} R_k$ và diện tích bề mặt phân tử $q_i = \sum \nu_k^{(i)} Q_k$.

Về thủy động lực học tháp đệm, chiều cao lớp đệm được tính theo mô hình bậc cân bằng pha: $$H = N_{LT} \times HETP$$ Tương quan của Kister và Larson cho đệm cấu trúc kiểu Y: $$HETP = \frac{100 C_{XY}}{a_p} \quad (\text{với } C_{XY} = 1)$$ Giới hạn tải trọng hơi tại điểm sặc ($F_{v,sac}$) và trở lực đệm khi được tưới lỏng ($\Delta P / H$) được xác định nhằm khống chế tháp vận hành dưới 80% tải trọng sặc ($F_v / F_{v,sac} < 0{,}8$).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và công cụ phân tích

Luận án kết hợp giữa mô phỏng số trị và thực nghiệm bán công nghiệp:

  • Hệ thống thực nghiệm: Tháp chưng chân không gián đoạn sử dụng đệm cấu trúc Sulzer CY Plus (700Y) có diện tích bề mặt riêng $a = 700\text{ m}^2/\text{m}^3$. Hệ thống đi kèm nồi đun gia nhiệt đáy tháp, thiết bị ngưng tụ đỉnh, bẫy lạnh, hệ thống bơm hút chân không sâu và bộ chia hồi lưu tự động.
  • Nguồn nguyên liệu: Tinh dầu thông thô khai thác từ nhựa thông sống tại Việt Nam, cung cấp bởi Công ty cổ phần Thông Quảng Ninh và các đơn vị sản xuất nội địa.
  • Công cụ và thiết bị phân tích kiểm chứng:
    • Khúc xạ kế Abbe: Đo chỉ số khúc xạ của các phân đoạn lỏng.
    • Máy chuẩn độ Karl Fischer: Xác định chính xác hàm lượng nước có trong mẫu nguyên liệu và sản phẩm.
    • Sắc ký khí (GC): Phân tích định lượng biến thiên nồng độ các cấu tử trong quá trình lấy sản phẩm.
    • Sắc ký khí khối phổ (GC-MS): Nhận dạng định danh chính xác các cấu tử terpene có mặt trong tinh dầu thông nguyên liệu và các phân đoạn chưng cất.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 trình bày tổng quan về nguồn gốc, tính chất vật lý, hóa học, thành phần hóa học của tinh dầu thông thế giới và Việt Nam, đồng thời tổng thuật các nghiên cứu về công nghệ phân tách. Tinh dầu thông (CAS 8006-64-2) có sản lượng toàn cầu khoảng 260.000 tấn/năm. Tinh dầu thông thô Việt Nam có tỷ trọng từ 0,855 đến 0,870 g/cm³, nhiệt độ sôi từ 154°C đến 170°C, bao gồm các cấu tử chính: $\alpha$-thujene (~1%), $\alpha$-pinene (45 - 65%), $\beta$-pinene (1 - 3%), camphene (~1%), d-limonene (3 - 4%), $\Delta$-3-carene (lên đến 35%), và terpinolene.

Cấu tử Công thức phân tử Khối lượng phân tử (g/mol) Khối lượng riêng (kg/m³) Nhiệt độ sôi (°C) Áp suất hơi ở 25°C (mmHg) Nhiệt hóa hơi (kJ/mol)
$\alpha$-pinene $\text{C}{10}\text{H}{16}$ 136,24 864,3 156,1 4,750 37,83
$\beta$-pinene $\text{C}{10}\text{H}{16}$ 136,20 873,2 166,0 2,398 38,59
camphene $\text{C}{10}\text{H}{16}$ 136,23 842,0 159,0 — 46,86
$\Delta$-3-carene $\text{C}{10}\text{H}{16}$ 136,20 879,0 171,4 1,816 39,10
d-limonene $\text{C}{10}\text{H}{16}$ 136,20 847,4 176,5 1,541 39,48
$\alpha$-thujene $\text{C}{10}\text{H}{16}$ 136,23 864,3 151,0 — —
terpinolene $\text{C}{10}\text{H}{16}$ 136,24 — 185,0 — —

Về thành phần tinh dầu thông của một số quốc gia (theo Bảng 1.8 của luận án):

Xuất xứ $\alpha$-Pinene (% KL) $\beta$-Pinene (% KL) 3-Carene (% KL) d-Limonene (% KL) Tỷ trọng ở 20°C
Hy Lạp 92 – 97 1 – 3 0 – 1 0 – 2 0,860 – 0,865
Mexico 70 – 95 2 – 15 1 – 2 0 – 4 0,862 – 0,868
Trung Quốc 70 – 95 4 – 15 0 – 5 1 – 3 0,860 – 0,865
Bồ Đào Nha 70 – 85 10 – 20 — 1 – 4 0,860 – 0,870
Nam Mỹ 45 – 85 5 – 45 0 – 2 2 – 4 0,860 – 0,870
Indonesia 65 – 85 1 – 3 10 – 18 1 – 3 0,860 – 0,870
Pháp 65 – 75 20 – 26 — 1 – 5 0,860 – 0,871
Nga 40 – 75 4 – 15 0 – 20 0 – 5 0,855 – 0,865
Ba Lan 40 – 70 2 – 15 0 – 25 1 – 5 0,855 – 0,865
Mỹ – Canada 40 – 65 20 – 35 0 – 4 2 – 20 0,860 – 0,870
New Zealand 30 – 50 40 – 60 — — —
Ấn Độ 20 – 40 5 – 20 45 – 70 — 0,850 – 0,865
Việt Nam 45 – 65 1 – 3 30 – 35 3 – 4 0,855 – 0,870

Tác giả nhấn mạnh tính không bền nhiệt của $\alpha$-pinene và $\beta$-pinene. Khi gia nhiệt kéo dài ở áp suất khí quyển, $\alpha$-pinene bị đồng phân hóa thành allocimene, dipentene, rồi chuyển vị thành $\beta$-pinene, $\gamma$-pinene và dime hóa; $\beta$-pinene bị nhiệt phân tạo myrcene. Số liệu độ bền nhiệt (Bảng 1.9 và 1.10) chứng minh việc cấp nhiệt ở nhiệt độ cao gây thất thoát nguyên liệu nghiêm trọng. Do đó, luận án xác định giải pháp bắt buộc là chưng cất chân không trên tháp đệm nhằm giảm nhiệt độ sôi, hạn chế phản ứng phân hủy nhiệt và bảo đảm chất lượng sản phẩm.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận mô hình hóa, các thuật toán mô phỏng quá trình chưng gián đoạn, mô tả quy mô thiết bị thực nghiệm và các kỹ thuật đo lường phân tích:

  • Phương pháp mô hình hóa: Xây dựng hệ thống giải thuật mô phỏng động học tháp chưng gián đoạn đa cấu tử dựa trên hệ phương trình MESH giải bằng phương pháp số trên máy tính. Mô hình tích hợp các tính chất nhiệt động học phụ thuộc nhiệt độ như nhiệt dung riêng, enthalpy, tỷ trọng và độ nhớt động lực của các hydrocacbon monoterpene.
  • Mô hình hóa cân bằng pha: Áp dụng phương pháp phân chia nhóm chức UNIFAC và mô hình NRTL để ngoại suy dữ liệu cân bằng lỏng – hơi từ các cặp 2 cấu tử sang hệ 3 cấu tử và hệ đa cấu tử.
  • Hệ thống thiết bị thực nghiệm: Lắp đặt hệ thống chưng cất chân không gián đoạn bán công nghiệp trang bị tháp đệm cấu trúc kim loại Sulzer CY Plus (700Y). Cấu hình gồm nồi đun gia nhiệt đáy tháp có kiểm soát công suất nhiệt (Duty), cột đệm chuyển khối, bẫy lạnh ngưng tụ hơi thứ, bơm hút chân không và cơ cấu điều khiển chia dòng hồi lưu đỉnh.
  • Phương pháp phân tích mẫu: Quy trình xác định hàm lượng nước bằng máy chuẩn độ Karl Fischer; kiểm tra độ tinh sạch và chỉ số khúc xạ bằng khúc xạ kế Abbe; định tính và định lượng thành phần các cấu tử trong từng phân đoạn bằng GC và GC-MS.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 tổng hợp toàn bộ các kết quả tính toán mô phỏng và kiểm chứng thực nghiệm theo từng giai đoạn công nghệ:

  • Đặc trưng nguyên liệu và cân bằng pha: Dựa trên phân tích GC-MS mẫu tinh dầu thông thô, tác giả phân chia các nhóm cấu trúc của các phân tử monoterpene theo mô hình UNIFAC (Bảng 3.5). Kết quả so sánh cân bằng lỏng – hơi của hệ 2 cấu tử $\alpha$-pinene và $\beta$-pinene tại dải áp suất 20 – 750 mmHg cho thấy mô hình UNIFAC và NRTL cho kết quả tương đồng với thực nghiệm với độ lệch trung bình tuyệt đối (AMD) nhỏ. Khảo sát mở rộng cho hệ 3 cấu tử ($\alpha$-pinene – $\beta$-pinene – $\delta$-3-carene; $\beta$-pinene – d-limonene – $\delta$-3-carene; $\alpha$-pinene – d-limonene – $\delta$-3-carene) được thể hiện qua các giản đồ tam giác và bảng dữ liệu VLE (Bảng 3.8 – 3.11), khẳng định mô hình UNIFAC có khả năng dự đoán chính xác trạng thái cân bằng pha lỏng – hơi của hệ tinh dầu thông.
  • Mô phỏng và tối ưu giai đoạn khởi động: Đệm cấu trúc Sulzer CY Plus (700Y) được xác định các thông số hình học và thực nghiệm giá trị $HETP$. Mô phỏng sự biến thiên nồng độ các cấu tử dọc theo chiều cao tháp và nhiệt độ đáy, đỉnh tháp trong giai đoạn khởi động (hồi lưu toàn phần, $R = \infty$) được kiểm chứng qua thực nghiệm (Bảng 3.14 – 3.15). Khảo sát thời gian thiết lập trạng thái xác lập tại các mốc thời gian $t = 0{,}5\text{ h}$; $1{,}0\text{ h}$; $1{,}5\text{ h}$; $2{,}0\text{ h}$; $2{,}5\text{ h}$ và $3{,}0\text{ h}$ (Hình 2.26 – 2.30) cho thấy thời gian khởi động tối ưu cần duy trì từ 1,5 đến 2,0 giờ để nồng độ $\alpha$-pinene trên đỉnh tháp đạt mức độ tinh khiết cao trước khi mở van lấy sản phẩm.
  • Nghiên cứu thủy động lực học và năng lượng gia nhiệt đáy: Kết quả mô phỏng và thực nghiệm xác định quan hệ giữa năng lượng cấp cho đáy tháp (Duty) với lượng lỏng tích tụ trên đỉnh tháp và lượng hơi tại bậc thứ 2. Nghiên cứu xác lập trở lực đệm khô, trở lực lớp đệm khi tưới lỏng và trở lực tại điểm sặc (Bảng 3.17 – 3.19). Vùng làm việc tối ưu của tháp được khống chế ở mức tải trọng pha hơi nhỏ hơn 80% tải trọng sặc nhằm tránh hiện tượng sặc tháp và quá nhiệt cục bộ ở đáy.
  • Tối ưu hóa chỉ số hồi lưu và chiến lược lấy sản phẩm: Tác giả tiến hành mô phỏng và chạy thực nghiệm tháp chưng với các dải chỉ số hồi lưu khác nhau ($R = 5 \div 15$ và $R = 20 \div 30$). Xác lập mối tương quan giữa chỉ số hồi lưu mô phỏng ($R_{MP}$) và chỉ số hồi lưu thực nghiệm ($R_{TN}$), thiết lập phương trình hệ số thời gian chưng đối với cấu tử $\alpha$-pinene $\ge 99%$.
  • Vận hành tháp bán công nghiệp: Luận án đề xuất phương án vận hành kết hợp linh hoạt giữa quy trình vận hành kín (hồi lưu toàn phần) và quy trình vận hành mở:
    1. Giai đoạn khởi động: Vận hành kín hồi lưu toàn phần trong 1,5 – 2 giờ để tích lũy cấu tử nhẹ ở đỉnh.
    2. Lấy phân đoạn đầu: Vận hành với chỉ số hồi lưu cao để loại bỏ triệt để các tạp chất dễ bay hơi ($\alpha$-thujene).
    3. Lấy phân đoạn chính $\alpha$-pinene: Điều chỉnh chỉ số hồi lưu thích hợp để thu phân đoạn chính có nồng độ $\alpha$-pinene $\ge 99%$.
    4. Lấy phân đoạn chuyển tiếp và các cấu tử nặng: Tăng chỉ số hồi lưu, xen kẽ các chu kỳ hồi lưu toàn phần ngắn để tách vét $\alpha$-pinene dư và chuyển sang phân đoạn $\beta$-pinene, $\delta$-3-carene và cặn đáy. Kết quả thực nghiệm trên tháp bán công nghiệp xác nhận khối lượng các phân đoạn thu được và hiệu suất phân tách đạt mục tiêu chất lượng thương phẩm đã đề ra (Hình 2.57 – 2.58).

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận

  1. Luận án đã xác định và kiểm chứng được mô hình nhiệt động cân bằng pha lỏng – hơi (mô hình UNIFAC và mô hình NRTL) phù hợp cho hệ terpene đa cấu tử phức tạp của tinh dầu thông thô Việt Nam. Kết quả tính toán từ mô hình đóng góp nhóm UNIFAC cho phép dự đoán chính xác cân bằng lỏng – hơi của hệ nhiều cấu tử mà không đòi hỏi phải đo đạc thực nghiệm phức tạp đối với từng cặp cấu tử riêng biệt.
  2. Thiết lập được hệ thống mô hình toán học động học và chương trình mô phỏng số hoàn chỉnh cho tháp chưng cất chân không gián đoạn sử dụng đệm cấu trúc (Sulzer CY Plus 700Y). Mô hình phản ánh sát diễn biến nồng độ cấu tử theo chiều cao tháp, phân bố nhiệt độ đỉnh, nhiệt độ đáy và thủy động lực học lớp đệm trong cả hai giai đoạn: khởi động hồi lưu toàn phần và lấy sản phẩm với chỉ số hồi lưu biến đổi.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Xác định được bộ thông số công nghệ thích hợp cho quá trình phân tách tinh dầu thông Việt Nam: áp suất chân không làm việc, năng lượng cấp nhiệt đáy tháp (Duty) khống chế dưới 80% tải trọng sặc nhằm tránh phân hủy nhiệt, thời gian khởi động tháp tối ưu (1,5 đến 2 giờ), và dải chỉ số hồi lưu ($R$) tối ưu cho từng phân đoạn.
  2. Đề xuất và ứng dụng thành công chiến lược vận hành tháp chưng chân không gián đoạn loại đệm ở quy mô bán công nghiệp. Kết quả thực nghiệm đã tinh chế thành công từ tinh dầu thông thô nội địa thu được sản phẩm $\alpha$-pinene đạt độ tinh khiết cao với hàm lượng $\ge 99%$, đáp ứng yêu cầu thương phẩm phục vụ công nghiệp hóa mỹ phẩm và dược phẩm.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Kiến nghị áp dụng chiến lược vận hành và bộ thông số công nghệ đã được tối ưu hóa vào các cơ sở chế biến nhựa thông quy mô công nghiệp tại Việt Nam, cụ thể như Công ty cổ phần Thông Quảng Ninh và Công ty cổ phần Thông Quảng Phú, nhằm thay thế phương pháp cất cuốn hơi nước thủ công, nâng cao giá trị chuỗi sản phẩm dầu thông xuất khẩu.
  • Đề xuất mở rộng phạm vi áp dụng của mô hình mô phỏng số sang các hệ tinh dầu thiên nhiên không bền nhiệt khác của Việt Nam (tinh dầu sả, tinh dầu tràm, tinh dầu quế) để phân tách các đơn hương tinh khiết có giá trị kinh tế cao.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án tập trung chủ yếu vào mục tiêu công nghệ là phân tách cấu tử chính $\alpha$-pinene đạt hàm lượng $\ge 99%$. Các cấu tử còn lại trong tinh dầu thông thô như $\beta$-pinene (chỉ chiếm 1 – 3%), d-limonene (3 – 4%) và $\Delta$-3-carene (chiếm 30 – 35%) mới chỉ được khảo sát như các hợp phần trong quá trình phân đoạn mà chưa đi sâu nghiên cứu quy trình công nghệ để thu hồi triệt để từng đơn hương phụ này ở độ tinh khiết thương phẩm riêng biệt. Ngoài ra, việc nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành trên hệ thống tháp gián đoạn bán công nghiệp theo mẻ, chưa mở rộng khảo sát chế độ làm việc bán liên tục hoặc liên tục hoàn toàn ở quy mô nhà máy công nghiệp lớn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được văn bản gợi mở bao gồm:

  • Tiếp tục nghiên cứu ứng dụng mô hình số và tối ưu hóa chế độ công nghệ để phân tách sâu các phân đoạn chứa $\beta$-pinene, $\Delta$-3-carene và d-limonene đạt tiêu chuẩn đơn hương tinh khiết cao.
  • Nghiên cứu tích hợp các giải thuật điều khiển tự động hóa tiên tiến theo thời gian thực đối với chỉ số hồi lưu và công suất cấp nhiệt đáy, phục vụ việc chuyển giao công nghệ ở quy mô sản xuất công nghiệp hoàn chỉnh.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng học thuật và kỹ thuật:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu ngành Kỹ thuật Hóa học, Công nghệ Hóa học, Quá trình và Thiết bị: Luận án cung cấp phương pháp luận chi tiết về việc kết hợp mô hình nhiệt động UNIFAC/NRTL với mô hình động học MESH để mô phỏng quá trình truyền khối không ổn định trên tháp đệm cấu trúc.
  • Đối với kỹ sư thiết kế và vận hành thiết bị hóa chất – dược phẩm: Tài liệu là cẩm nang thực tiễn về tính toán thủy động lực học tháp đệm chân không, phương pháp xác định trở lực đệm khô, đệm ướt, điểm sặc tháp, cách khắc phục sự quá nhiệt làm phân hủy hợp chất không bền nhiệt, và phương án phối hợp các chu trình hồi lưu trong quá trình chưng gián đoạn.
  • Đối với các doanh nghiệp sản xuất và chế biến tinh dầu, hương liệu: Cung cấp trực tiếp số liệu thực nghiệm về nguyên liệu tinh dầu thông Việt Nam, các thông số vận hành của tháp đệm Sulzer CY Plus 700Y, làm cơ sở kỹ thuật để đầu tư cải tiến dây chuyền sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm $\alpha$-pinene đạt độ tinh khiết $\ge 99%$.

Câu hỏi thường gặp

1. Hàm lượng các cấu tử chính trong tinh dầu thông thô Việt Nam được tác giả xác định là bao nhiêu?

Theo kết quả nghiên cứu và tổng hợp của tác giả (trình bày tại Chương 1 và Chương 3), tinh dầu thông thô chiết từ nhựa thông sống tại Việt Nam có thành phần gồm: $\alpha$-pinene chiếm tỷ lệ chủ yếu từ 45% đến 65%, $\Delta$-3-carene chiếm từ 30% đến 35%, d-limonene chiếm từ 3% đến 4%, $\beta$-pinene chiếm lượng nhỏ từ 1% đến 3%, camphene khoảng 1%, $\alpha$-thujene khoảng 1%, và một lượng nhỏ terpinolene. Tỷ trọng của tinh dầu thông Việt Nam ở 20°C nằm trong khoảng 0,855 đến 0,870 g/cm³.

2. Vì sao quá trình phân tách $\alpha$-pinene từ tinh dầu thông bắt buộc phải thực hiện trong điều kiện chưng cất chân không trên tháp đệm?

Tinh dầu thông là hệ chất hữu cơ không bền nhiệt. Ở nhiệt độ sôi dưới áp suất thường (nhiệt độ sôi của $\alpha$-pinene là 156,1°C), $\alpha$-pinene và $\beta$-pinene dễ bị phân hủy và chuyển hóa nhiệt thành allocimene, dipentene, myrcene và các hợp chất dime hóa, làm suy giảm nghiêm trọng hiệu suất thu hồi và chất lượng sản phẩm. Việc chưng cất dưới áp suất chân không giúp hạ thấp nhiệt độ sôi của hệ hỗn hợp, cho phép khống chế nhiệt độ đáy tháp ở mức an toàn. Đồng thời, việc sử dụng tháp đệm cấu trúc (thay vì tháp đĩa) mang lại ưu thế trở lực thủy lực rất nhỏ, độ giảm áp suất qua tháp thấp và thời gian lưu của chất lỏng ngắn, ngăn ngừa hiện tượng quá nhiệt cục bộ.

3. Mô hình nhiệt động nào được tác giả lựa chọn để tính toán cân bằng lỏng – hơi và ưu điểm của mô hình đó là gì?

Tác giả đã nghiên cứu và lựa chọn mô hình đóng góp nhóm UNIFAC (bên cạnh mô hình NRTL). Ưu điểm của mô hình UNIFAC là dự đoán được hệ số hoạt độ pha lỏng ($\gamma_i$) của hệ nhiều cấu tử dựa trên các thông số thể tích ($R_k$), diện tích bề mặt ($Q_k$) và hệ số tương tác nhóm ($a_{mn}$) của các nhóm chức cấu thành phân tử monoterpene mà không bắt buộc phải có sẵn đầy đủ dữ liệu thực nghiệm cân bằng lỏng – hơi của tất cả các cặp cấu tử riêng lẻ.

4. Loại đệm nào được lựa chọn để mô phỏng và thực nghiệm trong luận án?

Luận án lựa chọn loại đệm cấu trúc lưới kim loại Sulzer CY Plus (700Y) của hãng Sulzer. Đây là loại đệm cấu trúc kiểu Y (nếp gấp nghiêng góc 45° so với phương nằm ngang) có diện tích bề mặt riêng đạt $700\text{ m}^2/\text{m}^3$. Đệm có đặc tính trở lực thủy lực thấp, hiệu suất tách cao (chiều cao tương đương đĩa lý thuyết $HETP$ nhỏ) và khả năng phân bố đều dòng lỏng – hơi trong vùng áp suất chân không sâu.

5. Tiêu chí chất lượng cao nhất mà luận án đạt được khi tinh chế $\alpha$-pinene từ nguồn tinh dầu thông thô nội địa là gì?

Mục tiêu kỹ thuật và kết quả thực nghiệm cao nhất mà luận án đã đạt được trên hệ thống tháp chưng cất chân không gián đoạn bán công nghiệp là thu nhận được phân đoạn sản phẩm $\alpha$-pinene có hàm lượng độ tinh khiết đạt từ 99% trở lên ($\alpha\text{-pinene} \ge 99%$), đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe của tinh dầu thông thương phẩm chất lượng cao phục vụ ngành dược liệu và tổng hợp hóa mỹ phẩm.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Phùng Thị Anh Minh đã giải quyết trọn vẹn bài toán khoa học và kỹ thuật về phân tách, tinh chế cấu tử chính $\alpha$-pinene từ nguồn tinh dầu thông thô dồi dào của Việt Nam bằng phương pháp chưng cất chân không gián đoạn trên tháp đệm cấu trúc Sulzer CY Plus. Công trình đã kết hợp phương pháp mô phỏng số học dựa trên các mô hình nhiệt động UNIFAC, NRTL và hệ phương trình MESH với quy trình kiểm chứng thực nghiệm bán công nghiệp tại nhà máy. Kết quả nghiên cứu đã xác lập hệ thống thông số công nghệ tối ưu về công suất gia nhiệt đáy, thời gian khởi động và chỉ số hồi lưu linh hoạt, phân tách thành công sản phẩm $\alpha$-pinene đạt độ tinh khiết cao từ 99% trở lên. Đây là công trình có giá trị khoa học và giá trị ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho ngành công nghệ hóa học và công nghiệp chế biến tinh dầu tại Việt Nam.