CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương này sẽ phân tích các rào cản trong đầu tư ra nước ngoài từ các nghiên cứu đã được công bố nhằm xây dựng cơ sở lý thuyết cho biện luận xây dựng Mô hình nhận diện các rào cản mà doanh nghiệp gặp phải khi thực hiện đầu tư ra nước ngoài. Đây là Biện luận 1 của Báo cáo này.1 Khái niệm “Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài” Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (IMF) “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn đầu tư được thực hiện để thu lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư, ngoài mục đích lợi nhuận, nhà đầu tư còn mong muốn dành được chỗ đứng trong việc quản lý doanh nghiệp và mở rộng thị trường.”1 Ở điều 13 của Luật Đầu tư Việt Nam được Quốc hội thông qua 11/2005 nêu rõ: “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”. Như vậy, bản chất của đầu tư ra nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư.2 Các rào cản trong đầu tư ra nước ngoài Theo nhận định của bà Võ Thị Thanh Thu (2009) sau hơn 20 năm hội nhập xu thế, hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam vẫn còn mang tính tự phát, phát triển chưa xứng với tiềm năng: “Tuy số lượng dự án đầu tư và vốn đăng ký có tăng trưởng và ổn định theo từng năm nhưng năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh tế vẫn còn thấp”. Cụ thể hơn, bà Võ Thị Thanh Thu đã chỉ ra một số thách thức doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt.
Các doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong vấn đề kêu gọi nguồn vốn, tiếp cận thông tin đầu tư, thủ tục hành chính trong nước vẫn rườm rà phức tạp. Hoạt động đầu tư thiếu sự hỗ trợ từ các cơ quan thẩm quyền và chưa được coi trọng đúng mức. Một số nhà kinh tế cho rằng các doanh nghiệp đầu tư trong bối cảnh 1 Nguyễn Văn Hoa, 2006. Tạp chí khoa học số 4.
Bộ Công thương.vn/dau-tu/fdi-trong- dieu-kien-viet-nam-gia-nhap-wto-. 6 hiện nay đa phần vì lợi ích cá nhân hơn lợi ích quốc gia nên chiến lược phát triển còn manh mún, chưa tổng quát; cũng chính vì thế mà việc xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ các nhà đầu tư Việt Nam không mang tính cấp thiết và cấp bách. Những nguyên nhân trên chứng minh rằng rào cản và khó khăn doanh nghiệp gặp phải không chỉ đến từ thực lực bản thân doanh nghiệp mà còn đến từ các nguyên nhân khác nằm ngoài doanh nghiệp như Nhà nước, tình hình kinh tế thế giới và các thách thức ấy có khả năng tiếp tục gia tăng tại các nước tiếp nhận đầu tư; mang lại nhiều rủi ro cho doanh nghiệp. Với mong muốn đẩy cao hiệu quả kinh tế các hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam, nhóm quyết định chọn đề tài “Xây dựng mô hình nhận diện rào cản của doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài” làm đề tài nghiên cứu khoa học của nhóm.
Việc xây dựng mô hình rào cản dựa trên việc tổng hợp, khái quát kiến thức chung khi nghiên cứu về các rào cản mà các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài khác họ từng gặp phải khi tiến hành đầu tư. Từ đó, nhóm sẽ tiến hành tóm tắt và đưa ra những rào cản tiêu biểu thường gặp phải, sắp xếp theo các cấp bậc và mức độ. Với phương hướng đó, các doanh nghiệp sẽ dễ dàng khái quát, nắm được các vấn đề quan trọng họ sẽ thường gặp phải khi đi đầu tư và từ đó tự chuẩn bị thật tốt, giảm thiểu rủi ro xuống mức thấp nhất. Từng bước xây dựng mô hình rào cản sẽ được làm rõ hơn khi nhóm tiến hành phân tích và biện luận các yếu tố ở trong phần cơ sở lý luận.
Năm 2005, Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) đã tiến hành nghiên cứu trường hợp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Argentina. Trong đó, nghiên cứu chỉ ra rằng: một trong những trở ngại khiến việc đầu tư của Argentina gặp khó khăn chính là sự hạn chế về nguồn vốn và mức kinh phí đầu tư thấp so với mức cạnh tranh quốc tế (Kosacoff, 1999). Bên cạnh yếu tố trên, tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần cao hơn so với đối thủ cạnh tranh nước ngoài cũng là một trong những thách thức lớn khi các doanh nghiệp Agrentina tiến hành đầu tư (ECLAC, 2002). Báo cáo ghi nhận thêm rằng, cuộc khủng hoảng kinh tế trước đó ở Argentina cũng khiến các doanh nghiệp suy yếu đáng kể.
Dẫn đến tình trạng một số công ty vừa và nhỏ bị thu mua bởi các doanh nghiệp nước ngoài hoặc tốc độ cạnh tranh giảm sút do nguồn vốn bất ổn định và dần bị xóa sổ khỏi thị trường. Ngoài ra, vấn đề tuyển chọn nguồn 7 nhân lực đạt chuẩn quốc tế để điều hành và tiếp quản hoạt động kinh doanh ở nước đầu tư cũng được coi là một trở ngại lớn. Các chính sách về đầu tư và lưu thông nguồn vốn khiến các nhà đầu tư và doanh nghiệp cảm thấy khó khăn khi đầu tư OFDI, cụ thể là quy định về việc hạn chế số lượng ngoại tệ được trao đổi. Quy định ban hành rằng các nhà đầu tư và doanh nghiệp Argentina phải có quyền truy cập vào các Mercado Único y Libre de Cambios (thị trường ngoại hối chính thức) để mua được ngoại tệ cho mục đích đầu tư, tuy nhiên số tiền ngoại tệ này sẽ bị giới hạn theo hàng tháng (Banco Central, 2005).
Giới hạn hiện tại tầm khoảng 2 triệu đô la Mỹ, có thể tăng theo thuế xuất khẩu đã nộp của công ty nhưng số tiền giới hạn cùng với các thủ tục báo cáo rườm rà đang là một rào cản lớn khi so sánh với trường hợp của Thổ Nhĩ Kỳ. Theo nghị định số 32 được ban hành năm 1989 bởi Hội đồng Bộ trưởng, các nhà đầu tư ở Thổ Nhĩ Kỳ được tự do trao đổi ngoại tệ lên đến 5 triệu đô la Mỹ bằng cả hiện kim lẫn hiện vật mà không cần sự cho phép hay thủ tục chính thức nào từ phía chính phủ (UNCTAD, 2005). Nghiên cứu mang tên “The growth of Brazil direct investment abroad and the challenge it faces” (Barros, 2009) đề cập việc tiếp cận nguồn vốn là một trong những thách thức doanh nghiệp phải đối mặt. Trong một cuộc khảo sát năm 2004 ở nước này, các doanh nghiệp Brazil đánh giá rằng nguồn vốn ban đầu họ có được để thực hiện công tác đầu tư chủ yếu là nguồn vốn có sẵn, việc tiếp cận nguồn vốn từ phía Nhà nước còn gặp nhiều trở ngại.
Các nhà đầu tư nhận định rằng việc tiếp cận được nguồn vốn từ BNDES (Ngân hàng phát triển Brazil) sẽ làm môi trường đầu tư ở Brazil trở nên năng động hơn. Khảo sát cũng đề cập thêm rằng, ngoài vấn đề huy động nguồn vốn thì vấn đề về thông tin môi trường đầu tư và nhân công không có kỹ năng chuyên môn là hai rào cản lớn doanh nghiệp Brazil thường phải đối mặt. Ngoài ra, khảo sát “Sobeet” (2008) của Brazil tại các công ty đa quốc gia cũng chỉ ra rằng: vấn đề đánh thuế, đặc biệt là việc đánh thuế hai lần lên thu nhập là một trong những trở ngại lớn khi họ đi đầu tư. Brazil mới chỉ ký 12 thỏa thuận song phương về việc tránh đánh thuế hai lần trong 10 năm vừa qua.
Vì vậy việc kí kết các thỏa thuận song phương với các quốc gia khác trong vấn đề này trở thành mối quan hàng đầu đối với các công ty đa quốc gia 8 Trong Luận án “Nghiên cứu phát triển đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam vào lĩnh vực công nghiệp ở CHDCND Lào” (Nguyễn Văn An, 2012), tác giả nhận định rằng có hai trở ngại chính trong công tác đầu tư của Việt Nam vào CHDCND Lào là: Thứ nhất, vốn đầu tư thực hiện thấp, dự án triển khai chậm. Số liệu thông kê cho thấy lượng vốn đầu tư thực hiện của các danh nghiệp OFDI Việt Nam vào Lào chỉ mới đạt 25% tổng số vốn đăng ký. Trong khi đó, hầu hết các dự án đầu tư là dự án quy mô nhỏ, có tổng thời gian đầu tư chỉ 2 đến 3 năm (ngoài 2 dự án thủy điện). Một số dự án có tổng mức đầu tư thấp vẫn chưa có vốn thực hiện.
Thứ hai, thiếu thông tin để các doanh nghiệp nghiên cứu dự án, quyết định đầu tư. Các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào Lào đã không tiếp cận được các nội dung xúc tiến đầu tư của Nhà nước Lào và Việt Nam. Ngoài ra, thông tin chưa được phổ biến đúng đối tượng; thông tin phục vụ OFDI ở Việt Nam vẫn chung chung, thiếu cụ thể. Ngoài ra, luận án còn đề cập nguyên nhân hạn chế của việc đầu tư Việt Nam – Lào đó là: - Từ phía doanh nghiệp Việt Nam: doanh nghiệp còn chưa xây dựng tốt chiến lược đầu tư cấp doanh nghiệp; vốn đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế; năng lực cán bộ quản trị dự án của Việt Nam ở Lào chưa tốt, chưa vận dụng các phương pháp quản lý chi phí, thời gian đầu tư hiện đại vảo quản lý dự án; doanh nghiệp Việt Nam thiếu năng lực về lao động, công nghệ, quản lý dự án và vốn nên khó phát triển OFDI ở Lào.
- Từ phía nhà nước Việt Nam: thủ tục hành chính chưa nhất quán, chồng chéo; quy định chuyển tiền, vốn OFDI chưa phù hợp với đặc thù Lào; chưa có cơ quan quản lý chuyên trách OFDI vào Lào; chưa có cơ chế hỗ trợ vốn đầu tư, lãi suất đầu tư của Nhà nước Việt Nam cho các dự án OFDI của Việt Nam ở Lào. - Từ phía Nhà nước Lào: Hoạt động quảng bá cơ hội đầu tư còn rời rạc, mang tính sự vụ chưa thành hoạt động thường xuyên; cơ sở hạ tầng phục vụ đầu tư còn yếu; hệ thống cơ sở vật chất, nhân sự phục vụ đào tạo nghề, đào tạo kỹ năng quản lý còn thiếu. Trong Luận văn nghiên cứu về “Thực trạng đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Ấn Độ và bài học cho Việt Nam” có đề cập đến trường hợp của Wal-Mart – 9 công ty của Mỹ nổi tiếng là tập đoàn bán lẻ lớn nhất thế giới. Một trong những thất bại điển hình của Wal-mart là khi tập đoàn tiến hành thâm nhập vào thị trường Đức.