Chương 1. Những vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài và pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam Chương 2. Thực trạng pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Bình Dương Chương 3. Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bình Dương.
CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM 1. Một số vấn đề lý luận về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 14 1. Khái niệm đầu tư nước ngoài và đầu tư trực tiếp nước ngoài Từ góc độ kinh tế học, hiểu theo nghĩa rộng, “đầu tư” là thuật ngữ chỉ “sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt kết quả đó” [105, tr. Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm “những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó” [105, tr.
Theo Từ điển kinh tế học hiện đại: “Đầu tư là thuật ngữ được dùng phổ biến nhất để mô tả các khoản chi tiêu (trong một thời kỳ nhất định) để làm tăng hay duy trì tài sản thực”. Tóm lại, có thể định nghĩa đầu tư chính xác và bao hàm được tất cả yếu tố trên như sau: Đầu tư là những khoản chi tiêu dành cho các dự án sản xuất hàng hóa, những khoản chi tiêu này không dự định dùng cho tiêu dùng trung gian. Các dự án đầu tư có thể có dạng bổ sung vào tài sản vật chất và vốn nhân lực (tài sản con người) cũng như hàng hóa tồn kho.1 Theo quan điểm của PGS. Nguyễn Bạch Nguyệt thì “Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được các mục tiêu nhất định trong tương lai”.2 Những khái niệm trên đây là những cách tiếp cận chung nhất theo góc độ lý thuyết về đầu tư, đã chỉ ra được bản chất, mục đích của hoạt động đầu tư.
Đó là, nhà đầu tư phải bỏ ra những nguồn lực đang có để tiến hành các hoạt động đầu tư. Những hoạt động này sẽ đem lại kết quả lớn hơn trong tương lai không chỉ cho nhà đầu tư mà còn cho cả xã hội. Hay nói khác đi, khi tiến hành các hoạt động “đầu tư”, nhà đầu tư luôn luôn mong muốn đem lại lợi nhuận, trước hết là cho bản thân mình. Pearce (2001), Từ điển kinh tế học hiện đại, NXB Chính trị quốc gia “các khái niệm cơ bản” 2 PGS.
Nguyễn Bạch Nguyệt, Giáo trình Lập dự án đầu tư, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội 15 Xét theo phạm vi quốc gia, hoạt động đầu tư có thể diễn ra trong phạm vi một quốc gia (đầu tư trong nước) và có thể diễn ra trên phạm vi quốc tế (đầu tư nước ngoài). Trong đời sống kinh tế thế giới, đầu tư nước ngoài là một hiện tượng bình thường. Các lý thuyết về đầu tư nước ngoài đã chứng minh cơ sở khoa học của việc xuất hiện hiện tượng đầu tư nước ngoài phần lớn là do yếu tố tỷ lệ lợi nhuận khác nhau giữa quốc gia đi đầu tư và quốc gia nhận đầu tư. Quá trình đầu tư ra nước ngoài được thực hiện bởi 2 hình thức là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
Trên cơ sở lý thuyết này, Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển – OECD – đã đưa ra giải thích khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong tài liệu “Định nghĩa chuẩn của OECD về FDI”. Theo quan niệm của tổ chức này thì “FDI phản ánh mục đích thu được lợi nhuận lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) tại một thực thể thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp)”. Trong báo cáo về cán cân thanh toán hàng năm, Quỹ tiền tệ quốc tế (IFM) đã đưa ra khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư- hosting country), không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư - source country) với mục đích quản lý một cách có hiệu quả doanh nghiệp”3 Dưới góc độ pháp lý, khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được đề cập trong một số văn bản pháp luật của Việt Nam, cụ thể theo khái niệm của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính Phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp Liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo 3 Nguyễn Văn Tuấn (2005), Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế ở Việt Nam, Nxb.28 16 quy định của Luật này”. Như vậy, thời điểm này khái niệm đầu tư nước ngoài vào Việt Nam còn khá hạn hẹp và dè dặt.
Tiếp đó, luật đầu tư 2014 đã điều chỉnh thống nhất đầu tư trong nước với đầu tư nhà nước trong Luật đầu tư 2005, theo đó pháp luật không còn quy định như thế nào là Đầu tư trực tiếp nước ngoài. Luật đầu tư 2014 tại Khoản 5 Điều 3 quy định chung về đầu tư kinh doanh, cụ thể: “Đầu tư kinh danh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần góp vốn của các tổ chức kinh tế, đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện đầu tư”. Luật đầu tư năm 2020 kế thừa quy định của luật đầu tư 2014 tiếp tục không có khái niệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài mà chỉ có khái niệm về Nhà đầu tư nước ngoài, cụ thể Khoản 19 Điều 3 quy định: “Nhà đầu tư nước ngoài là các cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”. Từ những phân tích trên về Đầu tư trực tiếp nước ngoài, có thể hiểu khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự bỏ vốn dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại nhằm mục tiêu lợi nhuận và cá nhân hay công ty nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư được quyền quản lý hoạt động kinh doanh của mình tại nước mà họ thực hiện hoạt động đầu tư” 1.
Đặc điểm của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài Từ khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài, có thể nhận diện hoạt động đầu tư nước ngoài có những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, về chủ thể thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài là cá nhân, tổ chức nước ngoài. Đặc điểm về chủ thể có tính đặc trưng để phân biệt đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư trong nước. Cá nhân nước ngoài là cá nhân không có quốc tịch Việt Nam. Tổ chức nước ngoài là chủ thể được thành lập theo quy định của pháp luật nước nơi tổ chức được thành lập không phải là 17 Việt Nam.
Thứ hai, về thời hạn đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư dài hạn. Vốn đầu tư vào nước nhận đầu tư là nguồn vốn dài hạn, có tính ổn định. Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài có tính dài hạn xuất phát từ việc thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại của nhà đầu tư nước ngoài tại quốc gia tiếp nhận nguồn vốn đầu tư. Hoạt động đầu tư là hoạt động có chu trình kinh doanh từ đầu tư sản xuất, đầu tư kinh doanh đến thu lợi nhuận, mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận lâu dài nên hoạt động đầu tư có tính dài hạn, đặc biệt là dòng vốn từ nước ngoài nên quá trình đầu tư cũng được thực hiện trong thời gian lâu dài.
Vì vậy, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là vốn có tính dài hạn. Thứ ba, mục đích đầu tư trực tiếp nước ngoài là nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Đầu tư nước ngoài là một hình thức kinh doanh của tư nhân, họ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về quyết định và hoạt động của của mình. Vì vậy, trong đầu tư trực tiếp nước ngoài, tìm kiếm lợi nhuận là ưu tiên hàng đầu của các nhà đầu tư, do đó, việc tối đa hoá lợi nhuận có thể gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới quốc gia tiếp nhận nguồn vốn đầu tư.
Thứ tư, trong đầu tư trực tiếp nước ngoài, chủ đầu tư có quyền kiểm soát doanh nghiệp trực tiếp nhận vốn đầu tư của mình. Quyền kiểm soát doanh nghiệp là quyền chi phối các chính sách, hoạt động liên quan đến sự bắt đầu và kết thúc của doanh nghiệp, đồng thời phát triển của công ty thông qua các chiến lược hoạt động, kế hoạch, quyết định phân chia lợi nhuận, quyết định phần vốn góp. Quyền kiểm soát doanh nghiệp bắt nguồn từ quyền sở hữu đối với vốn mà nhà đầu tư bỏ ra và từ mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Thứ năm, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài phải được sự chấp thuận của nước nhận đầu tư.
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài không gây ra những rủi ro về tài chính cho nước nhận đầu tư nên cũng không ảnh hưởng đến hoạt động chính trị của nước đó. Tuy nhiên, mọi hoạt động kinh tế đều nằm dưới sự giám sát và điều tiết của Nhà nước. Quốc gia nhận vốn đầu tư từ nước ngoài cần đưa ra các cơ chế giám sát, xem xét việc cấp phép đầu tư vào các 18 ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh nhất định nhằm cân bằng nền kinh tế, cân đối cơ cấu kinh tế theo phương hướng đã đề ra, tránh đặt mục tiêu lợi nhuận lên cao nhất mà quên mất những phương diện khác của nền kinh tế.