Tổng quan luận án
Công trình khoa học "Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam và vấn đề áp dụng tố tụng tranh tụng" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thủy thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TSKH Đào Trí Úc, chuyên ngành Luật hình sự (mã số 62 38 40 01) tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, bảo vệ năm 2014.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Mô hình tố tụng hình sự (TTHS) là đối tượng nghiên cứu trọng tâm trong khoa học tư pháp hình sự thế giới nhằm hoàn thiện hệ thống tư pháp của các quốc gia. Tại Việt Nam, nhận thức và lý luận về mô hình TTHS chưa được xem xét một cách toàn diện và đầy đủ; các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở việc tiếp cận một vài khía cạnh đơn lẻ hoặc từng giai đoạn cụ thể mà chưa tạo ra một cái nhìn mang tính hệ thống.
Về thực tiễn pháp lý, sau khi Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 thể chế hóa Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị, chất lượng điều tra, truy tố, xét xử đã có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, các quy định của BLTTHS năm 2003 vẫn bộc lộ sự lẫn lộn về chức năng, thẩm quyền giữa các cơ quan tiến hành tố tụng:
- Tòa án nhân dân (TAND) giữ chức năng xét xử nhưng lại gánh vác trách nhiệm chứng minh tội phạm (Điều 10 BLTTHS năm 2003).
- Tòa án có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự tại phiên tòa (Điều 104 BLTTHS năm 2003).
- Tòa án có quyền tiếp tục xét xử vụ án ngay cả khi Viện kiểm sát (VKS) rút toàn bộ quyết định truy tố (Điều 221 BLTTHS năm 2003).
Bên cạnh đó, quyền thu thập chứng cứ duy nhất thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, người bào chữa chưa được bảo đảm đầy đủ các điều kiện thực hiện chức năng bào chữa; yếu tố tranh tụng mới chủ yếu xuất hiện ở thủ tục tranh luận tại phiên tòa mà chưa xuyên suốt quá trình tố tụng. Bối cảnh Nghị quyết số 48-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị và đặc biệt là Hiến pháp năm 2013 (lần đầu tiên hiến định nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm, khẳng định nguyên tắc suy đoán vô tội và quyền được xét xử công bằng) đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu có hệ thống việc đổi mới mô hình TTHS Việt Nam theo hướng tiếp thu các yếu tố hợp lý của tố tụng tranh tụng.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về mô hình TTHS, đánh giá khách quan thực trạng mô hình TTHS Việt Nam trong quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng; từ đó đề xuất định hướng và giải pháp tiếp thu các hạt nhân hợp lý của mô hình TTHS tranh tụng vào quá trình hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận cơ bản về mô hình TTHS, xác định các tiêu chí khoa học phân loại mô hình TTHS; làm rõ lịch sử hình thành, phát triển, đặc điểm, ưu thế, hạn chế của các mô hình TTHS điển hình trên thế giới và xu thế phát triển chung.
- Xác định và phân tích những đặc điểm chủ yếu của mô hình TTHS Việt Nam qua các quy định pháp luật từ năm 1945 đến nay; đánh giá thực tiễn áp dụng, chỉ rõ những kết quả đạt được, hạn chế, bất cập và nguyên nhân.
- Làm rõ các yêu cầu cải cách tư pháp đối với việc hoàn thiện mô hình TTHS; phân tích tiền đề và thách thức khi áp dụng tố tụng tranh tụng ở Việt Nam; đề xuất các nội dung tiếp thu hạt nhân hợp lý của tố tụng tranh tụng và các biện pháp bảo đảm thể chế nhằm áp dụng thành công mô hình cải cách.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mô hình TTHS Việt Nam và việc áp dụng các yếu tố của tố tụng tranh tụng trong tiến trình cải cách tư pháp.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các vấn đề thuộc cấu trúc của một mô hình TTHS, bao gồm: (1) Tính chất của TTHS; (2) Mục tiêu và cách thức đạt đến mục tiêu của TTHS; (3) Các chức năng tố tụng cơ bản và vị trí pháp lý của các chủ thể TTHS; (4) Chứng cứ và sự tồn tại của hồ sơ vụ án hình sự. Luận án không đi sâu vào toàn bộ các quy định về quy trình, thủ tục TTHS cụ thể mà chỉ xem xét chúng trong mối liên hệ với các yếu tố cấu thành mô hình.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu các quy định pháp luật TTHS Việt Nam từ năm 1945 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2014).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế, phân chia thành các nhóm chủ đề cụ thể:
Các công trình nghiên cứu trong nước
-
Nhóm nghiên cứu về đổi mới tổ chức và hoạt động của các thiết chế tư pháp, bổ trợ tư pháp:
- Đổi mới Tòa án: PGS.TS Trần Văn Độ (2007) với "Về các căn cứ đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án các cấp"; TS. Tô Văn Hòa (2006) với công trình nghiên cứu so sánh về tính độc lập của Tòa án tại Đức, Mỹ, Pháp, Việt Nam.
- Vị trí của Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra (CQĐT): GS.TSKH Đào Trí Úc (2011) với "Viện kiểm sát ở Việt Nam"; PGS.TS Trần Đình Nhã (1995) và GS.TS Đỗ Ngọc Quang (2004) bàn về đổi mới tổ chức CQĐT; PGS.TS Nguyễn Tất Viễn (2004) về thi hành án hình sự và giám định tư pháp.
- Chế định luật sư và bổ trợ tư pháp: TS. Phan Trung Hoài (2009) với "Hành nghề luật sư trong vụ án hình sự"; TS. Nguyễn Văn Tuân (2000) về đạo đức nghề nghiệp luật sư.
-
Nhóm nghiên cứu về đổi mới TTHS, mô hình TTHS, nguyên tắc, chức năng, chứng cứ và tranh tụng:
- Về mô hình TTHS: Đề tài cấp Nhà nước của TS. Lê Hữu Thể (2009-2010); bài viết của PGS.TS Nguyễn Thái Phúc (2007) và GS.TSKH Đào Trí Úc (2011) về phương hướng đổi mới mô hình TTHS Việt Nam.
- Về tố tụng tranh tụng và nguyên tắc tranh tụng: GS.TSKH Lê Văn Cảm và PGS. Nguyễn Ngọc Chí (đồng chủ biên, 2004) trong cuốn "Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền"; PGS.TS Nguyễn Mạnh Kháng (2003); PGS.TS Trần Văn Độ (2004); ThS. Võ Thị Kim Oanh (2006); Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Hiển (2010) về nguyên tắc tranh tụng trong TTHS Việt Nam.
- Về các nguyên tắc và chức năng cơ bản của TTHS: PGS. Hoàng Thị Sơn và TS. Bùi Kiên Điện (1999); PGS.TS Trịnh Quốc Toản (2004) về nguyên tắc suy đoán vô tội; PGS.TS Nguyễn Thái Phúc (2005) và TS. Phan Trung Hoài (1998) về mối quan hệ giữa ba chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử; Luận án tiến sĩ của Lê Tiến Châu (2008) về chức năng xét xử.
- Về bảo đảm quyền con người trong TTHS: Hai Đề tài nghiên cứu nhóm B của Đại học Quốc gia Hà Nội thuộc Dự án Đan Mạch (2010-2011) do GS.TSKH Lê Văn Cảm và PGS. Nguyễn Ngọc Chí làm Chủ nhiệm; bài viết của PGS. Nguyễn Hòa Bình (2014) về sửa đổi BLTTHS đáp ứng yêu cầu của Hiến pháp năm 2013.
- Về nghiên cứu so sánh: Chuyên đề của Viện Khoa học kiểm sát (2006, 2007, 2008), Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (1999); Luận án tiến sĩ của Lương Thị Mỹ Quỳnh (2011) so sánh quyền có người bào chữa giữa luật TTHS Việt Nam, Đức và Mỹ.
Các công trình nghiên cứu ngoài nước
- Sách chuyên khảo về tư pháp hình sự so sánh: Philip Reichel (2005) với "Tư pháp hình sự so sánh"; Richard Vogler (2005) với "Tố tụng hình sự so sánh" và "Cái nhìn về tư pháp hình sự trên toàn thế giới"; E.A. Tomlinson (1983) so sánh giữa Hoa Kỳ, Tây Đức, Anh và Pháp; Phil Fennell et al. (1995) về tư pháp hình sự châu Âu.
- Nghiên cứu về chuyển đổi mô hình TTHS: Các tài liệu phân tích quá trình cải cách tại Chi Lê, Italia, Pháp (xu hướng bãi bỏ hoặc thu hẹp chế định Thẩm phán điều tra), Đức (mở rộng quyền của luật sư tiếp cận hồ sơ từ các đợt cải cách năm 1964, 1974, 1986-1997), Anh và Mỹ.
- Các nghiên cứu của học giả Xô Viết và Liên bang Nga: M. Chen-xốp (1978), M. Xtrôgôvich (1979), V. Xavitxki (1971); Báo cáo "Quan điểm cải cách tư pháp hình sự" của tập thể tác giả đứng đầu là GS. V. Savitski và B. Petrukhin dẫn đến việc ban hành BLTTHS Liên bang Nga năm 2001; các bài viết của E. Misukina (2008), N. Stoiko (2009), V. Smirnov (2001).
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Các công trình trong nước và quốc tế trước đây chưa coi mô hình TTHS là mục tiêu nghiên cứu xuyên suốt mang tính hệ thống; việc đánh giá TTHS Việt Nam chủ yếu tiếp cận theo từng chế định cụ thể. Nhiều công trình được công bố trước thời điểm tổng kết Nghị quyết số 49-NQ/TW và trước khi ban hành Hiến pháp năm 2013 nên chưa giải quyết được yêu cầu hoàn thiện mô hình TTHS theo tinh thần hiến định mới. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách định vị mô hình TTHS Việt Nam trên cơ sở lý luận khoa học và đề xuất các giải pháp tiếp thu mô hình tranh tụng một cách phù hợp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên các khái niệm và phạm trù khoa học pháp lý hình sự:
- Khái niệm mô hình TTHS: Là cách thức tổ chức các hoạt động TTHS của một quốc gia để thực hiện mục tiêu tìm kiếm sự thật vụ án, được xác định qua 4 yếu tố cốt lõi:
- Tính chất của TTHS.
- Mục tiêu và cách thức đạt đến mục tiêu của TTHS.
- Các chức năng cơ bản của TTHS (buộc tội, bào chữa, xét xử) và địa vị pháp lý của các chủ thể thực hiện chức năng đó.
- Chứng cứ và sự tồn tại của hồ sơ vụ án hình sự.
- Khung phân loại của Herbert Packer: Tiếp cận mô hình TTHS qua hai cấu trúc điển hình: Mô hình kiểm soát tội phạm (Crime Control Model) và Mô hình tố tụng công bằng (Due Process Model).
- Phân biệt kết quả nhận thức chân lý: Khái niệm "sự thật tuyệt đối/sự thật khách quan" trong mô hình thẩm vấn đối chiếu với "sự thật pháp lý/sự thật hình thức" trong mô hình tranh tụng.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cải cách tư pháp.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích tài liệu, văn bản quy phạm pháp luật: Phân tích các bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992, 2013), BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 và các văn bản chỉ đạo của Đảng.
- Phương pháp lịch sử: Khảo cứu quá trình hình thành và phát triển của TTHS Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2014.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các đặc trưng của mô hình TTHS thẩm vấn (Châu Âu lục địa) và mô hình TTHS tranh tụng (Ănglô - Xắcxông), kinh nghiệm cải cách của Pháp, Đức, Nga, Italia.
- Phương pháp thống kê xã hội học pháp lý: Thu thập, xử lý và phân tích số liệu thực tiễn về án truy tố, xét xử, án oan sai, án trả hồ sơ điều tra bổ sung, tình hình phát triển luật sư.
- Phương pháp phỏng vấn, khảo sát thực tiễn: Khảo sát và phỏng vấn trực tiếp cán bộ tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán) và người tham gia tố tụng (Luật sư) tại một số cơ quan tư pháp.
Nguồn dữ liệu
Số liệu thực tế sử dụng trong luận án được trích xuất từ báo cáo tổng kết thực tiễn tư pháp giai đoạn thi hành BLTTHS năm 2003 của TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ Tư pháp và Liên đoàn Luật sư Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này tập trung tổng thuật các nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về tổ chức cơ quan tư pháp, nguyên tắc TTHS, địa vị pháp lý chủ thể, quyền con người và luật học so sánh. Tác giả chỉ ra rằng xu thế cải cách tư pháp toàn cầu đang hướng tới việc tiếp thu qua lại giữa mô hình tranh tụng và mô hình thẩm vấn nhằm bảo đảm quyền con người và nâng cao uy tín công lý. Luận án xác định 3 vấn đề cần tiếp tục làm rõ: (1) Khái niệm và tiêu chí nhận diện mô hình TTHS; (2) Định vị bản chất mô hình TTHS Việt Nam hiện hành; (3) Mức độ và phương thức tiếp thu các yếu tố tranh tụng phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Chương 2: Cơ sở lý luận về mô hình tố tụng hình sự
Chương 2 làm sáng tỏ các vấn đề lý luận nền tảng, phân tích chi tiết 4 yếu tố cấu thành mô hình TTHS:
- Tính chất TTHS: Coi TTHS là quá trình giải quyết tranh chấp pháp lý giữa các bên (tranh tụng) hoặc coi là trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ trật tự công cộng bị xâm hại (thẩm vấn).
- Mục tiêu và cách thức: Mục tiêu chung là tìm sự thật vụ án, nhưng cách thức trong mô hình tranh tụng hướng tới "sự thật pháp lý" thông qua thủ tục công bằng, còn mô hình thẩm vấn hướng tới "sự thật khách quan/tuyệt đối" bằng việc sử dụng bộ máy điều tra chuyên nghiệp của Nhà nước.
- Các chức năng cơ bản: Khẳng định 3 chức năng khách quan gồm buộc tội, bào chữa và xét xử. Mô hình tranh tụng phân tách độc lập 3 chức năng cho 3 nhóm chủ thể riêng biệt; mô hình thẩm vấn cho phép cơ quan nhà nước thực hiện đồng thời nhiều chức năng.
- Chứng cứ và hồ sơ: Mô hình tranh tụng đề cao chứng cứ bằng lời nói, thẩm tra chéo trực tiếp tại tòa, không tồn tại hồ sơ vụ án thống nhất chuyển giao; mô hình thẩm vấn phụ thuộc vào chứng cứ viết được tập hợp trong hồ sơ vụ án do cơ quan tố tụng lập ra.
| Tiêu chí phân loại |
Mô hình kiểm soát tội phạm |
Mô hình tố tụng công bằng |
| Quan niệm về tự do |
Quyền tự do công dân được bảo đảm tốt nhất thông qua việc hạn chế tối đa tội phạm. |
Quyền tự do công dân đòi hỏi sự can thiệp của chính quyền phải tuân thủ nghiêm ngặt pháp luật. |
| Căn cứ ra quyết định |
Ra quyết định dựa trên các tình tiết phạm tội thực tế. |
Ra quyết định dựa trên nguyên lý phạm tội về mặt luật pháp. |
| Quy tắc tuân thủ |
Nhấn mạnh việc hạn chế tội phạm. |
Nhấn mạnh mức độ can thiệp có giới hạn của chính quyền vào đời sống công dân. |
| Tính chất hoạt động |
Nhấn mạnh tính hiệu quả, nhanh chóng, dứt khoát của hoạt động tố tụng. |
Nhấn mạnh tính hợp pháp, chính thức và quy trình tư pháp. |
| Yêu cầu kết quả |
Yêu cầu tỷ lệ buộc tội cao, loại bỏ nhanh người không phạm tội ngay từ đầu. |
Tìm kiếm chứng cứ thông qua tranh tụng, chấp nhận hạn chế hiệu suất để tránh kết án sai. |
Bảng 2.1: Các tiêu chí phân loại mô hình TTHS theo Herbert Packer (trình bày theo nội dung luận án)
Đồng thời, chương này phân tích các ưu thế và hạn chế của mô hình tranh tụng (ưu thế: bảo đảm dân chủ, hạn chế oan sai, tôn trọng nhân quyền; hạn chế: nguy cơ bỏ lọt tội phạm, chi phí cao, kéo dài thời gian xét xử, dễ lạm dụng mặc cả nhận tội) và mô hình thẩm vấn. Tác giả đi đến kết luận lịch sử: mô hình TTHS Việt Nam từ năm 1945 đến nay mang bản chất của mô hình TTHS pha trộn thiên về thẩm vấn.
Chương 3: Cơ sở pháp lý và thực tiễn của mô hình tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành
Chương 3 phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2003 tại Việt Nam:
- Về mặt pháp lý: Pháp luật Việt Nam chưa phân định rành mạch các chức năng tố tụng. Tòa án đảm nhiệm cả trách nhiệm chứng minh tội phạm (Điều 10), quyền khởi tố vụ án tại phiên tòa (Điều 104), xét xử không phụ thuộc vào việc VKS rút truy tố (Điều 221). Quyền thu thập chứng cứ thuộc về cơ quan nhà nước, quyền của người bào chữa bị hạn chế, phụ thuộc vào cơ chế cấp giấy chứng nhận bào chữa.
Danh mục các bảng thống kê thực tiễn trong Chương 3:
- Bảng 3.1: Chất lượng xét xử của Tòa án (trang 72)
- Bảng 3.2: Sự phát triển về số lượng của đội ngũ luật sư (trang 92)
- Bảng 3.3: Số bị can bị cáo bị oan (trang 96)
- Bảng 3.4: Số vụ án Tòa án trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung (trang 99)
Danh mục các biểu đồ phân tích thực tiễn trong Chương 3:
- Biểu đồ 3.1: Số lượng các vụ án truy tố ra tòa (trang 86)
- Biểu đồ 3.2: Số quyết định khởi tố bị can bị VKS hủy bỏ (trang 87)
- Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ bản án, quyết định của Tòa án bị hủy bỏ (trang 89)
- Biểu đồ 3.4: Số bị can bị đình chỉ điều tra vì không phạm tội (trang 90)
- Biểu đồ 3.5: Số bị cáo bị tòa tuyên không phạm tội (trang 90)
- Về thực tiễn áp dụng: Thủ tục xét hỏi tại phiên tòa vẫn chiếm phần lớn thời gian so với tranh luận; Hội đồng xét xử có xu hướng dựa vào hồ sơ điều tra có sẵn; VKS chưa thực hiện đầy đủ cơ chế gắn công tố với hoạt động điều tra; xảy ra tình trạng "luật sư tố khổ" do gặp rào cản khi tiếp cận người bị tạm giữ, bị can và hồ sơ vụ án; các vụ án oan sai và tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần vẫn tiếp diễn.
- Nguyên nhân của bất cập: Do ảnh hưởng của nhận thức lý luận truyền thống thiên về trừng trị tội phạm; sự thiếu hụt các quy định bảo đảm sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa; cơ sở vật chất, chế độ đãi ngộ và năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ tư pháp, luật sư chưa đồng đều.
Chương 4: Định hướng và nội dung tiếp thu tố tụng tranh tụng trong quá trình đổi mới mô hình tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 4 xác định các định hướng và nội dung đổi mới mô hình TTHS Việt Nam:
- Tiền đề và thách thức: Đổi mới dựa trên các quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết 48-NQ/TW, Nghị quyết 49-NQ/TW và nguyên tắc hiến định của Hiến pháp năm 2013; đối mặt với thách thức từ tình hình tội phạm gia tăng và yêu cầu không làm oan, không bỏ lọt tội phạm.
- Yêu cầu cơ bản của cải cách tư pháp: Xác định đổi mới xét xử là trọng tâm, nâng cao chất lượng tranh tụng là khâu đột phá; tăng cường trách nhiệm công tố trong điều tra, gắn công tố với điều tra.
- Nội dung tiếp thu tố tụng tranh tụng:
- Phân định rõ 3 chức năng cơ bản: Tước bỏ trách nhiệm chứng minh tội phạm và thẩm quyền khởi tố vụ án của Tòa án; Tòa án chỉ xét xử trong phạm vi truy tố của VKS và giữ vai trò trọng tài vô tư.
- Bảo đảm quyền bình đẳng thu thập và xuất trình chứng cứ: Mở rộng quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa; quy định rõ giá trị của các chứng cứ được thẩm tra công khai tại tòa; xóa bỏ rào cản hành chính trong việc cấp phép cho luật sư tham gia tố tụng.
- Thể chế hóa nguyên tắc suy đoán vô tộc và quyền im lặng: Bảo đảm bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa ngay từ khi bị bắt.
- Đổi mới thủ tục phiên tòa: Chuyển trọng tâm từ xét hỏi sang tranh luận, đối đáp thực chất; Kiểm sát viên phải tranh luận đến cùng với từng ý kiến của người bào chữa; bản án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
- Các biện pháp bảo đảm: Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật (sửa đổi toàn diện BLTTHS năm 2003); kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan điều tra, VKSND, TAND; phát triển số lượng và chất lượng đội ngũ luật sư; nâng cao cơ sở vật chất và văn hóa pháp lý trong xã hội.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn như sau:
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về mô hình TTHS, đưa ra khái niệm khoa học về mô hình TTHS và xác lập hệ thống 4 tiêu chí cốt lõi để phân loại mô hình TTHS.
- Phân tích làm rõ bản chất, ưu điểm, hạn chế của các mô hình TTHS trên thế giới (tranh tụng, thẩm vấn, pha trộn) và xu thế hội tụ, giao thoa giữa các hệ thống tố tụng hiện đại.
- Nhận định mô hình TTHS Việt Nam trong lịch sử hiện đại là mô hình TTHS pha trộn thiên về thẩm vấn, chỉ rõ các khiếm khuyết trong việc tổ chức vận hành 3 chức năng cơ bản của TTHS.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đánh giá toàn diện thực trạng áp dụng pháp luật TTHS tại Việt Nam dựa trên các nguồn số liệu thực chứng về xét xử, án hủy, án oan sai, trả hồ sơ điều tra bổ sung và sự phát triển của đội ngũ luật sư.
- Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp cụ thể nhằm tiếp thu những hạt nhân hợp lý của mô hình tranh tụng vào quá trình sửa đổi BLTTHS năm 2003, bảo đảm tính khả thi và phù hợp với mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Theo phạm vi nghiên cứu được xác định, luận án tập trung làm rõ các yếu tố cấu trúc của mô hình TTHS (tính chất, mục tiêu, chức năng, chủ thể, chứng cứ, hồ sơ vụ án) mà không nghiên cứu chi tiết toàn bộ các quy trình, thủ tục hành chính tư pháp trong từng giai đoạn tố tụng cụ thể. Các khảo sát thực tiễn mới thực hiện tại một số cơ quan tiến hành tố tụng và đối tượng tham gia tố tụng điển hình.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định kỹ thuật lập pháp đối với từng giai đoạn tố tụng cụ thể phục vụ việc sửa đổi BLTTHS.
- Nghiên cứu cơ chế kiểm soát tư pháp của Tòa án đối với các biện pháp ngăn chặn và hoạt động thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra trong giai đoạn tiền xét xử.
- Nghiên cứu mô hình tổ chức Tòa án sơ thẩm khu vực và sự tương thích của Viện kiểm sát trong hệ thống tư pháp cải cách.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp Trung ương: Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương, Quốc hội, TAND tối cao, VKSND tối cao trong việc sửa đổi toàn diện BLTTHS năm 2003 và sửa đổi các luật tổ chức tư pháp.
- Cán bộ tiến hành tố tụng và Luật sư: Giúp Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên và Luật sư nhận thức sâu sắc về vai trò, vị trí tố tụng, nâng cao kỹ năng điều tra, tranh tụng, bảo đảm xét xử công bằng, dân chủ.
- Cơ sở nghiên cứu và đào tạo luật học: Là tài liệu chuyên khảo phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu các môn học Luật Tố tụng hình sự, Tư pháp hình sự so sánh và Khoa học điều tra tội phạm.
Câu hỏi thường gặp
1. Bốn yếu tố cốt lõi để phân loại và nhận diện mô hình tố tụng hình sự theo luận án là gì?
Luận án xác định 4 yếu tố cấu thành khung phân tích mô hình TTHS gồm: (1) Tính chất của TTHS; (2) Mục tiêu của TTHS và cách thức đạt đến mục tiêu; (3) Các chức năng cơ bản của TTHS (buộc tội, bào chữa, xét xử) và địa vị pháp lý của các chủ thể trong việc thực hiện các chức năng đó; (4) Chứng cứ và sự tồn tại của hồ sơ vụ án hình sự.
2. Luận án xếp mô hình tố tụng hình sự Việt Nam thuộc loại mô hình nào?
Luận án nhận định mô hình TTHS Việt Nam trong lịch sử hiện đại từ năm 1945 đến nay thuộc mô hình TTHS pha trộn nhưng thiên về thẩm vấn, thể hiện ở sự chủ động tối đa của các cơ quan tiến hành tố tụng và sự phụ thuộc vào chứng cứ bằng văn bản trong hồ sơ vụ án.
3. Những quy định nào trong BLTTHS năm 2003 bị luận án chỉ ra là thể hiện sự lẫn lộn chức năng của Tòa án?
Luận án chỉ ra ba quy định điển hình gồm: Điều 10 quy định Tòa án có trách nhiệm chứng minh tội phạm; Điều 104 quy định Tòa án có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự tại phiên tòa; Điều 221 quy định Tòa án có quyền tiếp tục xét xử vụ án ngay cả khi Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố.
4. Herbert Packer phân loại mô hình tố tụng hình sự dựa trên những tiêu chí nào?
Herbert Packer phân loại mô hình TTHS thành hai dạng: Mô hình kiểm soát tội phạm và Mô hình tố tụng công bằng, dựa trên 5 tiêu chí: quan niệm về quyền tự do của công dân, căn cứ ra quyết định (tình tiết thực tế đối chiếu nguyên lý pháp luật), quy tắc tuân thủ, tính chất hoạt động (hiệu quả đối chiếu tính hợp pháp) và yêu cầu kết quả (tỷ lệ buộc tội cao đối chiếu tìm kiếm chứng cứ qua tranh tụng).
5. Những yếu tố hạt nhân nào của tố tụng tranh tụng được đề xuất tiếp thu vào mô hình TTHS Việt Nam?
Các yếu tố hạt nhân được đề xuất tiếp thu bao gồm: phân định rạch ròi 3 chức năng tố tụng (xóa bỏ trách nhiệm chứng minh tội phạm và quyền khởi tố của Tòa án); bảo đảm quyền thu thập và xuất trình chứng cứ bình đẳng cho bên bào chữa; chuyển trọng tâm phiên tòa sang tranh luận, đối đáp trực tiếp; lấy kết quả tranh tụng tại phiên tòa làm căn cứ duy nhất để ra phán quyết.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thủy là công trình khoa học nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về mô hình TTHS và vấn đề tiếp thu tố tụng tranh tụng tại Việt Nam. Công trình đã làm rõ cơ sở lý luận, chỉ ra bản chất của mô hình TTHS Việt Nam hiện hành là mô hình pha trộn thiên về thẩm vấn, đồng thời phân tích sâu sắc những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng BLTTHS năm 2003. Trên cơ sở đối chiếu với các yêu cầu cải cách tư pháp và Hiến pháp năm 2013, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp và thể chế nhằm tiếp thu các hạt nhân hợp lý của tố tụng tranh tụng, góp phần hoàn thiện nền tư pháp hình sự dân chủ, bảo vệ công lý và quyền con người.