MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết. Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất đóng vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế xã hội. Năm 2018, kinh tế Việt Nam có bước đột phá, mức tăng trưởng GDP ngành nông nghiệp đã đạt tới con số 3,76%. Đây là mức tăng trưởng cao nhất trong 7 năm qua và đây cũng là năm đầu tiên ghi nhận giá trị xuất khẩu nông nghiệp đạt tới 40.
Nó là tiền đề quan trọng để ngành nông nghiệp trong những năm tới có những bứt phá hơn trước cơ hội lớn đến từ cuộc cách mạng 4. Bên cạnh việc đẩy mạnh tái cơ cấu trên tất cả các lĩnh vực nông, lâm, thủy sản… thì một trong những điều kiện quan trọng để ngành nông nghiệp Việt Nam tạo được sự bứt phá, chúng ta cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc tiếp cận và áp dụng khoa học công nghệ cao vào sản xuất. Trong những năm qua, tại Việt Nam đã có hàng loạt các khu nông nghiệp công nghệ cao được hình thành và đi vào hoạt động tại nhiều tỉnh như: Lâm Đồng, Hậu Giang, Phú Yên, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Phòng,. Các khu nông nghiệp này được đầu tư bài bản với quy trình sản xuất hoàn toàn khép kín, ứng dụng máy móc hiện đại vào sản xuất, thay thế sức lao động của con người và đem lại năng suất cao.
Khó khăn lớn nhất là vốn sản xuất hỗ trợ phát triển nông nghiệp công nghệ cao cũng đang được Nhà nước quan tâm và từng bước tháo gỡ. Đất nước Israel là một trong những quốc gia hàng đầu thế giới về nghiên cứu và ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp đáng học hỏi. Isarel là một quốc gia nằm ở vùng Trung Đông có diện tích 22.072 km2, với dân số 8. Hơn một nửa diện tích đất là sa mạc, chỉ có khoảng 24,2% diện tích Israel là đất có thể sản xuất nông nghiệp.
Điều kiện khí hậu khô nóng quanh năm và thiếu nước do lượng mưa ở đây rất thấp chỉ dưới 200mm/năm không thích hợp cho h 2 nông nghiệp. Bất chấp điều kiện địa lý không thích hợp cho nông nghiệp, ngành nông nghiệp Israel vẫn phát triển ở trình độ cao do sự nghiên cứu áp dụng các công nghệ hiện đại và tiến tiến vào sản xuất nông nghiệp. Israel là một nước xuất khẩu lớn của thế giới về nông sản và đứng hàng đầu về công nghệ trong nông nghiệp. Hiện nay, nông nghiệp Israel chỉ chiếm 2,5% tổng GDP và 3,6% giá trị xuất khẩu.
Lao động trong nông nghiệp chỉ chiếm 3,7% tổng lực lượng lao động trong nước, nhưng Israel không chỉ tự túc “an ninh lương thực”, cung cấp được 95% nhu cầu thực phẩm chất lượng cao cho mình, mà mỗi năm nông nghiệp đem về 3,5 tỷ USD từ xuất khẩu. Trong quá trình thực tập nghề nghiệp tại Israel, được tiếp cận và học hỏi thực tế một nền nông nghiệp công nghệ cao từ nước ngoài, đã giúp em củng cố thêm về chuyên môn và trưởng thành hơn về nhận thức. Tuy nhiên, một vấn đề em rất muốn làm rõ là ngoài công nghệ tiên tiến thì các yếu tố con người, cách thức tổ chức sản xuất có ảnh hưởng như thế nào đến sự thành công trong sản xuất nông nghiệp tại Israel? Xuất phát từ vấn đề quan tâm trên của bản thân và được sự nhất trí của cô giáo hướng dẫn, em đã lựa chọn thực hiện đề tài: “Tìm hiểu về mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh của nông trại trồng ớt chuông số 98, moshav Paran, Arava, Israel của ông Arale” 1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung.
Qua thực tế làm việc, học tập và trải nghiệm tại nông trại trồng ớt Số 98, Movshav Faran, Arava, Israel của ông Arale, giúp người học tăng cường hiểu biết về kỹ thuật sản xuất, có được những kinh nghiệm về tổ chức sản xuất quy mô nông trại, rèn luyện những kỹ năng chuyên môn và tăng cường ý thức kỷ luật trong lao động. Ngoài ra, người học còn đánh giá được những thành công và hạn chế của nông trại, phân tích để làm rõ những nguyên nhân ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế nông trại nơi thực tập. Nhờ đó, có thêm cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm đề xuất được các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nông trại tại Việt Nam.2 Mục tiêu cụ thể 1.1 Về chuyên môn nghiệp vụ. - Đánh giá được thực trạng hoạt động tổ chức sản xuất kinh doanh từ thực tế hoạt động của nông trại trồng ớt Số 98, Movshav Faran, Arava, Israel của ông Arale.
- Phân tích đánh giá được về thực trạng các nguồn lực cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nông trại. - Học tập được các kiến thức, kỹ năng và thái độ làm việc tại một nông trại công nghệ cao của một đất nước có nền nông nghiệp phát triển hàng đầu thế giới. - Rút ra được những bài học kinh nghiệm về tổ chức sản xuất kinh doanh từ thực tế trải nghiệm tại nông trại. - Đề xuất một được số giải pháp về mặt tổ chức sản xuất kinh doanh quy mô nông trại trong phát triển nông nghiệp tại Việt Nam những năm tới.
Về thái độ và ý thức trách nhiệm. Về thái độ - Tạo mối quan hệ thân thiện, hòa nhã với mọi người trong nông trại. - Có trách nhiệm và nghĩa vụ hoàn thành tốt mọi công việc được giao. - Chủ động trong các công việc, sẵn sàng trợ giúp, hỗ trợ mọi người trong nông trại để hoàn thành tốt các công việc chung bên cạnh đó cũng tự khẳng định được năng lực của một thực tập sinh Việt Nam.
Ý thức trách nhiệm. - Biết cách tổ chức, thực hiện các công việc tại nông trại theo kế hoạch, khoa học và chuyên nghiệp. Tuân thủ giờ giấc hoạt động của nông trại. - Có được khả năng quan sát, theo dõi những vấn đề phát sinh để cùng với ông chủ, người quản lý nông trại có biện pháp can thiệp kịp thời hạn chế thiệt hại.
h 4 - Thông qua hoạt động thực tế tại nông trại tạo cho sinh viên tác phong nhanh nhẹn, tự chịu trách nhiệm và chịu được áp lực cao trong công việc. - Học hỏi và thực hành tỉ mỉ các công việc kỹ thuật đã được giao, sinh viên nắm bắt được những kiến thức và kỹ năng cơ bản về các kỹ thuật trồng trọt nói chung và trồng ớt nói riêng tại nông trại. - Có khả năng quản lý công việc và làm việc nhóm hiệu quả.3 Phương pháp thực hiện. Phương pháp thu thập thông tin * Thu thập số liệu thứ cấp Thu thập những số liệu, thông tin liên quan trực tiếp và gián tiếp đến vấn đề nghiên cứu của đề tài đã được công bố chính thức trên các trang thông tin mạng, tài liệu học tập liên quan trong quá trình thực tập tại nông trại, thu thập số liệu qua sách báo,.
* Thu thập số liệu sơ cấp Số liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp từ nông trại của ông Arale trên địa bàn nghiên cứu thông qua phiếu điều tra các lao động Thái Lan và phỏng vấn ông chủ. Để thu thập số liệu sơ cấp, khóa luận sử dụng các phương pháp chủ yếu sau: + Phương pháp điều tra trực tiếp chủ nông trại: Điều tra những thông tin về tình hình cơ bản của nông trại như: Họ tên, tuổi, giới tính, số điện thoại, diện tích, các loại cây trồng, sản lượng,. Những thông tin về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nông trại như: Tình hình các khoản chi phí, các khoản thu cả hiện vật và giá trị. Các yếu tố sản xuất như: Vốn sản xuất, kỹ thuật, lao động, giá cả thị trường,.
+ Phương pháp tiếp cận có sự tham gia: Trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất của nông trại như: Dọn dẹp, làm đất, trồng, chăm sóc, thu hoạch, phân loại và đóng gói sản phẩm. Từ đó đánh giá được những thuận lợi, khó khăn mà nông trại gặp phải trong quá trình phòng bệnh cho cây trồng cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của nông trại. h 5 + Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát trực tiếp nông trại, cách quản lý điều hành, kỹ thuật sản xuất khi tham gia các hoạt động trồng, chăm sóc, thu hoạch cây trồng của nông trại nhằm có cái nhìn tổng quát về nông trại, đồng thời cũng là những tư liệu để kiểm tra chéo thông tin nhằm đảm bảo độ chính xác. + Phương pháp thảo luận: Cùng với chủ nông trại, người quản lý thảo luận về những vấn đề phát sinh, những điểm chưa rõ trong quá trình sản xuất của nông trại.
Ngoài ra, việc thảo luận để học hỏi, chia sẻ giữa những người lao động tại nông trại giúp gắn kết và tăng hiểu biết về nhau và về nông trại. Phương pháp xử lý và phân tích thông tin * Phương pháp xử lý thông tin: Những thông tin, số liệu thu thập được tổng hợp, đồng thời được xử lý thông qua chương trình Excel. Việc xử lý thông tin là cơ sở cho việc phân tích. * Phương pháp phân tích thông tin: Toàn bộ số liệu thu thập được tổng hợp, tính toán từ đó phân tích hiệu quả, đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của nông trại (vốn, đất đai, lao động, trình độ quản lý).
Hạch toán các khoản chi, các khoản thu của nông trại làm cơ sở cho việc đưa ra những nhận định, kết luận, bài học kinh nghiệm cho sự phát triển của kinh tế nông trại. * Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất Hệ thống chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh của nông trại như: giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị gia tăng, cụ thể là: + Giá trị sản xuất (Gross Output): là giá trị bằng tiền của sản phẩm sản xuất ra ở nông trại bao gồm phần giá trị để lại để tiêu dùng và giá trị bán ra thị trường sau một chu kỳ sản xuất thường là một năm. Được tính bằng sản lượng của từng sản phẩm nhân với đơn giá sản phẩm. Chỉ tiêu này được tính như sau: GO = ∑ Pi.Qi h 6 Trong đó: GO: giá trị sản xuất Pi: giá trị sản phẩm hàng hóa thứ i Qi: lượng sản phẩm thứ i + Chi phí trung gian (Intermediate Cost) là toàn bộ các khoản chi phí vật chất bao gồm các khoản chi nguyên vật liệu, giống, chi phí dịch vụ thuê ngoài.
Chỉ tiêu này được tính như sau: IC = ∑ Cij Trong đó: IC: là chi phí trung gian Cij: là chi phí thứ i cho sản phẩm thứ j + Giá trị gia tăng (Value Added) là giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ cho các ngành sản xuất kinh doanh.