Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ kỹ thuật: “Xây dựng mô hình tích hợp chỉ số căng thẳng nguồn nước và phương pháp đánh giá vòng đời hỗ trợ quản lý bền vững hệ thống cấp nước thành phố Đà Nẵng” do nghiên cứu sinh Mai Thị Thùy Dương thực hiện tại Bộ môn Kỹ thuật Môi trường, Khoa Môi trường, Trường Đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng; dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Trần Thị Việt Nga và PGS. Võ Ngọc Dương. Luận án thuộc chuyên ngành Kỹ thuật Môi trường, mã số chuyên ngành 9520320, bảo vệ năm 2026.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tài nguyên nước giữ vai trò thiết yếu đối với dân sinh và phát triển kinh tế - xã hội. Theo Báo cáo Nước Thế giới năm 2023 của UNESCO, nhu cầu nước toàn cầu dự kiến tăng trung bình 1%/năm, đạt mức tăng tổng cộng từ 20% đến 30% vào năm 2050; đồng thời Mục tiêu phát triển bền vững số 6 (SDG 6) của Liên Hợp Quốc đặt ra yêu cầu bảo đảm tính sẵn có và quản lý bền vững nguồn nước vào năm 2030. Tại Việt Nam, tài nguyên nước phân bố không đều theo không gian và thời gian. Các đô thị ven biển miền Trung, điển hình là thành phố Đà Nẵng, đang đối mặt với nguy cơ mất an ninh nguồn nước do biến đổi khí hậu, suy giảm dòng chảy mùa kiệt và xâm nhập mặn. Nguồn nước thô của Đà Nẵng phụ thuộc chủ yếu vào lưu vực sông Vu Gia – Thu Bồn (diện tích 10.350 km²). Vào các năm khô hạn nghiêm trọng, dòng chảy thượng nguồn có thể thiếu hụt 20–80% so với trung bình nhiều năm, khiến độ mặn tại cửa thu nước Nhà máy nước (NMN) Cầu Đỏ tăng cao kỷ lục (đạt đỉnh 13.568 mg/L vào ngày 28/7/2015).

Theo Quy trình vận hành liên hồ chứa ban hành theo Quyết định 1865/QĐ-TTg, khi độ mặn vượt quá 1.000 mg/L, cửa thu Cầu Đỏ buộc phải đóng lại để chuyển sang vận hành hoàn toàn trạm bơm An Trạch (cách Cầu Đỏ 8 km), dẫn đến gia tăng tiêu thụ điện năng và phát sinh phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên, việc ứng dụng phương pháp Đánh giá vòng đời (LCA) trong ngành nước tại Việt Nam hiện vẫn dựa trên các hệ số phát thải mặc định quốc tế, thiếu tính đặc thù địa phương và chưa phản ánh được áp lực khan hiếm nước thực tế tại lưu vực. Do đó, việc xây dựng một mô hình định lượng tích hợp chỉ số căng thẳng nguồn nước (Water Stress Index – WSI) và phương pháp đánh giá vòng đời (LCA) là yêu cầu cấp thiết để giải quyết mâu thuẫn giữa việc bảo đảm an ninh cấp nước và giảm thiểu tác động môi trường.

Mục tiêu nghiên cứu

a) Mục tiêu chung: Thiết lập mô hình tích hợp chỉ số căng thẳng nguồn nước và phương pháp đánh giá vòng đời (mô hình tích hợp WSI - LCA) nhằm đánh giá toàn diện các tác động môi trường và mức độ khan hiếm nguồn nước trong quá trình khai thác và sản xuất nước sạch cho hệ thống cấp nước đô thị. Kết quả luận án cung cấp luận cứ khoa học cho việc tối ưu hóa các kịch bản khai thác và sản xuất nước sạch đô thị trong điều kiện biến đổi khí hậu.

b) Mục tiêu cụ thể:

  1. Thiết lập mô hình tích hợp WSI - LCA làm cơ sở khoa học cho phân tích hệ thống cấp nước đô thị đặc thù cho từng lưu vực, bảo đảm tính khoa học và khả năng lặp lại.
  2. Đánh giá tổng thể về mức độ căng thẳng nguồn nước và áp lực môi trường của hệ thống cấp nước đô thị Đà Nẵng thông qua mô hình tích hợp WSI - LCA.
  3. Mô phỏng các kịch bản khai thác, sản xuất nước sạch theo quy hoạch cấp nước đô thị đến năm 2045: Phân tích định lượng sự đánh đổi giữa an ninh nguồn nước và gánh nặng môi trường nhằm lựa chọn phương án quy hoạch hệ thống cấp nước bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp luận về mô hình tích hợp WSI - LCA; quá trình khai thác, vận chuyển nước thô và sản xuất nước sạch.
  • Phạm vi không gian: Giới hạn từ công đoạn khai thác, truyền tải nước thô đến dây chuyền xử lý và sản xuất nước sạch tại NMN Cầu Đỏ; mở rộng tới các công trình đầu mối liên quan trực tiếp đến việc điều tiết và cấp nước thô gồm đập dâng An Trạch và vùng hạ lưu sông Vu Gia – Thu Bồn.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu dòng chảy thủy văn lịch sử được thu thập tại các trạm đo trên lưu vực Vu Gia – Thu Bồn giai đoạn 1987–2023; chỉ số WSI tính toán dựa trên giá trị trung bình mùa khô. Dữ liệu vận hành kỹ thuật tại NMN Cầu Đỏ thu thập theo nhật ký vận hành 365 ngày của năm 2023. Các kịch bản cấp nước được xây dựng đến năm 2030, tầm nhìn 2045 xét theo kịch bản biến đổi khí hậu RCP 8.5 (ghi nhận trong văn bản theo nhóm RCP 8), căn cứ trên Quyết định 9018/QĐ-UBND (28/12/2016) và Quyết định điều chỉnh quy hoạch số 372/QĐ-UBND (05/02/2025) của UBND thành phố Đà Nẵng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Luận án đã tổng quan các nhóm công cụ đánh giá khan hiếm nước và tác động môi trường trên thế giới và tại Việt Nam:

  1. Các chỉ số căng thẳng nguồn nước:

    • Chỉ số Falkenmark (1986, 1989): Đánh giá dựa trên lượng nước sẵn có bình quân đầu người (ngưỡng > 1.700 m³/người/năm: không căng thẳng; 1.000–1.700: căng thẳng; 500–1.000: khan hiếm; < 500: rất khan hiếm). Chỉ số này dễ áp dụng nhưng bỏ qua biến động mùa vụ và nhu cầu môi trường.
    • Chỉ số khai thác so với khả năng cung cấp (WTA): Được Wada và cộng sự phân tích với ngưỡng WTA > 0,4 (tương đương WSI 1.700 m³/người/năm) và WTA > 0,8 (khan hiếm nghiêm trọng, tương đương WSI 500 m³/người/năm). Tại Việt Nam, Hoàng Thị Nguyệt Minh đã áp dụng WTA cho lưu vực sông Mã giai đoạn 2010–2020, ghi nhận 6/10 tiểu lưu vực chịu sức ép cao vào năm 2020.
    • Chỉ số căng thẳng tính đến năng lực xã hội (SWSI): Ohlsson (2000) đưa chỉ số phát triển con người (HDI) vào đánh giá nhằm phản ánh năng lực thích ứng của xã hội.
    • Chỉ số WSI dựa trên nhu cầu dùng nước: Được đề xuất trong nghiên cứu của Asheesh và McNulty thông qua cân bằng cung - cầu theo thời gian.
    • Chỉ số WSI có tính đến yêu cầu môi trường (EWR): Smakhtin và cộng sự (2005) thiết lập công thức: $$\text{WSI} = \frac{\text{WU}}{\text{WR} - \text{EWR}}$$ Trong đó: $\text{WU}$ là lượng nước khai thác, $\text{WR}$ là tổng lượng nước về, $\text{EWR}$ là lượng nước duy trì hệ sinh thái. Ngưỡng phân loại gồm: $\text{WSI} > 1$ (khan hiếm nước thô, khai thác quá mức); $0,6 \le \text{WSI} < 1$ (bị khai thác ở mức cao, lưu vực căng thẳng); $0,3 \le \text{WSI} < 0,6$ (khai thác mức bình thường); $\text{WSI} < 0,3$ (khai thác mức nhẹ).
  2. Các công cụ hỗ trợ ra quyết định ngành nước:

    • Khung chính sách: Luật Tài nguyên nước năm 2023, Quy hoạch tài nguyên nước thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định 1622/QĐ-TTg).
    • Công cụ đánh giá: Phân tích đa tiêu chí (MCA), Đánh giá tác động môi trường (EIA, hình thành từ năm 1969 tại Mỹ, tiếp cận tại Việt Nam từ đầu thập niên 1980), Đánh giá môi trường chiến lược (SEA), Đánh giá rủi ro (RA), Chi phí vòng đời (LCC) và Đánh giá vòng đời (LCA).
  3. Nghiên cứu ứng dụng LCA trên hệ thống nước:

    • Các nghiên cứu quốc tế: Barrios và cộng sự nghiên cứu thay đổi hóa chất keo tụ (phèn nhôm, phèn sắt, PAC); Amir Hamzah Sharaai (2009, Malaysia) phân tích năng lượng xanh và hóa chất; Berit Godskesen và cộng sự (2011, 2012, 2013) tại Đan Mạch sử dụng phương pháp EDIP city 2006 phân tích các kịch bản cấp nước tập trung, phân tán và tái chế; Mohamed-Zine và cộng sự (2013) tại trạm xử lý nước Boudouaoua; Li và cộng sự (2016, Trung Quốc) dùng phương pháp CML; Jade Lui, Susan Lee, William T. Sloan (2025, Scotland) sử dụng phần mềm GaBi; Martina Klimtová (2025, Séc) áp dụng phương pháp EF 3.1; Lundie (Sydney) và Friedrich (Durban) đánh giá phát thải carbon liên quan đến tiêu thụ điện; nghiên cứu tại Singapore chỉ ra 1 m³ nước tái chế phát thải 2,19 kg CO₂ tđ (tiêu hao 0,00344 m³ nước) so với nước máy phát thải 1,30 kg CO₂ tđ (tiêu hao 0,882 m³ nước).
    • Các nghiên cứu tại Việt Nam: Homäki và cộng sự (2003, Hà Nội) dùng Eco-Indicator 99; nghiên cứu tại NMN Long Hậu 1 (Long An) khai thác nước ngầm chỉ ra tác động tiêu thụ điện và hóa chất; Trần Văn Hùng và cộng sự (2025) so sánh công nghệ xử lý nước thải.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

  1. Về phương pháp luận và công cụ đặc trưng hóa tác động: Tiêu chuẩn ISO 14044 thiếu tính đặc trưng không gian. Mặc dù ISO 14046 đề cập đến "Dấu chân khan hiếm nước" ($\text{WSF} = \text{WC} \times \text{WS}$ theo Pfister và cộng sự), việc chuyển đổi công thức này thành thuật toán tích hợp tự động trong các phần mềm LCA (như SimaPro) chưa được chuẩn hóa tại Việt Nam.
  2. Về đối tượng nghiên cứu và tính đặc thù địa phương: Chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam thực hiện kiểm kê vòng đời (LCI) chi tiết cho kịch bản chuyển đổi công trình thu nước thô từ sông Cầu Đỏ sang trạm bơm An Trạch khi bị nhiễm mặn, dẫn đến thiếu hồ sơ phát thải mang tính địa phương hóa.
  3. Về hỗ trợ ra quyết định quy hoạch: Chưa có mô hình định lượng tích hợp đánh giá đồng thời áp lực khan hiếm nước tại chỗ (WSI) và phát thải môi trường toàn cầu (LCA) để xác định ngưỡng đánh đổi tối ưu cho quy hoạch hạ tầng cấp nước đô thị thích ứng biến đổi khí hậu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung phân tích

  • Lý thuyết Đánh giá vòng đời (LCA): Tuân thủ tiêu chuẩn ISO 14040, ISO 14044 và ISO 14046. Ranh giới hệ thống được xác định từ khâu khai thác nước thô (cửa thu Cầu Đỏ, trạm bơm An Trạch), truyền tải nước thô, khu xử lý nước sạch (bể trộn, bể phản ứng, bể lắng, bể lọc, khử trùng, xử lý bùn) đến bể chứa nước sạch. Đơn vị chức năng (Functional Unit) được lựa chọn là 1 m³ nước sạch tại đầu ra nhà máy.
  • Lý thuyết chỉ số WSI tích hợp: Sử dụng mô hình tính toán WSI của Smakhtin (2005) có xét đến dòng chảy môi trường (EWR). WSI được chuyển đổi thành hệ số đặc trưng hóa (Characterization Factor) đưa vào phương pháp LCIA ReCiPe 2016 nhằm tính toán Dấu chân khan hiếm nguồn nước (Water Scarcity Footprint – WSF).
  • Khung phân tích tác động ReCiPe 2016: Phân tích đồng thời ở cấp độ điểm giữa (Midpoint - gồm các loại tác động như biến đổi khí hậu, tiêu thụ tài nguyên nước, độc tính sinh thái...) và cấp độ điểm kết thúc (Endpoint - gồm 3 lĩnh vực bảo vệ: Sức khỏe con người, Chất lượng hệ sinh thái, Sự cạn kiệt tài nguyên).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp mô hình hóa thủy văn: Ứng dụng mô hình MIKE SHE (do Viện Thủy lực Đan Mạch - DHI phát triển) để mô phỏng chu trình thủy văn, tính toán dòng chảy về ($\text{WR}$) tại hạ lưu lưu vực Vu Gia – Thu Bồn (vị trí đập An Trạch và cửa thu Cầu Đỏ) trên cơ sở chuỗi số liệu đo thực tế 1987–2023. Mô hình được tiến hành hiệu chỉnh và kiểm định thông qua các chỉ số thống kê thủy văn.
  • Phương pháp đánh giá vòng đời trên phần mềm: Luận án sử dụng phần mềm chuyên dụng SimaPro (được tài trợ bởi công ty PRé Sustainability, Hà Lan) kết hợp bộ cơ sở dữ liệu quốc tế Ecoinvent v3.11.
  • Phương pháp thu thập và kiểm kê dữ liệu sơ cấp: Thu thập dữ liệu từ hồ sơ quản lý kỹ thuật và nhật ký vận hành 365 ngày của năm 2023 tại NMN Cầu Đỏ thuộc Công ty Cổ phần Cấp nước Đà Nẵng (DAWACO), bao gồm: lưu lượng nước thô, nước sạch, mức tiêu thụ điện năng, định mức hóa chất keo tụ PAC, vôi $\text{Ca(OH)}_2$, khí Clo khử trùng và lượng bùn thải phát sinh.
  • Phương pháp đánh giá độ bất định và kiểm định mô hình:
    • Đánh giá chất lượng dòng dữ liệu kiểm kê (LCI) theo phương pháp Ma trận phả hệ (Pedigree Matrix) dựa trên 5 tiêu chí chất lượng dữ liệu.
    • Phân tích độ nhạy (Sensitivity Analysis) của các tham số đầu vào (điện năng, hóa chất).
    • Mô phỏng Monte Carlo trên dữ liệu vận hành để xác định phân phối xác suất và độ không chắc chắn của lượng phát thải khí nhà kính ($\text{CO}_2$ tđ).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan về các vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tài nguyên nước thế giới và Việt Nam. Tổng lượng nước mặt của Việt Nam đạt khoảng 936 tỷ m³/năm nhưng có đến 60% lượng nước bắt nguồn từ bên ngoài lãnh thổ; nguồn nước phân bố không đồng đều (lưu vực sông Cửu Long chiếm 56%, sông Hồng – Thái Bình chiếm 18%, sông Đồng Nai chiếm 4,7%), và 72% tổng lượng dòng chảy tập trung vào mùa lũ. Trữ lượng nước dưới đất chỉ đạt khoảng 91,5 tỷ m³/năm. Tại Đà Nẵng, Quyết định 211/QĐ-UBND đã phê duyệt phân vùng hạn chế khai thác nước dưới đất, lượng khai thác nước ngầm chỉ đạt 6.000 m³/ngày (chiếm khoảng 2%), còn lại gần 350.000 m³/ngày phụ thuộc hoàn toàn vào nước mặt.

Hệ thống cấp nước đô thị thành phố Đà Nẵng có tổng công suất thiết kế đạt 463.500 m³/ngày, phục vụ thông qua mạng lưới đường ống dài khoảng 3.310 km, tỷ lệ bao phủ cấp nước đô thị đạt gần 100%, tỷ lệ thất thoát nước duy trì từ 14% đến 16%, tiêu chuẩn dùng nước bình quân đạt 150 lít/người/ngày. Hiện trạng công suất các nhà máy nước được tổng hợp tại Bảng 1.1:

STT Tên nhà máy nước Nguồn nước khai thác Công suất thiết kế (m³/ngày) Đặc tính vận hành chủ đạo
1 Cầu Đỏ Sông Vu Gia (sông Cầu Đỏ) 290.000 Trung tâm điều tiết, công nghệ truyền thống, nhạy cảm về nhiễm mặn
2 Sân Bay Phụ thuộc nguồn thô Cầu Đỏ 30.000 Chức năng trạm tăng áp
3 Hòa Liên Sông Cu Đê 120.000 Nguồn dự phòng chiến lược, công nghệ hiện đại
4 Sơn Trà Nước mặt bán đảo Sơn Trà 5.000 Quy mô nhỏ, phụ thuộc hoàn toàn thủy văn mùa khô
5 Hải Vân Suối Lương 5.000 Quy mô nhỏ
6 Hòa Trung Hồ Hòa Trung 10.000 Cấp nước cho Khu công nghệ cao
7 Các trạm nhỏ Nước ngầm / khe suối 3.500 Quy mô cục bộ

NMN Cầu Đỏ là đối tượng nghiên cứu trọng điểm, chiếm trên 60% công suất thiết kế toàn đô thị và cung cấp gần 70% sản lượng nước sạch. Nhà máy gồm 3 dây chuyền công nghệ xây dựng qua các giai đoạn: dây chuyền 50.000 m³/ngày (năm 2002), dây chuyền 120.000 m³/ngày cũ (năm 2008) và dây chuyền 120.000 m³/ngày mới (tháng 7/2021). Suất tiêu thụ điện năng bình quân của quá trình sản xuất dao động từ 0,25 đến 0,35 kWh/m³. Khi độ mặn tại sông Cầu Đỏ vượt 1.000 mg/L, nhà máy phải lấy nước từ trạm bơm phòng mặn An Trạch (công suất đã nâng lên 420.000 m³/ngày) cách xa 8 km, làm tăng áp lực năng lượng và chi phí vận hành. Chương này cũng phân tích tổng quan các công cụ WSI, EIA, SEA, LCA và khẳng định sự cần thiết phải tích hợp WSI vào LCA.

Chương 2. Đối tượng và cơ sở lý thuyết của các phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận nghiên cứu và các công cụ thực nghiệm:

  • Xác định khung logic nghiên cứu kết nối giữa mô hình thủy văn MIKE SHE và mô hình LCA trong phần mềm SimaPro.
  • Xây dựng mô hình MIKE SHE mô phỏng các thành phần thủy văn dòng chảy mặt, dòng chảy ngầm và tương tác sông hồ hạ lưu lưu vực Vu Gia – Thu Bồn; lập sơ đồ mạng lưới sông và sử dụng mô hình số độ cao (DEM) để tính toán dòng chảy đến cửa thu nước Cầu Đỏ và An Trạch.
  • Chuẩn hóa các bước kiểm kê vòng đời (LCI) theo ISO 14044 và xác lập ranh giới hệ thống từ điểm thu nước thô, trạm bơm cấp I, cụm xử lý hóa lý (keo tụ PAC, tạo bông, lắng, lọc nhanh trọng lực, khử trùng Clo, xử lý bùn thải) đến trạm bơm cấp II.
  • Thiết lập thuật toán tích hợp WSI theo Smakhtin vào công thức tính toán WSF của ISO 14046.
  • Thiết lập phương pháp kiểm tra độ tin cậy bằng Ma trận phả hệ (Pedigree Matrix) để tính toán độ không chắc chắn của dữ liệu sơ cấp và thứ cấp, làm đầu vào cho phân tích bất định Monte Carlo.

Chương 3. Thiết lập và kiểm định mô hình tích hợp chỉ số căng thẳng nguồn nước và phương pháp đánh giá vòng đời

Chương 3 trình bày các bước thiết lập và kết quả áp dụng mô hình cho hiện trạng năm 2023 tại NMN Cầu Đỏ:

  • Kết quả mô hình thủy văn MIKE SHE: Sau khi hiệu chỉnh và kiểm định, mô hình tái hiện dòng chảy lịch sử giai đoạn 1987–2023 với độ tin cậy cao, xác định lượng nước có thể sử dụng ($\text{WR}$) và lưu lượng phân bổ theo các tần suất khác nhau tại đập dâng An Trạch và cửa thu Cầu Đỏ. Kết quả tính toán WSI tại cửa thu Cầu Đỏ trong mùa khô năm 2023 phản ánh áp lực khai thác thực tế và tình trạng thiếu hụt nguồn nước khi nhiễm mặn.
  • Kiểm kê vòng đời (LCI): Tổng hợp dữ liệu sản xuất thực tế năm 2023 trên 1 m³ nước sạch tại NMN Cầu Đỏ, bóc tách riêng mức tiêu thụ điện và hóa chất tại dây chuyền 120.000 m³/ngày cũ và mới. Kết quả chỉ ra tiêu thụ điện năng tại các trạm bơm nước thô (đặc biệt khi bơm từ An Trạch) và trạm bơm cấp II là điểm tiêu thụ năng lượng lớn nhất.
  • Đánh giá tác động vòng đời (LCIA): Áp dụng phương pháp ReCiPe 2016, phân tích tác động tổng thể của NMN Cầu Đỏ trong mùa khô và mùa mưa. Vào mùa khô, việc tăng cường vận hành trạm bơm An Trạch làm gia tăng đáng kể lượng phát thải khí nhà kính ($\text{CO}_2$ tđ). Tác động của từng cụm xử lý trong dây chuyền 120.000 m³/ngày cũ cho thấy công đoạn bơm và sử dụng hóa chất keo tụ PAC đóng góp lớn nhất vào tiềm năng ấm lên toàn cầu và độc tính sinh thái.
  • Kiểm định mô hình:
    • Kiểm tra độ nhạy (Sensitivity Analysis): Kết quả phát thải $\text{CO}_2$ có độ nhạy cảm cao nhất với biến thiên tiêu thụ điện năng lưới và lượng hóa chất PAC.
    • Đánh giá chất lượng dữ liệu: Áp dụng Pedigree Matrix cho 4 dòng dữ liệu chính (điện, PAC, vôi, Clo) đạt các chỉ số chất lượng tin cậy.
    • Mô phỏng Monte Carlo: Thực hiện mô phỏng xác định phân phối xác suất phát thải khí nhà kính, lượng hóa khoảng biến thiên bất định của dấu chân carbon từ hệ thống cấp nước.

Chương 4. Đánh giá hiệu quả cho các kịch bản khai thác, sản xuất nước sạch tại Đà Nẵng thông qua mô hình tích hợp WSI - LCA

Chương 4 mô phỏng và đánh giá 5 kịch bản cấp nước (kịch bản S1, S2, S3, S4, S5) cho giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn 2045 dựa trên quy hoạch đô thị và kịch bản biến đổi khí hậu:

  • Mô phỏng thủy văn kịch bản: Đánh giá sự suy giảm lưu lượng nước về cửa thu Cầu Đỏ trong các tháng mùa kiệt ứng với tần suất cấp nước 95% theo điều kiện biến đổi khí hậu.
  • Tính toán chỉ số WSI: Xác định chỉ số WSI mùa khô tại cửa thu Cầu Đỏ cho từng kịch bản (S1 đến S4, S5). Sự gia tăng khai thác tại nguồn Vu Gia khi không có giải pháp điều tiết dẫn đến chỉ số WSI tiến sát hoặc vượt ngưỡng căng thẳng cao.
  • Kiểm kê và đánh giá tác động các kịch bản: Lập bảng dữ liệu kiểm kê (LCI) cho 5 kịch bản, tính toán 6 loại tác động môi trường đặc trưng (Midpoint) và đánh giá Dấu chân khan hiếm nước (WSF). Kết hợp đồng thời giá trị WSF và phát thải carbon ($\text{CO}_2$ tđ) của 5 kịch bản.
  • Đánh giá điểm kết thúc (Endpoint): Lượng hóa các thiệt hại tiềm tàng đối với sức khỏe con người, hệ sinh thái và cạn kiệt tài nguyên của từng kịch bản. Kết quả phân tích định lượng làm rõ sự đánh đổi: các kịch bản duy trì khai thác tối đa tại Cầu Đỏ kết hợp bơm khoảng cách xa từ An Trạch giúp giảm chỉ số căng thẳng cục bộ nhưng làm tăng mạnh phát thải carbon và chi phí môi trường; ngược lại, kịch bản kết hợp đa dạng hóa nguồn cấp (khai thác hợp lý sông Cu Đê qua NMN Hòa Liên, hồ Hòa Trung) mang lại sự cân bằng tối ưu giữa an ninh nguồn nước và giảm thiểu dấu chân carbon vòng đời.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học

  • Luận án đã phát triển và chuẩn hóa quy trình tích hợp chỉ số căng thẳng nguồn nước (WSI) theo phương pháp luận của Smakhtin vào quy trình Đánh giá vòng đời (LCA) theo chuẩn ISO 14040/14044/14046. Đây là mô hình tích hợp WSI - LCA lần đầu tiên được xây dựng và kiểm chứng cho hệ thống cấp nước đô thị tại Việt Nam trong điều kiện biến đổi dòng chảy và xâm nhập mặn.
  • Chuyển đổi thành công chỉ số WSI từ một đại lượng thủy văn lưu vực thành hệ số đặc trưng hóa địa phương trong bước đánh giá tác động (LCIA) bằng phương pháp ReCiPe 2016 trên phần mềm SimaPro, khắc phục hạn chế thiếu tính đặc trưng không gian của phương pháp LCA truyền thống.
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu kiểm kê vòng đời (LCI) thực nghiệm và quy trình đánh giá độ bất định (kết hợp Ma trận phả hệ Pedigree và mô phỏng Monte Carlo) đối với chuỗi khai thác và sản xuất nước sạch ở đô thị ven biển miền Trung.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  • Lượng hóa chính xác áp lực môi trường và mức độ khan hiếm nước của NMN Cầu Đỏ và toàn bộ hệ thống cấp nước đô thị Đà Nẵng theo các mùa trong năm; chỉ ra hiện tượng "dịch chuyển gánh nặng môi trường" khi phải chuyển đổi nguồn thu nước từ Cầu Đỏ sang đập dâng An Trạch cách 8 km nhằm ứng phó mặn.
  • Định lượng hóa sự đánh đổi giữa an ninh nguồn nước và phát thải khí nhà kính cho 5 kịch bản cấp nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Kết quả cung cấp luận cứ khoa học thực nghiệm giúp các nhà quản lý xác định cấu hình khai thác tối ưu, bảo đảm tính bền vững vòng đời.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Tối ưu hóa chế độ vận hành liên trạm bơm giữa cửa thu Cầu Đỏ và trạm bơm An Trạch, kiểm soát tỷ lệ thất thoát nước trên mạng lưới (hướng tới mục tiêu dưới 12%).
  • Đa dạng hóa nguồn nước thô, phát triển đồng bộ nguồn nước từ sông Cu Đê (NMN Hòa Liên) và hồ Hòa Trung nhằm giảm mức phụ thuộc tập trung vào một điểm khai thác duy nhất tại hạ lưu Vu Gia.
  • Đưa mô hình tích hợp WSI - LCA vào quy trình thẩm định kỹ thuật và đánh giá môi trường chiến lược trong các đồ án quy hoạch hạ tầng cấp nước đô thị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu của luận án mới chỉ tập trung lượng hóa cho công đoạn khai thác, truyền tải nước thô và dây chuyền xử lý nước sạch tại NMN Cầu Đỏ cùng các công trình đầu mối liên quan (đập dâng An Trạch, hạ lưu Vu Gia – Thu Bồn). Nghiên cứu chưa mở rộng đánh giá chi tiết cho toàn bộ mạng lưới đường ống truyền dẫn – phân phối tới tận hộ tiêu dùng cũng như công đoạn thu gom, xử lý nước thải sau sử dụng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng ranh giới hệ thống để đánh giá toàn diện chu trình nước đô thị khép kín (bao gồm mạng lưới phân phối cấp nước, hành vi tiêu dùng và hệ thống thoát nước – xử lý nước thải đô thị) tại Đà Nẵng; đồng thời mở rộng ứng dụng mô hình tích hợp WSI - LCA cho các đô thị ven biển khác thuộc khu vực miền Trung có điều kiện tương đồng.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên và các nhà khoa học: Luận án cung cấp tài liệu tham khảo chuyên sâu về phương pháp luận tích hợp mô hình thủy văn (MIKE SHE) với công cụ đánh giá vòng đời (SimaPro, Ecoinvent v3.11, ReCiPe 2016); kỹ thuật xây dựng hệ số đặc trưng địa phương từ WSI; và phương pháp đánh giá độ bất định dữ liệu bằng Ma trận phả hệ kết hợp mô phỏng Monte Carlo. Nội dung đáng tham khảo nhất là Chương 3 và Chương 4.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý (Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường TP. Đà Nẵng): Luận án cung cấp căn cứ khoa học định lượng hỗ trợ rà soát, điều chỉnh Quy hoạch cấp nước đô thị thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn 2045 theo Quyết định 372/QĐ-UBND, giúp lựa chọn các dự án đầu tư hạ tầng cấp nước thích ứng biến đổi khí hậu và kiểm soát phát thải khí nhà kính.
  • Đối với các đơn vị vận hành cấp nước (Công ty DAWACO và các công ty cấp nước ven biển): Cung cấp hồ sơ kiểm kê LCI chi tiết về điện năng và hóa chất tại các dây chuyền công nghệ của NMN Cầu Đỏ, hỗ trợ tối ưu hóa quy trình châm hóa chất, giám sát các điểm nóng phát thải và tối ưu hóa phương án vận hành phòng mặn An Trạch.
  • Khả năng nhân rộng: Khung phân tích của luận án có thể áp dụng trực tiếp cho các đô thị ven biển và vùng hạ lưu sông tại Việt Nam đang chịu tác động tương tự của xâm nhập mặn như Thừa Thiên Huế, Quy Nhơn, Nha Trang, Hải Phòng, Quảng Ninh.

Câu hỏi thường gặp

1. Nhà máy nước Cầu Đỏ giữ vai trò gì và có quy mô công suất như thế nào trong hệ thống cấp nước thành phố Đà Nẵng?

NMN Cầu Đỏ là trung tâm điều tiết chiến lược, là nhà máy nước lớn nhất của thành phố Đà Nẵng với công suất thiết kế 290.000 m³/ngày, chiếm trên 60% tổng công suất thiết kế đô thị (463.500 m³/ngày) và cung cấp gần 70% tổng lượng nước khai thác toàn hệ thống. Nhà máy gồm 3 dây chuyền công nghệ: dây chuyền 50.000 m³/ngày (xây dựng năm 2002), dây chuyền 120.000 m³/ngày cũ (xây dựng năm 2008) và dây chuyền 120.000 m³/ngày mới (hoàn thành tháng 7/2021).

2. Ngưỡng độ mặn quy định để đóng cửa thu nước sông Cầu Đỏ là bao nhiêu và hệ thống chuyển đổi vận hành như thế nào?

Theo Quy trình vận hành liên hồ chứa ban hành tại Quyết định 1865/QĐ-TTg, khi độ mặn tại sông Cầu Đỏ vượt quá 1.000 mg/L (đỉnh điểm lịch sử từng ghi nhận 13.568 mg/L vào ngày 28/7/2015), cửa thu Cầu Đỏ buộc phải đóng kín hoàn toàn. Hệ thống khi đó phải kích hoạt vận hành trạm bơm phòng mặn An Trạch (công suất 420.000 m³/ngày) để bơm nước thô từ khoảng cách xa 8 km về NMN Cầu Đỏ, làm gia tăng tiêu thụ điện năng và phát thải khí nhà kính tích lũy.

3. Công thức tính chỉ số WSI và thang đánh giá mức độ căng thẳng nguồn nước của Smakhtin (2005) được luận án sử dụng như thế nào?

Chỉ số WSI được tính theo công thức: $\text{WSI} = \text{WU} / (\text{WR} - \text{EWR})$, trong đó $\text{WU}$ là lượng nước khai thác, sử dụng; $\text{WR}$ là tổng lượng nước về; $\text{EWR}$ là lượng nước duy trì hệ sinh thái. Thang phân loại gồm 4 mức: $\text{WSI} > 1$ (khan hiếm nguồn nước thô, khai thác quá mức); $0,6 \le \text{WSI} < 1$ (bị khai thác ở mức cao, lưu vực căng thẳng); $0,3 \le \text{WSI} < 0,6$ (bị khai thác ở mức bình thường); và $\text{WSI} < 0,3$ (khai thác ở mức nhẹ).

4. Đơn vị chức năng, ranh giới hệ thống và các công cụ chính được sử dụng trong đánh giá vòng đời (LCA) của luận án là gì?

Luận án lựa chọn đơn vị chức năng là 1 m³ nước sạch sản xuất tại đầu ra nhà máy. Ranh giới hệ thống bao gồm từ công đoạn khai thác, truyền tải nước thô (tại cửa thu Cầu Đỏ và đập dâng An Trạch), các công đoạn xử lý hóa lý (keo tụ PAC, tạo bông vôi $\text{Ca(OH)}_2$, lắng, lọc, khử trùng bằng Clo) và xử lý bùn thải. Các công cụ thực hiện gồm phần mềm SimaPro (công ty PRé Sustainability tài trợ), cơ sở dữ liệu Ecoinvent v3.11 và phương pháp đánh giá tác động ReCiPe 2016.

5. Độ bất định và độ tin cậy của mô hình tích hợp WSI - LCA được kiểm chứng bằng những kỹ thuật nào?

Luận án thực hiện kiểm chứng theo 3 cấp độ: (1) Kiểm định mô hình (Validation) đối chiếu với dữ liệu vận hành thực tế; (2) Phân tích độ nhạy (Sensitivity Analysis) đánh giá mức biến thiên của phát thải $\text{CO}_2$ khi thay đổi các thông số đầu vào chính như điện năng và hóa chất; (3) Phân tích tính không chắc chắn của dữ liệu bằng cách sử dụng Ma trận phả hệ (Pedigree Matrix) để lượng hóa chất lượng các dòng dữ liệu kiểm kê LCI và chạy mô phỏng ngẫu nhiên Monte Carlo xác định phân phối xác suất phát thải khí nhà kính.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Mai Thị Thùy Dương đã thiết lập thành công mô hình tích hợp chỉ số căng thẳng nguồn nước (WSI) và phương pháp đánh giá vòng đời (LCA) cho hệ thống cấp nước đô thị thành phố Đà Nẵng. Thông qua việc kết hợp mô hình thủy văn MIKE SHE, phần mềm SimaPro, cơ sở dữ liệu Ecoinvent v3.11 và phương pháp ReCiPe 2016, nghiên cứu đã lượng hóa chi tiết mức độ khan hiếm tài nguyên nước và các tác động môi trường tại NMN Cầu Đỏ cùng các công trình đầu mối liên quan. Kết quả mô phỏng 5 kịch bản cấp nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045 cung cấp luận cứ khoa học thực nghiệm vững chắc để giải quyết bài toán đánh đổi giữa an ninh nguồn nước và giảm phát thải khí nhà kính trong điều kiện biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn.