CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên khu vực nghiên cứu 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên: a) Vị trí địa lý Bình Định là một tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam. Lãnh thổ của tỉnh trải dài 110 km theo hướng Bắc – Nam, có chiều ngang với độ hẹp trung bình là 55km (chỗ hẹp nhất 50 km, chỗ rộng nhất 60 km).
Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp 02 tỉnh Gia Lai, Kon Tum, phía Đông giáp biển Đông. Giới hạn bởi hệ toạ độ địa lý như sau: - Cực Bắc : 140 42′ 10″ độ vĩ bắc, 1080 55′ 4″ độ kinh Đông. - Cực Nam : 130 39′ 10″ độ vĩ bắc, 1080 54′ 00″ độ kinh Đông. - Cực Đông : 130 36′ 33″ độ vĩ bắc, 1090 21′ 00″ độ kinh Đông.
- Cực Tây : 140 25′ 00″ độ vĩ bắc, 1080 37′ 30″ độ kinh Đông. Diện tích tự nhiên: 6.025 km2, Tỉnh có 11 đơn vị hành chính gồm 01 thành phố loại I trực thuộc tỉnh (thành phố Quy Nhơn), 01 thị xã (An Nhơn), 03 huyện miền núi (An Lão, Vân Canh, Vĩnh Thạnh), 02 huyện trung du (Hoài Ân, Tây Sơn) và 04 huyện đồng bằng (Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Tuy Phước). Bản đồ hành chính tỉnh Bình Định Dân số trong toàn tỉnh, tính đến 2016 là 1.523,8 nghìn người, phân bố ở 126 xã, 21 phường và 12 thị trấn. Số dân cư sống ở thành thị chiếm 31%.
Còn lại 69% sống ở nông thôn. Mật độ bình quân 250,3 người/ km2. Đại bộ phận dân cư sống bằng nghề nông – lâm – ngư nghiệp. Một bộ phận hoạt động trong các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, khai thác chế biến lâm sản, thủy sản, xây dựng, thương nghiệp dịch vụ y tế, giáo dục v.v… b) Đặc điểm địa hình Bình Định là tỉnh nằm gọn bên sườn phía đông dãy Trường Sơn, có địa hình dốc và bị chia cắt mạnh.
Hướng dốc chính từ Tây sang Đông, núi và đồng bằng xen kẽ nhau do một số dãy núi từ Trường Sơn kéo dài xuống biển tạo thành. Từ Tây Nguyên xuống đồng bằng của Bình Định địa hình hạ thấp đột ngột đáng kể. Các cao nguyên ở phía tây có cao độ từ 500m đến 700m xuống đồng bằng Bình Định chỉ có cao trình 20m đến 30m, vùng ven biển cao trình 2m đến 3m; hình thành hai bậc địa hình cao thấp nằm kế tiếp nhau và không có khu đệm chuyển tiếp. Toàn vùng Bình Định được chia thành 3 dạng địa hình: địa hình núi trung bình và núi thấp, vùng gò đồi ở trung du, đồng bằng và ven biển.
Điều kiện khí tượng, thủy văn Bình Định thuộc vùng nhiệt đới ẩm gió mùa. Nhiệt độ trung bình 27,20C. Lượng mưa trung bình hàng năm trong 5 năm gần đây là 1845,2 mm. Mùa mưa (từ tháng 9 đến tháng 12) tập trung 70 - 80% lượng mưa cả năm.
Mùa mưa trùng với mùa bão nên thường gây ra lũ lụt. Ngược lại mùa nắng kéo dài nên gây hạn hán ở nhiều nơi. Độ ẩm trung bình là 78%. a) Khí tượng - Nhiệt độ không khí (ToC): Nhiệt độ không khí bình quân, cao nhất, thấp nhất các tháng trong năm: Bảng 1.1: Các đặc trưng nhiệt độ của khu vực nghiên cứu.
Nhiệt độ bình quân Nhiệt độ cao nhất Nhiệt độ thấp nhất Tháng o (T C ) ( Tmax) (Tmin) 1 23,1 33,0 15,2 2 23,9 35,4 15,7 3 25,4 38,3 16,4 4 27,3 36,6 19,4 5 28,9 39,7 19,1 6 29,7 40,9 21,7 7 29,8 42,1 20,6 8 29,8 40,9 20,7 9 28,4 39,0 20,5 10 26,8 37,3 17,9 11 25,4 32,9 15,0 7 12 23,7 31,5 16,1 Năm 26,9 42,1 15,0 - Độ ẩm không khí, (u%): Bảng 1.Các đặc trưng độ ẩm không khí trung bình của khu vực nghiên cứu. Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm u (%) 84 82 83 83 80 74 71 71 78 83 84 83 80 - Số giờ nắng, n (giờ/ ngày): Bảng 1.3:Số giờ nắng bình quân ngày các tháng trong năm. Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm n ( giờ/ 5,3 7,2 8,2 8,8 8,9 8,0 8,7 7,6 6,7 5,8 4,2 4,2 7,0 ngày) - Vận tốc gió, v ( m/s): Bảng1.4: Vận tốc gió bình quân các tháng trong năm. Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm v (m/s) 2,3 2,0 2,2 2,0 1,7 2,0 1,8 2,0 1,5 2,2 2,8 2,7 2,1 Bảng 1.5: Vận tốc gió mạnh theo các hướng theo tần xuất Pi (%).
Trị số VP ( m/s) Pi (%) 2 4 10 Ghi chú Hướng (B), Bắc 26,5 23,6 19,8 (ĐB), Đông -Bắc 20,7 18,8 16,2 (Đ), Đông 16,8 14,3 11,1 (ĐN), Đông Nam 16,2 15,1 13,5 (N), Nam 25,1 21,0 15,8 (TN), Tây – Nam.6:Lượng bốc hơi đo bằng ống Piche Zpic (mm) Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm Zpic 68,4 63,4 80,4 81,2 96,2 109,3 117,8 124,8 78,5 67,8 64,8 69,8 1022,3 8 (mm) Bảng1.7: Lượng bốc hơi mặt nước Znc (mm) Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm Kh.c 86,8 75,9 88,4 87,9 114,5 143,9 150,3 170,8 111,4 91,0 85,0 87,2 1293 - Mưa: Lượng mưa trung bình năm trong vùng vào khoảng 1700 ÷ 1800 mm, phân bố thành 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, mùa khô từtháng 1 đến tháng 8. Trong mùa mưa, cường độ mưa lớn thường tập trung vào tháng 10 và tháng 11, thường gây lũ lụt. Mùa khô kéo dài khoảng 8 tháng, lượng mưa chỉ chiếm 20% - 30% cả năm, bốc hơi lớn, thường gây ra hạn hán thiếu nước nghiêm trọng.
- Tình hình gió, bão trong vùng * Gió: Vùng lãnh thổ Bình Định chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính, gió mùa mùa Đông và gió mùa mùa Hạ có thời gian thịnh hành tương ứng là tháng 1 và tháng 7 hàng năm. Vận tốc gió trung bình là 2,1 m/s, trung bình tháng lớn nhất là 2,8 m/s và nhỏ nhất là 1,5 m/s. * Bão: Là một loại hình thời tiết nguy hiểm thường gây ra thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Thời gian bão xuất hiện tập trung chủ yếu trong 3 tháng, từ tháng 9 đến tháng 11, trong đó bão trong tháng 10 chiếm đến 40%, tháng 11 chiếm khoảng 20% trong tổng số các cơn bão đổ bộ vào từ tháng 6 đến tháng 12.
b) Thủy văn Mạng lưới sông ngòi của tỉnh Bình Định bao gồm có 4 con sông chính là sông Lại Giang, sông Kôn, Sông La Tinh, Sông Hà Thanh. Các sông trong tỉnh đều bắt nguồn từ vùng núi cao của sườn phía đông dãy Trường Sơn. Ở thượng lưu có nhiều dãy núi bám sát bờ sông nên độ dốc rất lớn, lũ lên xuống rất nhanh, thời gian truyền lũ ngắn, Ở đoạn đồng bằng lòng sông rộng và nông có nhiều luòng lạch, mùa kiệt nguồn nước rất nghèo nàn; nhưng khi lũ lớn nước tràn ngập mênh mông vùng hạ lưu gây ngập úng dài ngày vì các cửa sông nhỏ và các công trình che chắn nên thoát lũ kém. Bản đồ phân bố sông ngòi và các trạm khí tượng thủy văn tỉnh Bình Định.
Tài nguyên thiên nhiên a) Tài nguyên đất Diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 6.025 km 2 có thể chia thành 11 nhóm đất với 30 loại đất khác nhau trong đó quan trọng nhất là nhóm đất phù sa có khoảng trên 70 nghìn ha phân bố dọc theo lưu vực các sông. Đây là nhóm đất canh tác nông nghiệp tốt nhất thích hợp với trồng cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày. Diện tích đất chưa sử dụng còn rất lớn chiếm tới 34% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh. Đây là một tiềm năng lớn cần được đầu tư khai thác.
10 b) Tài nguyên rừng Theo kết quả kiểm kê rừng năm 2016, Bình Định hiện có 394.025,44 ha đất lâm nghiệp có rừng trong đó rừng tự nhiên là: 216.346,73 ha, rừng trồng là 134. Rừng hiện nay còn tập trung chủ yếu ở những vùng xa đường giao thông nên chỉ có ý nghĩa lớn về phòng hộ và bảo vệ môi trường. Xét theo mục đích kinh tế thì rừng sản xuất có 655 nghìn ha, rừng phòng hộ có gần 128 nghìn ha. Rừng Bình Định có hơn 40 loài cây có giá trị dược liệu phân bố hầu khắp ở các huyện như: ngũ gia bì, sa nhân, thiên niên kiện, bách bộ, thổ phục linh, hoàng đằng, thiên môn, phong kỷ, kim ngân.
Vùng trung du ven biển có cây dừa trám, đặc biệt cây mai gừng có giá trị dược liệu cao nhưng chủ yếu phân bố ở vài vùng đất hẹp tại huyện Vĩnh Thạnh. Cây sa nhân cũng có giá trị xuất khẩu cao. c) Tài nguyên khoáng sản : Tài nguyên khoáng sản ở Bình Định khá đa dạng đáng chú ý nhất là đá granít có trữ lượng khoảng 500 triệu m 3 với nhiều màu sắc đỏ, đen, vàng. là vật liệu xây dựng cao cấp được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng; sa khoáng titan tập trung ở mỏ Đề Gi (Phù Cát) trữ lượng khoảng 15 triệu m 3; cát trắng ở Hoài Nhơn trữ lượng khoảng 90.
Nhiều nguồn nước khoáng được đánh giá có chất lượng cao đã và đang được đưa vào khai thác sản xuất nước giải khát chữa bệnh. Toàn tỉnh có 4 nguồn nước khoáng là Hội Vân, Chánh Thắng (Phù Cát), Bình Quang (Vĩnh Thạnh), Long Mỹ (Tuy Phước) riêng nguồn nước khoáng nóng Hội Vân đảm bảo các tiêu chuẩn chữa bệnh và có thể xây dựng nhà máy điện địa nhiệt. Ngoài ra còn có các khoáng sản khác như cao lanh đất sét và đặc biệt là các quặng vàng ở Hoài Ân, Vĩnh Thạnh, Tây Sơn. d) Tài nguyên du lịch : Bình Định có nhiều vùng vịnh với những bãi tắm đẹp và danh lam thắng cảnh biển hài hoà hấp dẫn như bán đảo Phương Mai, bãi tắm Hoàng Hậu, Đảo Yến Quy Hoà, Bãi Dài, Vĩnh Hội, Tân Thanh… là nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú để phát triển du lịch.
Bình Định có một quần thể di tích với những tên gọi đã trở nên quen thuộc như tháp Dương Long, Cánh Tiên, Bánh Ít, Bình Lâm, Tháp Đôi. Về vị trí địa lý có thể hình dung Bình Định như một tâm điểm nối với các vùng du lịch của cả miền như Nha Trang, Gia Lai, Hội An, Đà Nẵng, Huế,. đồng thời cũng là điểm nút giao thông nối với quốc lộ 19 - ngã ba Đông Dương, đường Hồ Chí Minh tạo điều kiện cho tỉnh phát triển du lịch biển gắn với du lịch núi và cao nguyên, phát triển du lịch nội địa và du lịch quốc tế.