Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về TĐKT Nhà nƣớc ở Trung Quốc 8 - Chương 2: Thực trạng hình thành và phát triển của TĐKT Nhà nƣớc ở Trung Quốc - Chương 3: Vận dụng kinh nghiệm của Trung Quốc vào việc xây dựng và phát triển TĐKT Nhà nƣớc ở Việt Nam CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TĐKT NHÀ NƢỚC Ở TRUNG QUỐC 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH TĐKT NHÀ NƢỚC Ở TRUNG QUỐC Khái niệm TĐKT Nhà nƣớc của Trung Quốc Khái niệm về Tập đoàn kinh tế (TĐKT) hay còn đƣợc gọi là tập đoàn doanh nghiệp của Trung Quốc đƣợc xuất hiện đầu tiên từ những năm 80. Nhƣng cho đến nay, tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tập đoàn. Có quan điểm cho rằng: “TĐKT là một tổ hợp các liên kết pháp nhân kinh doanh thông qua nhiều mô hình và phƣơng thức hoạt động khác nhau nhằm phát triển khoa học công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, gia tăng lợi thế về tập trung sản xuất và tính chất độc quyền trong khuôn khổ pháp luật.
Tập đoàn hoạt động ở một hay nhiều ngành khác nhau trong phạm vi một nƣớc hoặc nhiều nƣớc, trong đó có công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của các công ty con về mặt tài chính và chiến lƣợc phát triển”. Hiện nay, tên gọi là TĐKT hay tập đoàn kinh doanh hay tập đoàn doanh nghiệp chƣa có sự phân biệt cụ thể nhƣng thực chất các danh từ này là tƣơng đƣơng nên đề tài sử dụng tên gọi thống nhất chung cho cả luận văn là TĐKT. 9 Và thực tế ở Việt Nam hiện nay, thuật ngữ đƣợc sử dụng phổ biến để chỉ loại hình tổ chức kinh tế này là các TĐKT. Một khái niệm khác đƣợc coi là đầy đủ hơn về TĐKT đƣợc đƣa ra trong “Quy định tạm thời về thành lập và quản lý các TĐDN” của Uỷ ban Kinh tế và Mậu dịch Nhà nƣớc, Uỷ ban cải cách cơ cấu Nhà nƣớc từ tháng 4/1995 và đƣợc khẳng định lại trong bộ “Luật về đăng ký kinh doanh của TĐDN” của Cục Thƣơng mại và Công nghiệp (Trung Quốc) năm 1997, thì: “Tập đoàn doanh nghiệp là một tổ hợp kinh doanh tập hợp các doanh nghiệp liên quan với nhau bởi một công ty mẹ.
Công ty mẹ của mỗi tập đoàn doanh nghiệp sẽ hoạt động nhƣ là hạt nhân của tập đoàn, còn các công ty con và các doanh nghiệp có liên quan khác đều là pháp nhân đƣợc pháp luật công nhận, chia sẻ tất cả các quyền dân sự liên quan và chịu trách nhiệm dân sự phát sinh; TĐDN không phải là pháp nhân”. TĐKT Trung Quốc là tổ chức kinh tế có kết cấu tổ chức nhiều cấp, đáp ứng đòi hỏi của nền sản xuất hàng hoá XHCN và của nền sản xuất lớn xã hội hoá. Đó là một khối liên kết bằng quan hệ về tài sản, quan hệ hiệp tác. Nhƣ vậy, quan điểm của Chính phủ và các doanh nghiệp Trung Quốc về TĐKT là nhất quán và tƣơng đối đồng nhất với quan điểm chung trên thế giới.
Tuy nhiên do tính đặc thù về kinh tế của Trung Quốc nên sự hình thành và phát triển của các tập đoàn cũng có những nét đặc trƣng khá điển hình. TĐKT ở Trung Quốc có thể không là một pháp nhân song cũng có thể là một pháp nhân độc lập giống nhƣ một hiệp hội các doanh nghiệp nhƣng là hiệp hội đa ngành nghề và có quy mô vốn khổng lồ. Tuy nhiên, khi nhận dạng một TĐKT cần thiết phải quan tâm đến những “đặc điểm” của chúng hơn là việc đƣa ra một định nghĩa có tính “chuẩn hoá”. Về mặt pháp lý, TĐKT ra đời và tồn tại đƣợc nhờ các ràng buộc về quan hệ tài chính, quyền sở hữu tài sản và nghĩa vụ khế ƣớc (hợp đồng).
Còn về 10 khía cạnh kinh tế, TĐKT ra đời và phát triển dựa vào nền tảng công nghệ sản xuất hàng loạt, đảm nhiệm tất cả các khâu trong quá trình sản xuất liên kết và chuyên môn hoá. Bên cạnh các khái niệm trên, ở Trung Quốc còn tồn tại khái niệm cho rằng: TĐKT (tên tiếng Anh là Enterprise group - từ này đƣợc định nghĩa trong quy định của Chính phủ) là một tập hợp các doanh nghiệp tồn tại độc lập một cách hợp pháp hình thành một công ty mẹ, các công ty con trong đó công ty mẹ chiếm cổ phần đa số và có các doanh nghiệp hoặc tổ chức thành viên. Quan điểm về TĐKT ở các quốc gia cũng có một số điểm khác nhau. Ví dụ: * Ở Hàn Quốc, TĐKT đƣợc gọi là Chaebol: thuật ngữ Chaebol dùng để chỉ một liên minh gồm nhiều công ty hình thành quanh một công ty mẹ.
Các công ty thƣờng có cổ phiếu tại mỗi công ty khác và thƣờng do một gia đình điều hành. * Ở Nhật Bản, TĐKT đƣợc gọi là Keiretsu: từ này mô tả một tổ hợp liên kết không chặt chẽ gồm các công ty đƣợc tổ chức quanh một ngân hàng để phục vụ lợi ích của các bên. Đôi khi, không phải luôn luôn, các công ty sở hữu vốn trong từng công ty khác. Theo cuốn “Từ điển kinh tế” của Nhật Bản, tập đoàn kinh doanh (TĐKD) là một tổ hợp các doanh nghiệp độc lập về mặt pháp lý, nắm giữ cổ phần của nhau và thiết lập đƣợc mối quan hệ mật thiết về nguồn vốn, nhân lực, công nghệ, cung ứng nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm.
* Ở Ấn Độ, TĐKT đƣợc gọi là Business group: từ này khái quát chỉ tập hợp các công ty liên kết với nhau dƣới một số hình thức chính quy hoặc không chính quy, có đặc điểm là mức độ ràng buộc trung gian, cụ thể là không phải đơn thuần bị ràng buộc bởi các liên minh mang tính chiến lƣợc ngắn hạn và cũng không phải hợp nhất thành một thực thể duy nhất. Các nhóm 11 doanh nghiệp có hai đặc điểm chính, mối liên kết chặt chẽ giữa các công ty trong tập đoàn và những hoạt động phối hợp do những mối liên kết đó tạo thành. * Ở phƣơng Tây, TĐKT đƣợc gọi là Conglomerate hoặc Corporation hoặc Group: những từ này thƣờng đƣợc sử dụng để chỉ một nghiệp đoàn bao gồm nhiều doanh nghiệp về bề ngoài không liên quan với nhau. Cơ cấu này giúp đa dạng hoá rủi ro kinh doanh song sự thiếu tập trung có thể gây khó khăn hơn trong việc quản lý các công ty kinh doanh khác nhau.
Theo một số nƣớc nhƣ Hà Lan, Anh, Đan Mạch cho rằng: TĐKD là sự liên kết giữa nhiều chủ thể kinh tế có chung lợi ích, có mối quan hệ sở hữu và khế ƣớc với nhau, cùng tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong một hoặc nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực kinh tế. * Ở Việt Nam, theo Từ điển Anh - Pháp - Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội (1998), định nghĩa: Một TĐKT và tài chính gồm một công ty mẹ và các công ty khác mà công ty mẹ kiểm soát hay tham gia góp vốn, mỗi công ty con cũng có thể kiểm soát các công ty khác hay tham gia các tổ hợp khác. Khái niệm “TĐKT Nhà nƣớc” theo quan điểm của Trung Quốc là: Tổ chức kinh tế có kết cấu nhiều cấp (nhiều cấp độ sở hữu), nó đáp ứng đòi hỏi của nền sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa và của nền sản xuất xã hội hoá. Doanh nghiệp nòng cốt của nó là nòng cốt của tập đoàn, là thực thể kinh tế có tƣ cách pháp nhân, tự chủ kinh doanh, hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm đối với kết quả kinh doanh.
Bằng các hình thức nắm giữ cổ phần khống chế, tham gia cổ phần, hiệp tác, doanh nghiệp nòng cốt gắn bó với một hoặc nhiều doanh nghiệp ở mức độ chặt chẽ, nửa chặt chẽ và liên kết lỏng lẻo. Những doanh nghiệp này đều có tƣ cách pháp nhân độc lập. Các học giả của Trung Quốc cũng cho rằng: TĐKT Nhà nƣớc (TĐKTNN) là tổ chức kinh tế có kết cấu tổ chức nhiều cấp liên kết với nhau bằng quan hệ tài sản và quan hệ hợp tác nhằm đáp ứng đòi hỏi của nền sản 12 xuất hàng hoá XHCN và của nền sản xuất lớn xã hội hoá. Thông qua việc nắm cổ phần chi phối, tham gia cổ phần, hợp tác, doanh nghiệp nòng cốt của tập đoàn gắn bó với các doanh nghiệp khác ở mức độ chặt chẽ, nửa chặt chẽ và lỏng lẻo.
Các doanh nghiệp trong tập đoàn đều có tƣ cách pháp nhân. Nhƣ vậy quan điểm của các nhà lãnh đạo và các doanh nghiệp Trung Quốc về TĐKTNN nói riêng và TĐKT nói chung là nhất quán và tƣơng đối đồng nhất với quan điểm chung trên thế giới. Tuy nhiên, đặc điểm nổi bật ở khái niệm TĐKT Nhà nƣớc của Trung Quốc là nêu rõ tập đoàn có một công ty mẹ và các công ty con với mức độ liên kết chặt chẽ, nửa chặt chẽ, hoặc lỏng lẻo tuỳ theo số cổ phần của công ty mẹ ở các công ty thành viên nhƣng công ty mẹ nắm quyền kiểm soát về chiến lƣợc hoạt động của cả tập đoàn. Trong khi đó, khái niệm tập đoàn ở các nƣớc khác lại có cơ cấu linh hoạt hơn, không quy định chặt chẽ chỉ có một công ty mẹ và đƣợc phép đầu tƣ ngƣợc vào công ty mẹ.
Điểm khác biệt đặc trƣng riêng nữa của Trung Quốc là các TĐKT Nhà nƣớc phải đáp ứng đƣợc đòi hỏi của nền sản xuất hàng hoá XHCN và của nền sản xuất lớn xã hội hoá mà TĐKT ở các nƣớc khác hình thành không vì mục đích này mà chỉ vì mục tiêu lợi nhuận của chính những ngƣời sở hữu tập đoàn. Mô hình nền kinh tế Trung Quốc và vai trò của TĐKT Nhà nƣớc đối với sự phát triển kinh tế Trung Quốc. Hội nghị Trung ƣơng lần thứ 3 khoá XI Đảng cộng sản Trung Quốc họp tháng 12 - 1978 đã vạch ra chiến lƣợc cải cách và mở cửa mang tính quốc sách. Trung Quốc thực sự bƣớc vào con đƣờng xây dựng và phát triển ổn định, tiến tới hiện đại hoá, thực hiện dân giàu nƣớc mạnh, đạt đƣợc nhiều thành tựu huy hoàng và để lại nhiều bài học sâu sắc cho các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi.
Điểm nổi bật về cơ bản là Trung Quốc đã đạt đƣợc mục 13 tiêu đề ra: Trong 10 năm từ 1981 - 1990 tổng sản phẩm xã hội tăng gấp đôi; 10 năm tiếp theo 1991 - 2000 thì GDP cũng tăng gấp đôi. Năm 2005, GDP của Trung Quốc đạt 1.689,5 tỷ USD, ƣớc tính đến cuối năm 2020, GDP của Trung Quốc sẽ đạt 4. Đến năm 2005, GDP bình quân đầu ngƣời của Trung Quốc đã đạt mức 1.774 USD/1năm (quy đổi là khoảng 19.