Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Nghiên cứu về cây Keo 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới Kết quả trồng rừng làm nguyên liệu công nghiệp đã đạt năng suất cao ở một số nước: Trồng rừng thành công ở Brazil là một ví dụ rất đáng khích lệ. Năm 1991, Campinhos báo cáo kết quả 30 năm năng suất rừng trồng ở Brazil.
Có thể thấy do nhờ chọn giống, nhân giống hom và thâm canh mà năng suất rừng trồng tăng 5 % mỗi năm qua một chu kỳ dài 30 năm như: 1960 - 1965, hạt giống chất lượng di truyền thấp, năng suất 13m3/ha/năm. 1966 - 1970, hạt giống chất lượng di truyền thấp, có sử dụng bón phân, năng suất đạt 17m3/ha/năm. 1971 - 1975, hạt thuần khiết di truyền (chưa cải thiện), bón phân, năng suất đạt 22m3/ha/năm. 1976 - 1980, hạt từ rừng giống được chọn lọc, có bón phân, năng suất 35m3/ha/năm.
1981 - 1985, hạt được cải thiện, nhân giống bằng hom, bón phân, năng suất đạt 45 m3/ha/năm. 1986 - 1990, tiếp tục chọn lọc, nhân giống bằng hom, bón phân năng suất 60 m3/ha/năm. Ở một số lô thí nghiệm 6 - 8 tuổi, rừng trồng đã cho tăng trưởng 70 - 90 m3 /ha/năm. Trồng rừng ở Nam Phi: Quaile (1989) báo cáo kết quả rừng trồng bằng cây con từ hạt đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 21,9m3/ha/năm, trong khi cây vô tính trồng thương phẩm đạt trên 30m3/ha/năm.
Tác giả cho rằng, trong giai đoạn đầu, rừng trồng từ hạt đôi khi cao hơn rừng trồng từ cây vô tính 5 nên việc sử dụng số liệu chiều cao trong hai năm đầu có thể dẫn đến những kết luận sai lầm. Cây nhân bản từ vật liệu nhân giống chọn lọc cho năng suất cao hơn và đồng đều hơn so với cây con từ hạt. Kết luận trên của Quaile là đòn bẩy khuyến khích công tác trồng rừng vô tính phục vụ nguyên liệu công nghiệp ở Nam Phi. Vào những năm 1980, loài Keo được khảo nghiệm ở nhiều nước vì có khả năng tốt, đặc biệt là khả năng cải tạo đất, chống xói mòn và cho năng suất cao.
Khảo nghiệm ở Philippines với 7 loài cho thấy Keo tai tượng có chiều cao cao thứ ba ở cả hai điểm khảo nghiệm (HaVmoller, 1989). Sinh trưởng chiều cao các loài Keo 18 tháng tuổi Loài Mindoro (m) Mindanao (m) A.polystachya 2,6 3,1 Vào năm 1986, tại đảo Hải nam của Trung quốc, người ta đã khảo nghiệm với 20 xuất xứ của 8 loài Keo khác nhau đã được thực hiện, ở tuổi thứ 2, thứ tự xếp hạng của các xuất xứ như sau (Minquan, Ziayu and Yutian ,1989) và chỉ ra. Sinh trưởng của 8 loài Keo ở tuổi 2 tại Hải Nam – Trung Quốc Loài Xuất xứ H(m) D (cm ) A.crassicarpa Oriomo RiVer 6,0 7,8 A.crasicarpa Weroi Wimpim 5,7 8,0 A.aulacocarpa Oriomo RiVer 4,9 6,9 A.crasicarpa Shoteel la 4,7 7,4 6 15 xuất xứ còn lại, bao gồm các xuất xứ Keo là tràm, Keo tai tượng, A.confusa, như vậy Keo tai tượng không nằm trong nhóm loài và xuất xứ dẫn đầu, tức là sau hai năm tuổi sinh trưởng D < 7,4 cm , H<4,7 m. Năm 1985, 23 xuất xứ của 12 loài Keo đã được khảo nghiệm tại 6 điểm ở Thái lan (P.
SirilaK 1991) Thứ tự xếp hạng theo chiều cao của 10 xuất xứ dẫn đầu (36 tháng tuổi) tại hai điểm thí nghiệm là: Tại Ratchaouri, Keo tai tượng xuất xứ 13846 xếp thứ chín có chiều cao 7,2 m, loài dẫn đầu là A.craosocarpa xuất xứ 13653 xếp thứ mười với chiều cao 6,8 m. Tại Saitheng, Keo tai tượng không nằm trong mười xuất xứ dẫn đầu, tại đây loài và xuất xứ dẫn đầu vẫn là A.crassicarpa 13683 vời chiều cao 14,8 m, aulacocarpa xếp thứ mười với chiều cao 11,3m. Thời gian gần đây, loài Keo tai tượng ở Inđônêxia đã được giâm hom thành công phục vụ trồng rừng kinh tế. Nghiên cứu lợi ích kinh tế từ rừng trồng Khi nghiên cứu về phương diện kinh tế của rừng trồng cũng được nhiều người quan tâm.
Theo tài liệu lưu trữ trong Tree CD-ROM (AB.international for asia) từ năm 1939 đến năm 1995 có 48 công trình đánh giá hiệu quả kinh tế trong lâm nghiệp, trong đó có 9 công trình đánh giá hiệu quả kinh tế của rừng trồng và chủ yếu tập trung đánh giá hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật lâm sinh. Tình hình nghiên cứu về loài Keo ở Việt Nam a. Những nghiên cứu về trồng rừng nguyên liệu công nghiệp Những năm 1992 - 1995, trong khuôn khổ của chương trình KN03-03 năm 2001, Hoàng Xuân Tý và các cộng sự đã tiến hành đề tài KN03 -13 “Nâng cao công nghệ thâm canh rừng trồng (Keo, Bạch đàn), sử dụng cây họ đậu để cải tạo đất và nâng cao sản lượng rừng ở vùng Đông Nam Bộ”. Nhóm tác giả đã đề ra một tổ hợp phân hữu cơ vi sinh để bón lót hữu hiệu cho bạch đàn ở vùng Sông Bé gồm: 25 gam urê + 50 gam Supe lân + 10 gam KCL + 7 100 đến 200 gam than bùn đã hoạt hoá.
Công thức cho bón thúc là 75 gam urê + 125 gam Supelân. Các tác giả cũng kiến nghị không nên trồng mật độ thưa 1111 cây /ha vì tán quá thưa, tạo điều kiện cho cỏ Mỹ phát triển, không có lợi cho sinh trưởng của cây trồng và tốn công làm cỏ. Với hai loài Keo tai tượng và Keo lá tràm, nhóm tác giả cũng đưa ra kết luận, công thức bón phân tốt nhất cho bón lót là 100 gam NPK + 160 gam than bùn hoặc 100gam NPK + 100 gam than bùn + Bo + Zn ở mật độ 1666 cây/ha, cả hai loài Keo cho năng suất cao nhất sau 40 tháng. Tác giả đã dựa vào độ dốc, thực bì đặc trưng và độ sâu tầng đất để phân dạng lập địa trồng rừng Keo tai tượng ở vùng trung tâm thành 5 dạng, đánh giá sinh trưởng của Keo tai tượng, 8 tuổi, mật độ từ 930 - 1100 cây /ha trên các dạng lập địa như sau: Dạng lập địa 1 : sinh trưởng đạt 25,7 m3/ha/năm.
Dạng lập địa 2 : sinh trưởng 21,1 m3/ha/năm. Dạng lập địa 3 : sinh trưởng 15,1 m3/ha/năm. Dạng lập địa 4 : sinh trưởng 18,7 m3/ha/năm. Dạng lập địa 5 : sinh trưởng 5,7 m3/ha/năm.
Trong khi đó ở Đông Nam Bộ, điều tra năng suất rừng trồng Keo tai tượng cũng nhận thấy, độ dầy tầng đất và loại đất có ảnh hưởng lớn tới năng suất rừng. Ở Bầu Bàng trên đất xám, tầng đất dày năng suất rừng 8 tuổi, mật độ 1600 cây/ha, đạt 16-22 m3/ha/năm, còn ở Sông Mây, đất mỏng lớp hơn, trên phiến sét năng suất đạt 15-19 m3/ha/năm, ở Minh Đức (Bình Dương) trên đất xám dày, năng suất rừng 6 tuổi đạt khá cao, từ 25-29 m3/ha/năm. Ở Mã Đà, thực hiện cày toàn diện, có bón phân, năng suất rừng Keo tai tượng đạt 37,3m3/ha/năm, so với đối chứng không bón phân là 33 m3. Keo lá tràm các trị số tương ứng là 34,4 so với 20,2 m3/ha/năm.
Trong nghiên cứu của Đoàn Hải Nam (2006) khi đánh giá về trồng rừng thâm canh tại một số tỉnh Thái Nguyên, Quảng Trị, Gia lai, Bình Dương đã 8 chỉ ra chi phí chung cho 1 ha trồng rừng thâm canh Keo lai cao gấp đôi so với đầu tư trồng theo chương trình trồng rừng sản suất theo Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29 tháng 7 năm 1998 về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện Dự án 5 triệu ha rừng và gấp 1,5 lần so với phương thức trồng rừng bán thâm canh hoặc quảng canh. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cơ bản trong chương trình trồng rừng ở đây chưa được giải quyết, như: Sử dụng giống xô bồ, không rõ nguồn gốc hoặc vẫn gieo ươm và trồng rừng bằng hạt, khi cây đó Bộ NN&PTNT quy định trồng bằng cây hom, cây mô mới có hiệu quả. Hệ thống các biện pháp quản lý, bảo vệ chưa được áp dụng đồng bộ. Tỷ lệ đầu tư trồng rừng 1 ha còn thấp, nên năng suất, chất lượng, sản lượng rừng rất thấp.
Vì vậy cần phải có những giải pháp khắc phục những tồn tại trên Với Keo tai tượng và Keo lai, đạt năng suất 25 đến 30 m3/ha/năm, sau 7-8 năm kinh doanh với lãi suất vay 7% thì tỷ suất lãi nội bộ IRR có thể đạt 18-20% nghĩa là trồng rừng có lãi. Nếu trữ lượng đạt 70 m3/ha sau 8 năm, năng suất chỉ đạt gần 9 m3/ha/năm thì với lãi suất 7%/năm ,người trồng rừng sẽ không có lãi, tỷ suất lãi nội tại IRR chỉ đạt 7,68%. Theo tính toán năng suất phải đạt 12 m3/ha/Năm thì lãi nội tại IRR có thể đạt 10,2 %, nghĩa là trồng rừng mới có lãi. Đây là cơ sở quan trọng trong kinh doanh rừng trồng công nghiệp, cần thiết phải đạt năng suất tối thiểu mới có thể tạo được lợi ích từ trồng rừng khi vay vốn ngân hàng 7%/ năm để đầu tư.
Nghiên cứu về Keo tai tượng Nghiên cứu giống Keo tai tượng được bắt đầu vào năm 1980, Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (1991), một số xuất xứ của 4 loài Keo đã được đưa vào thử nghiệm ở nước ta cho thấy, tiềm năng sinh trưởng đáng khích lệ, ở hai địa điểm Ba Vì (Hà Nội) và Hoá Thượng (Thái Nguyên), Keo tai tượng sinh trưởng khá nhất cả về chiều cao và đường kính. Loài H(m) D (cm) H/năm D/năm Số thân/cây. Sinh trưởng của 4 loài Keo ở các Ba Vì và Hoá Thượng Số Loài H (m) D (cm) H/năm D/năm thân/cây 1. Hoá thượng 1984 A.aulacocarpa 6,9 8,0 1,2 1,3 4,1 Cuối những năm 1980, Keo tai tượng đã trở thành giống Keo được ưa chuộng nhất ở nước ta, vì bên cạnh sinh trưởng nhanh nó còn khả năng duy trì độ phì của đất, chống xói mòn.
Nhìn chung ở miền Nam, Keo tai tượng lớn nhanh hơn ở miền Bắc, cụ thể là ở Bình Sơn (Đồng Nai) loài này đạt chiều cao bình quân 2,8 m/năm và đường kính bình quân đạt 4,5 cm/năm, ở Tân Tạo - Thành Phố Hồ Chí Minh hai chỉ tiêu này là 2,6 m/năm và 3,4 cm /năm, trong khi đó ở Ba Vì - Hà Nội và Vĩnh Phú, hai chỉ tiêu này chỉ là 1,9 m/năm và 2,4 - 2,6 cm/năm. Một số nguồn gốc A.mangium đã được thử nghiệm ở một số nơi. Rừng thử nghiệm tuy còn non trẻ nhưng đã đạt được những kết quả bước đầu: Tại Bàu Bàng, nơi nước đọng vào mùa mưa, hai nguồn phát triển nhanh là Kennedy và Kuranda, còn ở La Ngà, đất đai và thoát nước tốt vào mùa mưa, Nguồn gốc Kuranda, Bronte và Hawkins phát triển tốt nhất. Cây keo tai tượng ở Bàu Bàng chỉ đạt tốc độ sinh trưởng gần 2m/năm (nguồn gốc tốt nhất), trong khi ở La Ngà nguồn gốc tốt nhất đạt độ cao 3,3 m/năm.