Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Cần Thơ giữ vai trò trung tâm kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long với quy mô kinh tế năm 2021 đạt 94.257 tỷ đồng và GRDP bình quân đạt 75,56 triệu đồng mỗi người. Trong lĩnh vực nông nghiệp, địa phương sở hữu 149.052 ha diện tích lúa cùng 11.280 ha rau màu các loại. Nhằm gia tăng sức cạnh tranh cho nông sản đặc thù, tính đến ngày 30 tháng 6 năm 2022, thành phố đã thực hiện đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp cho 36 nhãn hiệu tập thể, trong đó 35 nhãn hiệu đã được cấp văn bằng bảo hộ chính thức.

Tuy nhiên, công tác quản lý tài sản trí tuệ tại địa phương bộc lộ nhiều hạn chế lớn. Phần lớn hoạt động xác lập quyền vẫn mang nặng tính hình thức và phong trào, dẫn đến tình trạng 10 nhãn hiệu hoạt động kém hiệu quả, 10 nhãn hiệu không được đưa vào sử dụng thực tế và 4 nhãn hiệu bị hết hiệu lực bảo hộ mà không được gia hạn. Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ việc các chủ sở hữu thiếu một mô hình quản lý đồng bộ, khoa học và cơ chế vận hành chuyên nghiệp để khai thác giá trị thương mại sau bảo hộ.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là xây dựng hệ thống giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý, tổ chức bộ máy, chuẩn hóa hệ thống văn bản pháp lý và thiết lập phương tiện nhận diện thương hiệu nhằm khai thác tối đa giá trị kinh tế của nhãn hiệu tập thể. Nghiên cứu giới hạn phạm vi không gian tại thành phố Cần Thơ trong khung thời gian 15 năm từ tháng 7 năm 2006 đến tháng 12 năm 2021. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn giúp nâng cao năng lực cạnh tranh cho 118 hợp tác xã và hơn 85.827 cơ sở kinh tế cá thể trên địa bàn, kỳ vọng tạo bước đệm gia tăng giá trị thương phẩm từ 15% đến 25% cho các nông sản chủ lực.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng thuyết quản trị hiện đại của Peter Drucker với quan điểm cốt lõi khẳng định nền tảng của chính sách quản lý không đơn thuần dựa vào công nghệ mà phải bắt nguồn từ giá trị và quyết định của khách hàng. Bên cạnh đó, tác giả vận dụng lý thuyết quản trị chuỗi giá trị và lý thuyết quản trị tài sản trí tuệ trong nông nghiệp nhằm định vị vai trò của nhãn hiệu tập thể như một công cụ tiếp thị liên kết cộng đồng.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 20 và Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cùng Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN, khung lý thuyết của luận văn tập trung làm rõ bốn khái niệm cốt lõi: Nhãn hiệu tập thể là dấu hiệu phân biệt hàng hóa dịch vụ của các thành viên thuộc tổ chức sở hữu; Mô hình quản lý nhãn hiệu tập thể là cấu trúc tổ chức và quy chế vận hành được chuẩn hóa; Tài sản trí tuệ là giá trị vô hình tạo lợi thế cạnh tranh; và Hệ thống kiểm soát chất lượng là quy trình kỹ thuật bắt buộc để bảo chứng nguồn gốc địa lý. Thống kê toàn quốc của Cục Sở hữu trí tuệ cho thấy 40% chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể là hợp tác xã, 34% là tổ chức chính trị - xã hội như Hội Nông dân và 16% thuộc về các Hội nghề nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo giai đoạn 2006-2021 của Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Cần Thơ, kết hợp dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra thực tế. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 35 chủ sở hữu đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tập thể, khảo sát chuyên sâu tại 32 nhãn hiệu tập thể, cùng 2 đơn vị chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ là Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Cần Thơ và Viện Khoa học và Công nghệ Mekong Cần Thơ. Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu đối với 2 chủ sở hữu mô hình điểm gồm Hợp tác xã Nông nghiệp sạch Thạnh Đạt (quy mô 157 thành viên trên diện tích 360 ha) và Hội Nông dân xã Tân Thới quản lý vùng trồng sầu riêng Phong Điền.

Phương pháp chọn mẫu được áp dụng là phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp điều tra toàn bộ các chủ thể đã được cấp văn bằng bảo hộ. Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ tính chất đặc thù của nhãn hiệu tập thể tại địa phương, đòi hỏi phải đánh giá toàn diện bức tranh tổng thể đồng thời phân tích sâu các nhân tố điển hình. Nghiên cứu sử dụng công cụ phân tích ma trận SWOT để làm rõ điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của các mô hình quản lý, kết hợp phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu pháp lý và phỏng vấn chuyên gia quản lý sở hữu trí tuệ trong thời gian 15 năm thực thi chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng đăng ký nhưng tỷ lệ duy trì vận hành thực chất lại rất thấp. Trong giai đoạn 2004-2010 thành phố chỉ có 4 nhãn hiệu tập thể, giai đoạn 2011-2015 có 9 nhãn hiệu, và giai đoạn 2016-2020 tăng vọt lên 22 nhãn hiệu (tăng gấp 2,4 lần so với giai đoạn trước và gấp 5,5 lần so với giai đoạn 2004-2010). Tuy nhiên, chỉ có 2 trong số 34 nhãn hiệu được khảo sát (tương đương 5,88%) thành lập được bộ phận quản lý chuyên trách và xây dựng hệ thống nhận diện hoàn chỉnh là Gạo sạch Thạnh Đạt và Sầu riêng Tân Thới nhờ hỗ trợ 100% kinh phí từ ngân sách nhà nước.

Thứ hai, thực trạng khai thác thương mại của các nhãn hiệu tập thể sau cấp văn bằng bộc lộ sự phân hóa nghiêm trọng:

  • Nhóm khai thác hiệu quả thực tế chiếm tỷ lệ khiêm tốn với 6 nhãn hiệu (chiếm 17,65%), bao gồm Thủ công mỹ nghệ Kim Hưng, Xoài Lộc Hưng, Nông nghiệp sinh học Hữu Thiên, Nhãn Thanh Hữu Tâm, Mãng Cầu Thới Hưng và Đậu nành rau Thân Thiện.
  • Nhóm hoạt động hình thức, kém hiệu quả chiếm tỷ trọng lớn với 10 nhãn hiệu (chiếm 29,41%), điển hình như Vú sữa Thới An Đông, Cam xoàn Thới An, Mít Ba Láng và Làng nghề Hoa kiểng Phó Thọ - Bà Bộ.
  • Nhóm hoàn toàn không sử dụng tem nhãn trong lưu thông chiếm 10 nhãn hiệu (chiếm 29,41%), như Dâu Hạ Châu Phong Điền, Sữa bò Long Hòa, Chanh không hạt Trường Long.
  • Nhóm đã hết hiệu lực pháp lý do không gia hạn chiếm 4 nhãn hiệu (chiếm 11,76%), bao gồm Cam Phong Điền, Rượu TD Phong Điền, Giống nông nghiệp Thốt Nốt và Nấm bào ngư Thới An Đông.

Thứ ba, cơ cấu sản phẩm bảo hộ tập trung tới 80% trong lĩnh vực trồng trọt và tiểu thủ công nghiệp nông thôn, trong đó cây ăn trái chiếm 55% và rau an toàn chiếm 11%. Về chủ thể pháp lý, hợp tác xã sở hữu 20 nhãn hiệu và Hội Nông dân các cấp nắm giữ 13 nhãn hiệu.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên phản ánh căn bệnh phong trào khi chủ sở hữu đăng ký chủ yếu để tận dụng kinh phí tài trợ theo Chương trình phát triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2016-2020 của Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ mà chưa hiểu đúng bản chất kinh tế của quyền sở hữu công nghiệp. Khi kết thúc hỗ trợ tài chính, các chủ sở hữu không thể tự duy trì bộ máy giám sát chất lượng. Các tiêu chí phẩm cấp nông sản vẫn chỉ đánh giá qua cảm quan màu sắc, hình thái mà thiếu chỉ số định lượng kỹ thuật, khiến sản phẩm của các xã viên không đồng nhất, khó tạo dựng niềm tin nơi người tiêu dùng. Thói quen bán nông sản xô qua thương lái tại các chợ đầu mối làm triệt tiêu động lực gắn tem truy xuất nguồn gốc.

So sánh với các địa phương khác, mô hình Táo Ninh Thuận đã phát triển thành công mạng lưới hơn 50 cơ sở thu mua tiêu thụ toàn quốc và xuất khẩu, duy trì mức giá thu mua ổn định khoảng 6.000 đồng/kg nhờ hệ thống kiểm soát chất lượng đồng bộ. Tương tự, nhãn hiệu Xoài cát Hậu Giang và Chuối khô Trần Hợi tại Cà Mau đã số hóa quảng bá trên website và các kênh truyền thông đa phương tiện, giúp gia tăng giá trị sản phẩm rõ rệt. Các dữ liệu khảo sát tại Cần Thơ có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu 4 nhóm trạng thái vận hành của 34 nhãn hiệu và bảng ma trận SWOT chi tiết cho từng đơn vị cơ sở, qua đó cung cấp bức tranh đối chiếu trực quan về hiệu quả quản trị tài sản trí tuệ giữa các quận huyện.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhãn hiệu tập thể tại các hợp tác xã và hội nghề nghiệp. Cần thành lập Hội đồng quản trị hoặc Ban Chấp hành chịu trách nhiệm điều hành chung, thiết lập Ban Kiểm soát nội bộ chuyên trách kiểm tra việc sử dụng tem nhãn, cùng các tổ chuyên môn về kỹ thuật và phát triển thị trường. Mục tiêu đặt ra là 100% các chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể chủ lực kiện toàn tổ chức trong giai đoạn 2022-2025 dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Liên minh Hợp tác xã và Ủy ban nhân dân các quận, huyện.

Thứ hai, chuẩn hóa hệ thống văn bản quản lý và quy chuẩn kỹ thuật chất lượng. Cần xây dựng và ban hành đồng bộ: Quy chế cấp và thu hồi quyền sử dụng nhãn hiệu tập thể, Quy chế quản lý tài chính - thu phí sử dụng tem nhãn, Quy trình sản xuất an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP hoặc GlobalGAP, và Sổ tay hướng dẫn truy xuất nguồn gốc. Mục tiêu đạt 100% thành viên cam kết thực hiện đúng quy trình kỹ thuật trước năm 2024, do Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cần Thơ chủ trì thẩm định.

Thứ ba, thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu và mở rộng kênh phân phối thương phẩm. Cần đầu tư đồng bộ logo, bao bì đóng gói chuẩn hóa, tem chống giả tích hợp mã QR Code, đồng thời xây dựng cổng thông tin điện tử và xúc tiến đưa sản phẩm vào chuỗi siêu thị, sàn thương mại điện tử. Chỉ tiêu hướng tới là nâng cao giá trị gia tăng của nông sản thêm 15% đến 25% trong giai đoạn 2023-2026, do Sở Công Thương phối hợp với Hội Nông dân thành phố thực hiện.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế phối hợp quản lý nhà nước và hỗ trợ duy trì văn bằng bảo hộ. Cần triển khai hiệu quả Kế hoạch số 151/KH-UBND và Quyết định số 3032/QĐ-UBND về phát triển tài sản trí tuệ đến năm 2030, thiết lập cơ chế giám sát bên ngoài và hỗ trợ kinh phí kiểm định định kỳ, loại bỏ hoàn toàn tình trạng 11,76% nhãn hiệu bị hủy bỏ hiệu lực do quên thủ tục gia hạn. Trách nhiệm thực hiện thuộc về Sở Khoa học và Công nghệ cùng Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ định kỳ hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước bao gồm Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương và Ủy ban nhân dân các cấp. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để hoạch định chính sách hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ, lồng ghép vào Chương trình Mỗi xã một sản phẩm theo Quyết định số 490/QĐ-TTg và Chương trình phát triển tài sản trí tuệ theo Quyết định số 2205/QĐ-TTg.

Nhóm các hợp tác xã, tổ hợp tác và hội nông dân tại địa phương. Ban lãnh đạo các đơn vị có thể áp dụng trực tiếp mô hình tổ chức bộ máy và quy chế kiểm soát chất lượng từ bài học thực tế của Hợp tác xã Nông nghiệp sạch Thạnh Đạt (360 ha canh tác) để nâng cao hiệu quả quản trị nội bộ.

Nhóm các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Luật Kinh tế và Sở hữu trí tuệ. Tài liệu mang lại nguồn dữ liệu khảo sát thực chứng phong phú từ 35 chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể tại trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long.

Nhóm doanh nghiệp phân phối và doanh nghiệp chế biến nông sản. Các đơn vị kinh doanh có thể dựa vào các phân tích chuỗi cung ứng trong luận văn để thiết lập liên kết tiêu thụ bền vững với các vùng nguyên liệu đặc sản đã được cấp văn bằng chứng nhận nguồn gốc.

Câu hỏi thường gặp

Nhãn hiệu tập thể khác biệt như thế nào so với nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu thông thường?

Nhãn hiệu tập thể dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên thuộc một tổ chức tập thể với chủ thể khác bên ngoài (như Hợp tác xã Gạo sạch Thạnh Đạt). Trong khi đó, nhãn hiệu chứng nhận do tổ chức không trực tiếp sản xuất sở hữu nhằm chứng nhận đặc tính chất lượng, nguồn gốc xuất xứ (như Gạo Cần Thơ do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm chủ sở hữu).

Tại sao có tới 10 trên 34 nhãn hiệu tập thể tại Cần Thơ không được đưa vào sử dụng thực tế?

Tình trạng này xảy ra do quy mô vùng trồng bị thu hẹp hoặc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, cùng thói quen lâu đời của nông dân là bán toàn bộ nông sản xô qua thương lái đến chợ đầu mối. Khi thương lái không yêu cầu phân loại phẩm cấp và bao bì, các chủ sở hữu không có động lực đóng gói hay gắn tem nhãn tập thể.

Mô hình quản lý tại Hợp tác xã Nông nghiệp sạch Thạnh Đạt có điểm gì nổi bật?

Đơn vị đã xây dựng thành công quy trình sản xuất sạch cho 157 thành viên trên quy mô 360 ha với giống lúa chủ lực Ngọc Đỏ Hương Dứa. Hợp tác xã thành lập riêng Ban Kiểm soát nội bộ để giám sát việc dán tem nhãn, chuẩn hóa bao bì và liên kết phân phối trực tiếp ra thị trường tiêu thụ.

Cơ quan quản lý nhà nước đóng vai trò gì trong việc kiểm soát chất lượng nhãn hiệu tập thể?

Cơ quan nhà nước như Sở Khoa học và Công nghệ đóng vai trò kiểm soát bên ngoài, thực hiện thanh tra, hậu kiểm chất lượng sản phẩm lưu thông trên thị trường theo quy chuẩn kỹ thuật. Đồng thời, cơ quan đóng vai trò trọng tài hòa giải các mâu thuẫn về quyền lợi và bảo vệ thương hiệu trước hành vi giả mạo.

Tổ chức nào có tư cách pháp lý đứng tên đăng ký nhãn hiệu tập thể theo luật định?

Căn cứ khoản 3 Điều 87 Luật Sở hữu trí tuệ và Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN, chỉ các tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có từ 2 thành viên trở lên hoạt động sản xuất kinh doanh độc lập mới có quyền nộp đơn, bao gồm Hợp tác xã, Liên minh hợp tác xã, Hội và Hiệp hội ngành nghề.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận toàn diện về quản lý nhãn hiệu tập thể gắn với thuyết quản trị hiện đại và chuỗi giá trị nông sản.
  • Đánh giá thực chứng 34 nhãn hiệu tập thể tại Cần Thơ, chỉ ra tỷ lệ phân hóa gồm 5,88% mô hình điểm, 17,65% khai thác tốt, 29,41% kém hiệu quả, 29,41% không sử dụng và 11,76% hết hiệu lực.
  • Phân tích sâu sắc bài học thành công từ mô hình Hợp tác xã Nông nghiệp sạch Thạnh Đạt (quy mô 360 ha) và Hội Nông dân xã Tân Thới.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá về cơ cấu tổ chức, quy chuẩn kỹ thuật văn bản, nhận diện thương hiệu và cơ chế chính sách tài chính.
  • Định hình lộ trình hành động giai đoạn 2022-2030 bám sát Quyết định số 3032/QĐ-UBND và Kế hoạch số 151/KH-UBND của thành phố Cần Thơ.

Các chủ sở hữu nhãn hiệu tập thể và cơ quan quản lý nhà nước cần khẩn trương áp dụng khung giải pháp quản trị đồng bộ để nông sản Cần Thơ khẳng định vị thế vững chắc trên thị trường trong nước và quốc tế.