Chương 1. Cơ sở lý luận về mô hình quan lý nhãn hiệu tập thé; - Chương 2. Thực trạng quản lý và khai thác giá trị nhãn hiệu tập thé trên địa bàn thành phố Cần Thơ; - Chương 3. Mục tiêu, giải pháp xây dựng mô hình quản lý nhằm khai thác giá trị của nhãn hiệu tập thé trên địa bàn thành phố Cần Thơ.
CƠ SỞ LY LUẬN VE MO HÌNH QUAN LÝ NHAN HIỆU TAP THE 1. M6 hinh quan ly 1. Khai niệm mô hình Khái niệm mô hình được định nghĩa theo Từ điển Bách khoa Việt Nam có hai nghĩa [2]: - Theo nghĩa rộng, mô hình là hình ảnh (hình tượng, sơ đồ, mô tả.) ước lệ về các sự vật hoặc hiện tượng. Khái niệm mô hình được sử dụng rộng rãi trong triết học, tin học, kinh tế học, toán học, ngôn ngữ học và các khoa học khác.
Trong luận văn này, thuật ngữ mô hình được hiểu là các kiểu dạng, khuôn, tiêu chuẩn, khi được lựa chọn sẽ trở thành mẫu để tuân thủ, thực hiện theo. Khải niệm mô hình quan ly Quản lý là một hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, đã xuất hiện rất sớm, như một hoạt động tất yếu cần có trong hoạt động chung của con người. Hoạt động quản lý diễn ra ở tất cả các lĩnh vực xã hội và ngày càng đa dạng và phức tap, phát triển phù hợp với sự phát triển chung của xã hội, cũng như trong từng lĩnh vực khác nhau. Bản thân khái niệm “quản lý” thường có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng về cơ bản có những điểm giống nhau.
Nhiệm vụ của quản ly là làm sao cho con người có thé cing nhau hoàn thành nhiệm vụ.Đó cũng chính là mục đích của tô chức. Về cơ bản, chỉ có những tô chức của con người mới có những hoạt động quản lý theo đúng nghĩa của nó. Ngay cả khi công nghệ phát triển và quá trình tự động hoá diễn ra, con người sử dụng các công nghệ dé quản lý tốt hơn, và bao giờ cũng có con người, do con người và vì chính con người. Đó là điểm căn bản và mau chốt của quan lý.Drucker nhấn mạnh rằng: “quản lý ngày càng phải dựa trên giả định cho rằng không phải công nghệ.
là nền tảng cho chính sách quản lý. Những điều này đều là những giới hạn. Nền tảng chính sách quản lý phải là những giá trị của khách hàng và những quyết định của khách hàng.[3] Mô hình quản lý là kiểu dạng, cách tô chức quản lý hoạt động được cho là hợp lý và được lựa chọn thành mẫu dé thực hiện theo nhằm thực hiện một cách hiệu quả nhất các mục tiêu của tổ chức trong điều kiện bién động của môi trường. Cơ sở lý luận về nhãn hiệu và nhãn hiệu tập thể 1.
Khai niệm nhãn hiệu Qua những nghiên cứu về khảo cô học, người ta đã xác định được ngày từ 3000 năm trước Công nguyên, những người thợ thủ công Ấn Độ đã chạm khắc chữ ký của họ trên các tác phẩm tạo do mình tạo ra với mục đích để phân biệt hàng hóa của họ với những hàng hóa của thương nhân khác. Pháp luật hiện hành của Nhật Bản về nhãn hiệu là Đạo luật về Nhãn hiệu ban hành năm 1959 và được sửa đổi lần gần đây nhất năm 2015. Pháp luật Nhật Bản về nhãn hiệu có thiên hướng nghiêng về phía truyền thống. Khác với quy định mở của pháp luật Hoa Kỳ, pháp luật Nhật Bản quy định nhãn hiệu là các chữ cái, con số, dấu hiệu, hình họa ba chiều hay sự kết hợp giữa chúng có thể có màu sắc, thỏa mãn một trong hai điều kiện sau: thứ nhất, đối với nhãn hiệu gắn lên hàng hóa, nó phải được sử dụng đối với hàng hóa mà một người sản xuất, xác nhận hay đem vào lưu thông; hoặc thứ hai, đối với nhãn hiệu dịch vụ, nó được sử dụng đối với dịch vụ ma một người cung cấp hay xác nhận trong quá trình thương mại.
Và theo quy định này, đến nay pháp luật Nhật Bản cũng như Cơ quan Sáng chế Nhật Bản vẫn chưa công nhận cho đăng ký nhãn hiệu âm thanh và mùi. Hiểu theo một cách chung nhất, nhãn hiệu là dấu hiệu dé phân biệt hàng hóa, dịch vụ do một tô chức, cá nhân này với hàng hóa, dịch vụ của tô chức, cá nhân khác. Nhãn hiệu thường là các dấu hiệu như một từ ngữ (hoặc một cụm từ), hình ảnh, biểu tượng, logo hoặc sự kết hợp các yếu tố này trên hàng hóa, dich vụ dé giúp người tiêu dùng có thê phân biệt được các sản phẩm, dịch vụ của nhiều tổ chức, cá nhân trên thị trường. Trong thực tiễn bảo hộ nhãn hiệu của các nước và quốc tế, nhãn hiệu thường được chia thành các loại khác nhau dựa trên các căn cứ phân loại khác nhau và tùy thuộc vào đặc điểm của từng loại.
Những loại nhãn hiệu phổ biến nhất được quy định trong pháp luật của Hoa Kỳ, Nhật Bản và Việt Nam là nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu liên kết và nhãn hiệu nỗi tiếng.[22] Kha năng phân biệt giữa các hàng hóa dich vụ được thé hiện khi người tiêu dùng hay nhà quản lý sử dụng sản phẩm mang nhãn hiệu đó sẽ nhận biết được sản phẩm đó khác sản phẩm khác. - Ngoài ra nhãn hiệu còn có đặc điểm mang lại giá trị kinh tế, khi thông qua việc sử dụng nhãn hiệu để kinh doanh hàng hóa trên thị trường sẽ nâng tầm giá trị hàng hóa, dịch vụ thu lại nguồn lợi kinh tế cao. Nhãn hiệu là một dấu hiệu gan voi hang hoa, dich vu dung trong hoat động thương mai của các nhà san xuất, kinh doanh. Việc bảo hộ nhãn hiệu không chỉ bảo hộ lợi ích chính đáng của chủ sở hữu, mà còn bảo hộ người tiêu dùng dé tránh khỏi bị nhầm lẫn giữa hàng giả và hàng thật khi họ quyết định mua sản phâm nào đó.
Nhãn hiệu có những chức năng cơ bản như: - Chức năng chỉ dẫn nguồn gốc: Nhãn hiệu được xem là biểu tượng thương mại của doanh nghiệp, xem như một phương tiện chỉ dẫn nguồn gốc thương mại hiệu quả và nhanh chóng. Thông qua nhãn hiệu, người tiêu dùng sẽ nhận biết ra doanh nghiệp nào sản xuất ra hàng hóa đó, có thể biết được quá trình sản xuất để tạo nên sản phẩm, để qua đó người tiêu dùng có thê đánh giá được chất lượng của hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp. Ngoài ra chức năng này còn góp phan bảo vệ người tiêu dùng tránh khỏi sự nhầm lẫn khi quyết định mua hàng hóa; đối với một nhãn hiệu đã được khăng định, trở nên có uy tín, người tiêu dùng có thê chọn lựa sản phâm mang nhãn hiệu đó, mà không cần quan tâm đến thông tin khác tạo nên sản phẩm, vì họ hoàn toàn tin tưởng về chất lượng sản pham do nhà sản xuất, kinh doanh cung cấp. Một khi sản phẩm được quảng cáo thành công thì sẽ làm tăng sức cạnh tranh trên thi trường đối với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu.
- Chức năng hỗ trợ tạo ra sản phẩm mới: Khi một nhãn hiệu tạo nên uy tín, sự tin tưởng về chất lượng đối với người tiêu dùng, thì nhãn hiệu cũng tạo ra một động lực khuyến khích các doanh nghiệp duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm của mình nhằm đảm bảo rang các sản pham mang nhãn hiệu đó tạo được một danh tiếng tốt trên thị trường. Với uy tín sẵn có và kinh nghiệm sản xuất các hàng hóa, dịch vụ trước đó của nhãn hiệu đang được ưa chuộng, các sản phẩm mới sẽ có thể được sự chú ý đối với người tiêu dùng và dễ dàng được người tiêu dùng đón nhận. Có nhiều các dé phân biệt các loại nhãn hiệu có rất nhiều cách. Dựa vào dấu hiệu sử dụng thì có các loại nhãn hiệu: nhãn hiệu chữ, nhãn hiệu hình, nhãn hiệu kết hợp chữ và hình, nhãn hiệu hình khối.
Căn cứ vào các văn bản pháp luật Việt Nam quy định thì có các loại nhãn hiệu: nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu liên kết, nhãn hiệu nồi tiếng, NHTT.[1 I] - Nhãn hiệu chứng nhận được nêu tại Khoản 4 Điều 16 Luật SHTT sửa đổi, bố sung năm 2009: “Là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tô chức, cá nhân đó dé chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toan hoặc các đặc tính khác của hàng hóa dịch vụ mang nhãn hiéu.”[11] Chủ sở hữu được cấp chứng nhận có thể trao quyền sử dụng cho bất kỳ chủ thể sản xuất, kinh doanh nào nếu đáp ứng các tiêu chuan đề ra, với điều kiện chủ sở hữu không tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đó. Ví dụ: Nhãn hiệu chứng nhận Chợ nổi Cái Răng chủ sở hữu là phòng kinh tế quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ hoặc nhãn hiệu chứng nhận Gao Can Thơ chủ sở hữu là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Cần Thơ.[17] - Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm và dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau”.[11] Việc đăng ký nhãn hiệu liên kết nhằm ngăn chặn bên thứ ba đăng ký những nhãn hiệu tương tự, chính điều này đã mang lại nhiều lợi ích cho chủ sở hữu nhãn hiệu. Ví dụ: Nhãn hiệu liên kết: PHÚ NÔNG, PHU NONG, Phú Nông, Phu Nong, PHU-NONG do Cty TNHH Phú Nông dia chỉ ở Thốt Nót, thành phố Cần Thơ làm chủ sở hữu. Một số nhãn hiệu nồi tiếng như: Cocacola, Pepsi.
Khái niệm nhãn hiệu tập thể Cũng giống như nhãn hiệu, ở Việt Nam trước đây NHTT không được quy định trong Bộ luật dân sự 1995 mà được đề cập đến trong Nghị định 63/CP ngày 24 tháng 10 năm 1996 quy định chỉ tiết về SHCN. Sau đó tại khoản 4 Điều 20 Luật SHTT sửa đôi, bố sung năm 2009 có đề cập đến khái niệm NHTT Là nhãn hiệu dùng dé phan biét hang hoa, dich vu của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó.