Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN 1. Nguồn gốc và sự phát triển của khái niệm “nhà nước kiến tạo phát triển” Trong bài viết xác định nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ nhiệm kỳ 2011-2016, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận định: Phải chuyển mạnh từ nhà nước điều hành nền kinh tế sang nhà nước kiến tạo phát triển… Trong nhà nước kiến tạo phát triển, chức năng của nhà nước là xây dựng quy hoạch phát triển theo một chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đúng đắn; tạo môi trường và điều kiện cho các thành phần kinh tế phát huy mọi tiềm năng trong môi trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế; tăng cường giám sát để phát hiện các mất cân đối có thể xảy ra, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn hệ thống [6]. Kể từ đó thuật ngữ “nhà nước kiến tạo phát triển” được sử dụng tương đối phổ biến trong các thông điệp điều hành của Chính phủ Việt Nam và đặc biệt nhận được sự quan tâm của các diễn đàn học thuật. Nếu xét về mặt ngữ pháp đơn thuần thì khái niệm “nhà nước kiến tạo phát triển” không có từ gốc hoàn toàn khớp trong tiếng Anh.
Tuy nhiên, xét về nội hàm, đặc biệt là các vấn đề lý luận về mô hình nhà nước thì khái niệm tương đương chính là “developmental state”. “Developmental state” là thuật ngữ lần đầu tiên được nêu ra bởi Chalmers Johnson trong cuốn “MITI và sự Thần kỳ của Nhật bản: Chính sách tăng trưởng công nghiệp giai đoạn 1925-1975” (MITI and the Japanese 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Miracle: The Growth of Industrial Policy 1925-1975). Trong cuốn sách này, Johnson đã phân tích những yếu tố dẫn đến “sự thần kỳ của Nhật Bản” – mà đặc biệt thể hiện trong quá trình khôi phục, phát triển kinh tế rất thành công của đất nước này từ đống tro tàn sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Ông đã sử dụng thuật ngữ “developmental state” để chỉ mô hình phát triển mà chính quyền Nhật Bản đã áp dụng trong giai đoạn đó (và kể cả trong thời kỳ Minh Trị) [10].
Thuật ngữ này sau đó đã được Amsden (1989), Wade (1990) và Evans (1995) phát triển thêm và áp dụng để phân tích các trường hợp phát triển kinh tế thần kỳ của Đài Loan và Hàn Quốc. Đặc trưng của mô hình này là nhà nước tham gia tích cực vào việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thay vì để thị trường tự vận hành. Trong giai đoạn đầu, vai trò can thiệp của Nhà nước được các lý thuyết gia kinh tế đề cao, bao gồm cả định hướng mục tiêu phát triển như công nghiệp hóa, định hướng xuất khẩu… và kết nối các cơ quan nhà nước lẫn các doanh nghiệp tư nhân để đạt được các mục tiêu đó. Đây được xem là phiên bản mạnh (strong version) của nhà nước kiến tạo phát triển.
Tuy nhiên, kể từ khi Nhật Bản bị rơi vào thập kỷ mất mát từ đầu những năm 1990 và đặc biệt kể từ khi khủng hoảng kinh tế tài chính Châu Á diễn ra vào năm 1997-1998, vai trò can thiệp tích cực của Nhà nước trong mô hình nhà nước kiến tạo phát triển đã được các lý thuyết gia kinh tế giảm nhẹ đi (soft version). Nhà nước cần “hòa mình” (embeddedness) vào xã hội để có thể hiểu được xã hội và nâng cao năng lực của mình để phục vụ xã hội và nền kinh tế. Với sự xuất hiện của xu hướng toàn cầu hóa mạnh mẽ từ đầu thế kỷ XXI, vai trò can thiệp tích cực của nhà nước trong mô hình nhà nước kiến tạo phát triển tiếp tục được giảm nhẹ hơn nữa (softer version), tập trung chủ yếu vào nâng cao năng lực của nhà nước để thúc đẩy (enhance) các hoạt động thị trường thông qua các biện pháp bảo đảm trật tự xã hội, giảm tính 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bất định trong nền kinh tế, giảm bất đối xứng thông tin, giảm chi phí giao dịch… cho thị trường [3]. “Developmental state” sau đó đã trở thành một thuật ngữ phổ biến trong giới nghiên cứu khi phân tích chính sách của các quốc gia trên thế giới trong thời kỳ hiện đại.
Nó cũng được sử dụng nhiều trong các báo cáo, văn kiện của các cơ quan Liên hiệp quốc (đặc biệt là Chương trình phát triển Liên hiệp quốc UNDP) và nhiều tổ chức quốc tế khác. Trong một báo cáo của UNDP năm 2012 có ghi nhận rằng: “nhà nước kiến tạo phát triển, theo nghĩa giản dị, đó là một nhà nước đóng vai trò mạnh mẽ trong nền kinh tế quốc gia với mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế”. Còn trong một báo cáo của Hội đồng kinh tế cho Châu Phi của Liên hợp quốc (UN Economic Commission for Africa – UN ECA) và Liên minh Châu Phi (African Union - AU) khẳng định rằng, nhà nước kiến tạo phát triển là một nhà nước mà “đặt sự phát triển kinh tế là mục tiêu cao nhất trong chính sách của mình và có khả năng thiết kế các công cụ để thúc đẩy mục tiêu đó”. Không chỉ xuất hiện trong các báo cáo, văn kiện của các tổ chức quốc tế, thuật ngữ “nhà nước kiến tạo phát triển” cũng đã thu hút được sự quan tâm của các chuyên gia, học giả.
Theo quan điểm của Rostow, “nhà nước kiến tạo phát triển là một nhà nước có quyền lực và được tổ chức hợp lý để đạt các mục tiêu phát triển của nó”.Schmiz nhận định đây là nhà nước có năng lực thiết kế và thực thi các mục tiêu phát triển của nó theo cách thức áp đặt và chuyên chế nhằm tạo ra sự tăng trưởng kinh tế. Còn Meles Zenawi thì cho rằng, nhà nước kiến tạo phát triển hàm ý “một nhà nước cứng rắn” (hard state) xét về phương diện can thiệp vào hoạt động kinh tế, thể hiện việc nó không chỉ điều hành, hướng dẫn (regulate, guide), mà còn giám sát và kiểm sát (monitor and control) nền kinh tế. Tương tự, Vincent Wei-cheng Wang nhận xét nhà nước kiến tạo phát triển là một nhà nước đặt ưu tiên hàng đầu 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho phát triển kinh tế; để đạt mục tiêu đó, nhà nước tích cực can thiệp vào thị trường, thông qua việc định hướng, đặt ra quy tắc, điều phối, phân bổ nguồn lực và sử dụng những công cụ chính sách đa dạng khác. Mặc dù không có sự đồng nhất trong quan điểm về khái niệm “nhà nước kiến tạo phát triển”, song có thể nhận thấy rằng, các định nghĩa về nhà nước kiến tạo phát triển đều được tiếp cận dưới hai góc độ chính là: (i) ý thức hệ/tư tưởng hướng tới sự phát triển (lý luận về phát triển hay phát triển luận - developmentalism) và (ii) cấu trúc thể chế (institutional arrangement) về mặt chính trị và hành chính để hiện thực hóa các chính sách phát triển của nó.
Theo UNDP đây cũng chính là hai đặc điểm cơ bản của nhà nước kiến tạo phát triển, đó là: (a) dựa trên một tư tưởng về sự phát triển (a developmentalist ideology); và b) dựa trên những sắp xếp thể chế với các nguyên tắc và tiêu chuẩn mà có thể hỗ trợ quá trình phát triển [10]. Ngoài hai góc độ tiếp cận nêu trên, một số công trình nghiên cứu, khi tiếp cận vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường dựa trên khuôn khổ lý thuyết về mô hình nhà nước kiến tạo phát triển đã kết hợp góc nhìn của lý thuyết kinh tế hoặc thể chế mới (new institutional economics - NIE) và lý thuyết phát triển năng lực (capabability approach) của Sen (1991, 2001). Khác với các cách tiếp cận của các nền tảng lý thuyết khác, cách tiếp cận của kinh tế học thể chế mới và phát triển năng lực được xem như là một phiên bản mềm hơn (softer version) về nhà nước kiến tạo phát triển [3]. Đặc điểm của “nhà nước kiến tạo phát triển” Khi đề cập đến những đặc điểm cụ thể của “nhà nước kiến tạo phát triển”, trên cơ sở kinh nghiệm của Nhật Bản, Chalmers Johnson đã chỉ ra 04 yếu tố cơ bản sau đây [23, p.73-89]: Có các quy tắc quản trị ổn định và vững chắc do giới tinh hoa chính 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trị - quan liêu thiết lập nên, tạo ra vị thế tương đối tự chủ của nhà nước trước sức ép chính trị từ xã hội mà có thể gây trở ngại đến việc thực hiện các chính sách kinh tế; Có sự hợp tác chặt chẽ giữa khu vực công và khu vực tư (nhà nước và doanh nghiệp).
Sự hợp tác đó được đảm bảo và giám sát thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách (ví dụ như MITI); Nhà nước đầu tư mạnh vào giáo dục, y tế và thực hiện các chính sách nhằm đảm bảo công bằng xã hội; Có một Chính phủ mạnh, thậm chí là chuyên chế, song nắm rõ và vận dụng tốt các quy luật của kinh tế thị trường. Trên cơ sở kế thừa quan điểm Chalmers Johnson, Adrian Leftwith đã phát triển thêm những đặc trưng của nhà nước kiến tạo phát triển. Theo Adrian Leftwith, nhà nước kiến tạo phát triển có đặc điểm cơ bản sau đây [21]: Có một tầng lớp quan liêu tinh hoa (giới tinh hoa) gần gũi với nhà nước, tạo thành hạt nhân vững chắc và đoàn kết, hỗ trợ cho nhà nước. Các chính sách phát triển của quốc gia chịu ảnh hưởng của tầng lớp quan liêu ưu tú này; Nhà nước có tính tự chủ (độc lập) tương đối trước áp lực của các giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội, và đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích của các nhóm này; Nhà nước điều phối kinh tế thông qua một số thiết chế tổ chức chuyên biệt.
Các thiết chế này có thực quyền và năng lực cao trong việc xây dựng và áp dụng các chính sách phát triển; Xã hội dân sự yếu, chính quyền mạnh và kiểm soát chặt xã hội dân sự ở thời kỳ đầu. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhà nước ít chịu ảnh hưởng bởi các lợi ích kinh tế tư nhân ở thời kỳ đầu. Quyền lực và sự tự chủ của nhà nước được củng cố trước khi giới tư bản trở thành một thế lực có ảnh hưởng; Các quyền dân sự bị hạn chế, đặc biệt là ở thời kỳ đầu. Nhà nước có tính chuyên chế cao song lại có được tính chính danh và sự ủng hộ của người dân nhờ tạo ra sự tăng trưởng kinh tế và phân phối tương đối công bằng những lợi ích từ sự phát triển (về giáo dục, chăm sóc sức khỏe, cơ sở hạ tầng…).