ĐẠI HỌC QUÓC GIA HÀ NỘI TRUONG ĐẠI HỌC KINH TE NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Đề tài: Liên kết kinh tế vùng nhằm phát triển bền vững khu vực Tây Bắc: cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế Mã số: KT.09 Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Anh Thu Đơn vị: Trường Đại học Kinh tế Hà Nội, năm 2016 ĐẠI HỌC QUÓC GIA HÀ NỘI TRUONG ĐẠI HỌC KINH TE NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Đề tài: Liên kết kinh tế vùng nhằm phát triển bền vững khu vực Tây Bắc: cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế Mã số: KT.09 Chú nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Anh Thu Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2016 DANH MỤC CHỮ VIET TAT DANH MỤC CÁC HÌNH LOI NÓI DAU. Tinh cap thiết của đề tài 1.
Tình hình nghiên cứu. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Phương pháp nghiên cứu 1.
Đóng góp của đề tài 1. Kết cầu của đề tài. CƠ SỞ LÝ LUẬN LIEN QUAN DEN LIEN KET VUNG 1. Các lý thuyết về liên kết vùng.
Lý thuyết lợi thế so sánh 1. Lý thuyết lợi thế cạnh tranh 1. Lý thuyết địa kinh tế mới. Khái niệm về liên kết vùng 1.
Các hình thức liên kết vùng. Liên kết giữa các chủ thé vĩ mô 1. Liên kết các chủ thé vi mô. Liên kết mang tính chất lãnh thổ 1.
Nguyên tắc và điều kiện liên kết vùng. Vai trò của liên kết kinh tế vùng. KINH NGHIỆM QUOC TE VE LIÊN KET VÙNG. Kinh nghiệm liên kết kinh tế vùng 2.
Kinh nghiệm liên kết vùng tại Mỹ 2. Kinh nghiệm liên kết vùng của Trung Quốc 2. Kinh nghiệm liên kết vùng của Hàn Quốc 2. Kinh nghiệm liên kết vùng của Thai Lan.
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam CHƯƠNG 3. ĐÁNH GIA THUC TRẠNG LIÊN KET VUNG TÂY BAC 3. Các chủ trương, chính sách liên quan đến liên kết vùng của Việt Nam. Chủ trương, định hướng của Nhà nước về liên kết vùng.
Các chính sách về liên kết vùng. Thực trạng liên kết kinh tế vùng ở Việt Nam 3. Tổng quan các liên kết vùng trong cả nước 3. Các hình thức và đặc thù liên kết vùng ở Việt Nam 3.
Tổng quan về kinh tế vùng Tây Bắc 3. Nông, lâm nghiệp 3. Phát triển chợ biên giới. Thực trạng liên kết vùng Tây Bắc CHƯƠNG 4.
CÁC VẤN ĐÈ CÀN GIẢI QUYÉT ĐÓI VỚI LIÊN KÉT VÙNG TÂY BAC 4. Quan diém, định hướng liên két kinh tê vùng ở Việt Nam. Thành tựu, hạn chế trong liên kết kinh tế vùng Tây Bắc. Các vấn đề đặt ra 4.
Khuyến nghị, đề xuất. lượng, sát thực và hiệu quả. Cần xây dựng hệ thống giám sát đánh giá việc thực hiện những nội dung liên kết vùng trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp địa phuong. Xây dựng thể chế, cơ chế thực hiện liên kết vùng KÉT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC CHU VIET TAT ADB Ngân hang phát triển thé giới CPCC Trung tâm hợp tác hải quan và cảnh sát chung của Pháp ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài GMS Tiểu vùng sông Mekong mở rộng HLKT Hành lang kinh tế IMTC Dự án Khả năng co động và hành lang thương mại quốc tế JWC Ban công tác chung Mỹ - Mexico KCN Khu công nghiệp KH&CN Khoa học và công nghệ KKT Khu kinh tế KTXH Kinh tế xã hội NEG Lý thuyết địa kinh tế mới NGO Tổ chức phi chính phủ ODA 'Viện trợ phát triển chính thức WB Ngân hàng thé giới DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1: Sơ đồ liên kết không gian nội, ngoại vùng và các tiểu vùng khu vực Trung du miền núi Phía Bắc trên cơ sở phát triển các hành lang và tuyến kinh tế, trục kinh tế.
Tính cấp thiết của đề tài Vùng Tây Bắc là vùng miền núi phía Tây của miền Bắc Việt Nam và là địa ban chiến lược đặc biệt quan trọng của đất nước cả về kinh tế và xã hội, quốc phòng, an ninh. Vùng Tây Bắc bao gồm gồm 12 tỉnh miền núi, trung du phía Bắc: Yên Bái, Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Hoà Bình, Lạng Sơn, Cao Bằng và các huyện phía Tây của 2 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An. Đây là vùng có đất đai tương đối rộng, thé nhưỡng phong phú, có tiềm năng lớn dé phát triển nông lâm ngư nghiệp. Đây cũng là vùng có tiềm năng bậc nhất Việt Nam về tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản, có lợi thế để phát triển các ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản, thuỷ điện, sản xuất giấy, sản xuất gỗ và sản xuất xi măng.
Vùng Tây Bắc có chung đường biên giới dai rộng với Lào và Trung Quốc, do đó có tiềm năng để day mạnh thương mại biên giới với hai nước láng giềng này. Du lịch cũng là thế mạnh phát triển của nhiều tỉnh trong vùng với cảnh quan đẹp, văn hoá đa dạng và nhiều đặc sản. Tuy nhiên, Tây Bắc lại là khu vực kinh tế phát triên kém hơn nhiều khu vực khác trong cả nước và thực trạng phát triển kinh tế của vùng vẫn chưa tương xứng với thế mạnh, tiềm năng hiện có. Cơ cấu kinh tế của vùng chư có bước chuyển dịch mang tính đột phá quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững toàn vùng.
Chất lượng nguồn nhân lực của vùng còn thấp, đời sống vật chat và tinh thần của đồng bào vùng cao, vùng dân tộc thiểu số tuy được cải thiện song vẫn còn nhiều khó khăn. Công nghiệp và nông nghiệp đều khó phát triển do các điều kiện địa hình phức tạp, co sở hạ tang còn thấp kém. Nhiều khu kinh tế cửa khẩu đã được thành lập, song những khu kinh tế này vẫn còn tương đối hạn chế về quy mô — chủ yếu vẫn chỉ hoạt động như các khu công nghiệp nhỏ với một số ưu đãi về thương mai mau biên — và cũng dần mất đi tầm quan trọng của mình. Đặc biệt, hoạt động trong các khu công nghiệp chủ yếu là hoạt động khai khoáng phục vụ cho xuất khẩu nguyên liệu thô với phần lớn lượng xuất khâu sang thị trường Trung Quốc.
Các hoạt động sản xuất chế biến sản phẩm, cung cấp dịch vụ với giá trị gia tăng cao hơn hầu như chưa phát triển. Một số thành phố cửa khẩu ở khu vực này phát triển mạnh hơn so với cả khu vực như Lạng Sơn, Lào Cai do một số những thuận lợi về 3 cơ sở hạ tầng đã phát triển từ trước và là trung tâm thương mại của vùng, đặc biệt mậu biên. Theo Bà Victoria Kwakwa, Giám đốc WB tại Việt Nam, dù xuất phát điểm thấp nhưng nếu có hướng đi thích hợp, Tay Bắc vẫn có thé phát triển mạnh mẽ. Chính vì vậy, trong thời gian gần đây, Chính phủ Việt Nam đang hết sức quan tâm đến việc đầu tư, phát triển kinh tế cho các tỉnh khu vực Tây Bắc.
Ban chỉ đạo Tây Bắc được thành lập vào năm 2004 theo Quyết định của Bộ chính trị nhằm giúp Bộ Chính trị chỉ đạo thực hiện việc phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của vùng. Đặc biệt là sự ra đời của Chương trình khoa học và công nghệ phát triển bền vững vùng Tây Bắc do ĐHQGHN được Thủ tướng Chính phủ giao chủ trì nhằm phát huy vai trò của KH&CN trong việc tạo đà cho sự phát trién kinh tế tri thức ở vùng Tây Bắc, thông qua các vấn dé đặt ra trong thực tiễn phát triển của vùng và của từng địa phương, nâng cao năng lực sản xuất và cạnh tranh, phát huy các lợi thế, các nguồn lực và tiềm năng, tạo đà cho việc nâng cao mức tăng trưởng chung của vùng. Bên cạnh đó, đã có nhiều giải pháp được đề xuất dé thúc đây sự phát triển kinh tế bền vững của vùng Tây Bắc như phát triển kinh tế biên mậu, phát triển du lịch, tái cơ cấu nông nghiệp và công — nông nghiệp. Trong thời gian gần đây, một trong các giải pháp mang tính tổng thể, toàn diện đặc biệt thu hút sự quan tâm, chú ý của các nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp và các học giả đẻ phát triển kinh tế vùng Tây Bắc, đó chính là liên kết vùng.
Liên kết vùng là vấn đề có tính cấp thiết không chỉ với vùng Tây Bắc, mà còn với nhiều vùng và địa phương khác trên cả nước. Theo Hoàng Ngọc Phong (2014), hiện nay ở Việt Nam đang tôn tại "63 nền kinh tế" tương ứng với 63 tỉnh thành. Vì thế, không gian kinh tế vùng bị chia cắt và thu hẹp, nhiều cụm ngành kinh tế mà các tỉnh có lợi thế chung không liên kết được với nhau. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu một mô hình quản lý cùng với các chính sách vận hành phù hợp với mục tiêu và yêu cầu liên kết vùng, còn nhiều quan niệm khác nhau về vùng va phân vùng, van dé liên kết vùng ít được quan tâm và đề cập trong các kế hoạch trung hạn và dài hạn.
Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các địa phương trên thực tế còn mang tính hình thức, hành chính và thiếu các quy hoạch tổng thé phát triển kinh tế xã hội liên vùng. Đôi khi quy hoạch tổng thé của Trung ương chưa phù hợp với lợi ích của địa phương và cơ chế xin cho vẫn còn là một thách thức phải vượt qua. Đối với Tây Bắc hiện nay, một trong những vấn đề yếu nhất trong khu vực là sự phát triển không đồng đều và vấn đề phát huy các thế mạnh của từng tỉnh trong tổng thể vùng Tây Bắc dé phát triển kinh tế. Nhiều tinh có thé mạnh phát triển du lịch nhưng du lịch trong vùng hiện nay dang phát triên theo tình trạng "địa phương chủ nghĩa".
Cơ sở hạ tầng còn lạc hậu và thiếu sự kết nối trong mạng lưới giao thông giữa các tỉnh. Phát triển nông nghiệp, công nghiệp trong vùng còn manh mún, thiếu sự liên kết giữa các tỉnh trong phát triển nông nghiệp, công nghiệp cũng như giữa công nghiệp — nông nghiệp — dịch vụ trong cùng một tỉnh. Để phát huy được các thế mạnh, hay lợi thế so sánh của các tỉnh, vấn đề liên kết vùng là vô cùng quan trọng. Liên kết kinh tế vùng sẽ tạo ra được một không gian kinh tế lớn vượt qua ranh giới địa lý hành chính địa phương, tiến tới các quan hệ kinh tế trên cơ sở hợp tác, chia sẻ và phát huy tốt các nguồn lực, giá trị và bản sắc riêng của các địa phương, các tỉnh để tạo ra được động lực mạnh cho sự phát triên, tạo sức cạnh tranh cao đối với hàng hóa và dịch vụ có xuất xứ từ vùng.