Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. Lý luận chung về phát triển nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 1. Phát triển nguồn nhân lực và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước 1. Những khái niệm cơ bản • Nguồn nhân lực Nguồn lực được hiểu một cách chung nhất là khả năng cung cấp các yếu tố cần thiết được huy động cho sự phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước.
Đó là những nguồn lực vật chất như nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực tài chính và nguồn lực con người. Nguồn nhân lực được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau phụ thuộc vào các giác độ nghiên cứu. Theo khái niệm rộng nguồn nhân lực chỉ con người với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường, không bị khiếm khuyết và dị tật bẩm sinh. Theo khái niệm hẹp thì nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng hợp các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động.
Với cách hiểu như vậy nguồn nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao động và những người ngoài độ tuổi lao động, thực tế có tham gia lao động. Có một cách hiểu hẹp hơn nữa về nguồn nhân lực là yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội, là khả năng lao động cuả xã hội bao gồm nhóm dân cư 9 trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Cách nhìn này cho thấy nguồn nhân lực chính là nguồn lao động và nguồn lao động sẽ bao gồm dân số trong độ tuổi lao động. Theo tổ chức lao động quốc tế: Lực lượng lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp.
Các cách hiểu trên về nguồn nhân lực, nguồn lao động, lực lượng lao động chỉ khác nhau về xác định quy mô nguồn lực con người, nhưng có một điểm chung là đều nói lên khả năng lao động của xã hội. Vì vậy, chúng ta có thể hiểu một cách khái quát nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó. Số lượng nguồn nhân lực phụ thuộc vào quy mô dân số, tốc độ tăng, tỷ lệ giảm dân số của một quốc gia, tỷ lệ những người trong độ tuổi lao động,. Quy mô nguồn nhân lực ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia.
Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực: thể lực, trí lực và tâm lực. Chất lượng nguồn nhân lực phản ánh trình độ phát triển kinh tế, phản ánh sự phát triển về mặt đời sống xã hội, chất lượng nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tư cách không chỉ là nguồn lực của sự phát triển mà còn thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định. • Phát triển nguồn nhân lực Cho đến nay chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm phát triển nguồn nhân lực. Tuỳ theo mục tiêu cụ thể mà có thể có những nhận thức khác nhau để đưa ra khái niệm về phát triển nguồn nhân lực.
Cụ thể như: Tổ chức UNESCO cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực được đặc trưng bởi toàn bộ sự lành nghề của dân cư trong mối quan hệ với sự phát triển của đất 10 nước. Nhưng tổ chức lao động quốc tế (ILO) lại đưa ra khái niệm phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn chứ không chỉ có sự chiếm lĩnh ngành nghề hoặc ngay cả việc đào tạo nói chung. Quan niệm này dựa trên cơ sở nhận thức cho rằng con người có nhu cầu sử dụng năng lực của mình để tiến tới có được việc làm hiệu quả cũng như sự thoả mãn về nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Sự lành nghề được hoàn thiện nhờ bổ sung nâng cao kiến thức trong quá trình sống và làm việc nhằm đáp ứng những kỳ vọng của con người.
Định nghĩa trong Báo cáo phát triển con người toàn cầu của chương trình phát triển Liên hiệp Quốc (UNDP) cho rằng: phát triển con người là “quá trình mở rộng sự lựa chọn cho con người. Điều quan trọng nhất của phạm vi lựa chọn rộng lớn đó là để con người sống một cuộc sống lâu dài và khoẻ mạnh, được giáo dục và được tiếp cận đến các nguồn lực cần thiết cho một mức sống cao” [17, tr. Với các quan niệm như vậy, phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực. Như vậy, dù có diễn đạt khác nhau, song các khái niệm trên đều đưa ra được phát triển nguồn nhân lực là quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt để tham gia hiệu quả vào quá trình phát triển một quốc gia.
Hay nói một cách khác phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện của con người vì sự tiến bộ kinh tế, xã hội và sự hoàn thiện của bản thân con người. Điều đó có nghĩa là phát triển nguồn nhân lực xã hội là khái niệm được hiểu ở góc độ hoàn thiện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và điều chỉnh hợp lý số lượng nguồn nhân lực. Để có thể phát triển nguồn nhân lực, xét từ góc độ vĩ mô của nền kinh tế, phải có các cơ chế, chính sách tác động vào nguồn nhân lực. Có thể hiểu phát triển nguồn nhân lực xã hội là tổng thể các cơ chế chính sách và biện pháp hoàn 11 thiện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xã hội (trí tuệ, thể chất, phẩm chất tâm lý - xã hội) và điều chỉnh hợp lý về số lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển.
Chính vì vậy, phát triển nguồn nhân lực luôn luôn là động lực thúc đẩy sự phát triển và tác động đến toàn bộ đời sống xã hội. Kinh nghiệm của nhiều nước công nghiệp hoá trước đây đã chỉ ra phần lớn thành quả phát triển không phải nhờ nguồn tài chính kếch xù mà nhờ những hoàn thiện trong năng lực của con người, sự tinh thông, bí quyết nghề nghiệp và quản lý. Đầu tư cho phát triển con người là vấn đề liên ngành, đa lĩnh vực và tác động đến đời sống của các cá nhân, gia đình, cộng đồng của họ và đến toàn bộ xã hội nói chung. Thước đo đánh giá chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất của nguồn nhân lực.
Chất lượng nguồn nhân lực không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển kinh tế, mà còn phản ánh trình độ phát triển về mặt đời sống xã hội, nguồn nhân lực của một quốc gia có chất lượng cao chứng tỏ quốc gia đó phát triển và thể hiện mức độ văn minh của một xã hội nhất định. Để có cơ sở phân tích sự phát triển nguồn nhân lực cần hiểu rõ một số chỉ tiêu đánh giá nguồn nhân lực sau đây: - Chỉ tiêu phản ánh tình hình sức khoẻ của dân cư: Sức khoẻ là tổng hoà nhiều yếu tố tạo nên giữa bên trong và bên ngoài cơ thể con người, giữa thể chất và tinh thần. Có rất nhiều chỉ tiêu biểu hiện trạng thái về sức khoẻ, Bộ y tế nước ta quy định có 3 loại như sau: Loại A: thể lực tốt, không có bệnh tật gì 12 Loại B: thể lực trung bình Loại C: thể lực yếu không có khả năng lao động (Các loại A, B, C sẽ được đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn về thể lực như: chiều cao, cân nặng, vòng ngực; mắt, tai, mũi, họng; răng hàm mặt; ngoại khoa; thần kinh; da liễu.) Bên cạnh việc đánh giá trạng thái sức khoẻ của người lao động, người ta còn nêu ra các chỉ tiêu đánh giá sức khoẻ của quốc gia thông qua: Tỷ lệ sinh thô, chết thô, tỷ lệ tăng trưởng tự nhiên, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ sinh thấp cân của trẻ em. - Chỉ tiêu biểu hiện trình độ văn hoá của người lao động: số người biết chữ, không biết chữ; số người có trình độ học tiểu học, phổ thông cơ sở và phổ thông trung học.
- Chỉ tiêu người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật: Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về chuyên môn nào đó, nó biểu hiện trình độ được đào tạo ở các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học. Do đó trình độ chuyên môn nguồn nhân lực đo bằng: + Tỷ lệ cán bộ trung cấp; + Tỷ lệ cán bộ cao đẳng, đại học; + Tỷ lệ cán bộ trên đại học. Trong mỗi chuyên môn có thể phân chia thành những chuyên môn nhỏ hơn như: kỹ thuật, kinh tế, ngoại ngữ. thậm chí trong từng chuyên môn lại chia thành những chuyên môn nhỏ hơn.
Trình độ kỹ thuật của người lao động thường dùng để chỉ trình độ của người đã được đào tạo ở các trường kỹ thuật, được trang bị kiến thức nhất định, kỹ năng thực hành về công việc nhất định. Trình độ kỹ thuật được thể hiện thông qua các chỉ tiêu: 13 + Số lao động được đào tạo và lao động phổ thông; + Số người có bằng kỹ thuật và không có bằng; + Trình độ tay nghề theo bậc thợ. Trình độ chuyên môn và kỹ thuật thường được kết hợp chặt chẽ với nhau, thông qua chỉ tiêu số lao động được đào tạo và không đào tạo trong từng tập thể nguồn nhân lực.