Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học phần Lịch sử thế giới cận đại lớp 10 ở trường Trung học phổ thông" được tác giả Vũ Thị Trang thực hiện năm 2019 tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, dưới sự hướng dẫn của ThS. Ninh Thị Hạnh. Nghiên cứu thuộc chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học Lịch sử, xuất phát từ các yêu cầu cấp thiết về đổi mới giáo dục trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế.

Tác giả dẫn lời phát biểu của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ khẳng định tri thức là yếu tố hàng đầu để phát triển kinh tế và giáo dục đóng vai trò tạo đòn bẩy thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Môn Lịch sử ở trường phổ thông có đặc thù phát triển tư duy lịch sử, năng lực khai thác sử liệu, tư duy hệ thống và tư duy phản biện, giúp học sinh vận dụng bài học quá khứ vào thực tiễn đời sống. Tuy nhiên, thực tế dạy học lịch sử tại Việt Nam bộc lộ nhiều bất cập nghiêm trọng qua các số liệu cụ thể được tác giả trích dẫn:

  • Một cuộc khảo sát thực tế do kênh Chuyển động 24h thực hiện năm 2015 với 40 học sinh tại hai tuyến phố Tây Sơn và Đặng Tiến Đông (Hà Nội) cho thấy có 37/40 học sinh được hỏi trả lời Quang Trung và Nguyễn Huệ là hai người khác nhau (cho rằng là anh em, bạn chiến đấu, bố con, hoặc nhầm với Nguyễn Du); chỉ có 3 học sinh trả lời đúng nhưng lại cung cấp sai lệch thông tin lịch sử về nhân vật.
  • Kỳ thi tuyển sinh Đại học năm 2011 ghi nhận hàng nghìn bài thi môn Lịch sử bị điểm 0.
  • Năm 2015, nhiều điểm thi trong kỳ thi THPT quốc gia phải đóng cửa trong ngày thi môn Lịch sử do không có thí sinh đăng ký dự thi.
  • Thống kê điểm thi THPT quốc gia hai năm 2017 và 2018 cho thấy Lịch sử là môn có điểm trung bình thấp nhất toàn quốc (năm 2017 đạt 4,6 điểm; năm 2018 đạt 3,9 điểm). Trong tổng số hơn 565.000 thí sinh dự thi môn Lịch sử năm 2018, có tới 83,24% thí sinh đạt điểm dưới trung bình.

Thực trạng này bắt nguồn chủ yếu từ phương pháp dạy học truyền thống mang tính thụ động "thầy đọc - trò chép", học sinh thiếu kỹ năng tự học và giảm sút hứng thú đối với môn học. Trước tình hình đó, việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược (Flipped classroom) - một hình thức đã chứng minh tính hiệu quả tại Mỹ, Australia - được đặt ra nhằm nâng cao tính chủ động và phát triển phẩm chất, năng lực của người học.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là từ việc tìm hiểu thực trạng, vai trò và ý nghĩa của mô hình lớp học đảo ngược, đề xuất các biện pháp tổ chức dạy và học phần Lịch sử thế giới cận đại lớp 10 (chương trình chuẩn) nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn ở trường THPT.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định gồm 4 nội dung:

  1. Nghiên cứu cơ sở lí luận cơ bản của việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học lịch sử.
  2. Tiến hành điều tra, khảo sát đối với giáo viên và học sinh ở một số trường để đánh giá thực trạng dạy và học hiện nay, đặc biệt là việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học lịch sử.
  3. Đề xuất một số biện pháp sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học phần Lịch sử thế giới cận đại ở trường THPT.
  4. Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của các biện pháp được đề xuất, từ đó rút ra kết luận và ý nghĩa khoa học của đề tài.

Đối tượng nghiên cứu là quá trình dạy học lịch sử ở trường THPT có sử dụng mô hình lớp học đảo ngược. Phạm vi nghiên cứu về nội dung tập trung vào phần Lịch sử thế giới cận đại lớp 10 chương trình chuẩn; phạm vi điều tra thực trạng và thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại một số trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc Ninh (cụ thể tiến hành thực nghiệm tại Trường THPT Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm, quy định pháp lý và công trình nghiên cứu chuyên ngành:

  • Hình thức dạy học kết hợp (Blended learning): Là hình thức kết hợp giữa phương thức dạy học truyền thống trực tiếp tại lớp với dạy học trực tuyến qua Internet. Mô hình này bao gồm 6 dạng thức: Face-to-Face Driver (Hướng dẫn trực tiếp), Rotation (Luân phiên/Xoay vòng, bao gồm Hoán đổi trạm, Lớp học đảo ngược, Xoay vòng cá nhân), Flex (Mô hình linh hoạt), Online Lab (Phòng học trực tuyến), Self-Blend (Tự kết hợp) và Online Driver (Học trực tuyến hoàn toàn).
  • Mô hình lớp học đảo ngược (Flipped classroom): Thuộc nhóm mô hình xoay vòng (Rotation) của Blended learning. Cấu trúc học tập đảo ngược hoàn toàn so với truyền thống: các mức nhận thức bậc thấp (biết, hiểu, ghi nhớ kiến thức cơ bản) được học sinh thực hiện tại nhà thông qua bài giảng điện tử, video số hóa, tài liệu học tập trên web; thời gian trên lớp được dành cho các mức nhận thức bậc cao (phân tích, đánh giá, vận dụng, sáng tạo) thông qua thảo luận, giải quyết vấn đề khó dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
  • Đặc trưng kiến thức lịch sử THPT: Kiến thức mang tính quá khứ (không thể quan sát trực tiếp mà phải nhận thức gián tiếp), tính không lặp lại, tính cụ thể và tính thống nhất giữa "sử" (sự kiện, thời gian, nhân vật, diễn biến) và "luận" (bản chất, đánh giá, quy luật).
  • Đặc điểm tâm lý và nhận thức học sinh THPT: Lứa tuổi giao thời giữa trẻ em và người lớn, phát triển mạnh về nhu cầu tự ý thức, khẳng định bản thân và hình thành thế giới quan; tư duy trừu tượng và tư duy lý luận độc lập phát triển tốt nhưng quan sát còn dễ phân tán, đôi khi đánh giá vấn đề còn cảm tính.
  • Cơ sở pháp lý: Luật Giáo dục quy định phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, bồi dưỡng năng lực tự học; Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị Trung ương 8 Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo xác định nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại, chuyển từ truyền thụ một chiều sang phát triển năng lực, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
  • Tổng quan nghiên cứu: Điểm qua các công trình thế giới từ Alison King (1993), Eric Mazur (1997), Lage, Platt và Treglia (2000), J. Wesley Baker (2000), Salman Khan (2004), Jonathan Bergmann và Aaron Sams (2012), G. Janson (2016); cùng các nghiên cứu trong nước của Nguyễn Hoài Nam và Vũ Thái Giang (2017), Nguyễn Văn Lợi, Lê Thị Phượng và Bùi Phương Anh (2017), Nguyễn Quốc Vũ và Lê Thị Minh Thanh (2017), Tô Thụy Diễm Quyên, Nguyễn Đăng Bắc.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:

  1. Phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp các tài liệu tâm lý học, giáo dục học, lý luận dạy học môn Lịch sử và các tài liệu chuyên ngành liên quan đến lớp học đảo ngược.
  2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra bằng phiếu hỏi trực tiếp đối với giáo viên và phiếu hỏi trực tuyến qua Google Form đối với học sinh.
  3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế giáo án, tổ chức dạy học thực nghiệm tại trường phổ thông để kiểm chứng giả thuyết khoa học.
  4. Phương pháp thống kê toán học: Phân loại, tổng hợp và xử lý dữ liệu định lượng thu được từ phiếu điều tra và bài kiểm tra thực nghiệm.

Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu gồm: số liệu khảo sát thực tế từ 20 giáo viên THPT và 110 học sinh THPT trên địa bàn Hà Nội và Bắc Ninh; dữ liệu thực nghiệm sư phạm tại Trường THPT Lương Tài (Bắc Ninh); số liệu thống kê thi cử chính thức của Bộ Giáo dục và Đào tạo các năm 2011, 2015, 2017, 2018.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học lịch sử ở trường THPT

Chương 1 làm rõ khung lý thuyết về Blended learning, bản chất của lớp học đảo ngược, đặc thù môn Lịch sử và phân tích kết quả điều tra thực trạng dạy học. Tác giả khái quát quy trình 3 bước vận hành lớp học đảo ngược: (1) Giáo viên thiết kế bài học, tạo video, tài liệu, bài tập trên web trực tuyến; (2) Giáo viên chia sẻ liên kết, đặt thời hạn để học sinh nghiên cứu và hoàn thành bài tập ở nhà; (3) Hướng dẫn học sinh thảo luận, giải quyết vấn đề khó, tìm hiểu sâu nội dung trên lớp và dặn dò củng cố.

Về cơ sở thực tiễn, tác giả khảo sát 20 giáo viên và 110 học sinh THPT tại Hà Nội và Bắc Ninh. Kết quả khảo sát được tổng hợp chi tiết qua các nhóm chỉ số:

Nhóm đối tượng Nội dung khảo sát Tỷ lệ / Số liệu ghi nhận
Giáo viên (n = 20) Mức độ áp dụng phương pháp dạy học mới 60% (12/20 GV) chỉ dạy truyền thống; 40% (8/20 GV) từng áp dụng phương pháp mới (trong đó chỉ 4 GV dùng thường xuyên).
Đánh giá vai trò phương pháp dạy học phát triển năng lực 100% giáo viên đánh giá có hiệu quả rất cao.
Mức độ hiểu biết về mô hình lớp học đảo ngược 100% (20/20 GV) chưa từng nghe nói hoặc hiểu sai (13 GV nghĩ là đổi mục tiêu hướng tới thực hành, 6 GV nghĩ là đổi vai trò, 1 GV nghĩ là đổi địa điểm).
Nhu cầu áp dụng mô hình đảo ngược 100% giáo viên mong muốn được áp dụng nếu có điều kiện cơ sở vật chất.
Học sinh (n = 110) Môn học yêu thích nhất Môn Toán và Thể dục dẫn đầu; Lịch sử chỉ đạt 6,6% (6/110 học sinh).
Kết quả học tập môn Lịch sử 86,4% học sinh tự đánh giá đạt học lực Khá.
Mức độ tiếp cận dạy học trực tuyến từ giáo viên 100% học sinh phản ánh giáo viên chưa từng áp dụng dạy học trực tuyến.
Nhu cầu về phương pháp học tập mong muốn 1,8% muốn dạy truyền thống; 90% thích trò chơi; 86,4% thích trải nghiệm sáng tạo; 68,2% muốn học trực tuyến.
Tỷ lệ từng học mô hình lớp học đảo ngược 81,8% chưa từng học; 18,2% từng học (nhóm này tiếp cận qua đợt thực tập sư phạm của chính tác giả).
Nguyện vọng áp dụng mô hình lớp học đảo ngược 97,3% học sinh mong muốn được học theo mô hình này.

Về những khó khăn của học sinh khi tiếp cận mô hình lớp học đảo ngược, số liệu điều tra chỉ ra các rào cản chính:

STT Khó khăn học sinh gặp phải Tỷ lệ lựa chọn (%)
1 Áp lực từ bài tập của các môn học khác 72,7%
2 Khả năng tự học của bản thân còn hạn chế 60,9%
3 Cơ sở vật chất của nhà trường chưa đáp ứng đủ 52,7%
4 Thời lượng cho một tiết học trên lớp bị hạn chế 45,5%
5 Quỹ thời gian vui chơi, nghỉ ngơi ở nhà bị thu hẹp 41,8%
6 Điều kiện kinh tế gia đình không đủ trang bị máy móc 25,5%

Tiểu kết chương 1 khẳng định sự mâu thuẫn giữa nhu cầu đổi mới rất lớn của học sinh với thực trạng dạy học truyền thống còn nặng nề của đội ngũ giáo viên, chứng minh tính cấp thiết của việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược vào môn Lịch sử.

Chương 2: Sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học phần Lịch sử thế giới cận đại lớp 10 ở trường THPT. Thực nghiệm sư phạm

Chương 2 trình bày nội dung chương trình, xác định điều kiện triển khai, hướng dẫn các ứng dụng công nghệ, đề xuất các biện pháp sư phạm và đánh giá kết quả thực nghiệm.

Chương trình Lịch sử thế giới cận đại lớp 10 (chương trình chuẩn) gồm 12 bài thuộc 3 chương:

  • Chương I: Các cuộc cách mạng tư sản (từ giữa thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII) với các cuộc cách mạng tại Hà Lan, Anh, Bắc Mỹ, Pháp, xác lập thể chế quân chủ lập hiến, tuyên ngôn nhân quyền và khẩu hiệu "Tự do - Bình đẳng - Bác ái".
  • Chương II & III: Các nước Âu - Mĩ và Phong trào công nhân (từ đầu thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX), bao gồm thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (động cơ hơi nước), sự chuyển biến sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa và quá trình xác lập học thuyết Chủ nghĩa xã hội khoa học của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, được V.I. Lê-nin phát triển.

Để vận hành mô hình đảo ngược, tác giả xác định 4 điều kiện cốt lõi: cơ sở vật chất kỹ thuật (máy chiếu, màn chiếu, máy tính, mạng Internet); phương tiện học tập của học sinh (máy tính cá nhân, điện thoại thông minh kết nối mạng hoặc sử dụng phòng máy tính bộ môn Tin học của trường); trình độ công nghệ thông tin của giáo viên; tinh thần tích cực, tự giác của cả người dạy và người học.

Khóa luận giới thiệu quy trình sử dụng 4 ứng dụng công nghệ hỗ trợ:

  • Padlet: Không gian cộng tác số hóa ("bức tường" tương tác). Giáo viên đăng ký tài khoản, chọn Make a Padlet, cấu hình các trường: Title (Tiêu đề bài học), Description (Mô tả nhiệm vụ), Address (Đường dẫn rút gọn). Giáo viên tạo các bài đăng (posts) tương ứng nhiệm vụ học tập. Học sinh tham gia bằng cách truy cập liên kết trên web hoặc quét mã QR qua ứng dụng di động Padlet trên hệ điều hành Android hoặc iOS.
  • Edmodo: Hệ thống quản lý học tập kết hợp mạng xã hội học thuật. Giáo viên tạo lớp học qua Create a class, nhận mã lớp (Class code) chia sẻ cho học sinh. Giáo viên tạo bài đăng (Posts) dưới các hình thức: Note (ghi chú văn bản), Assignment (giao bài tập có thời hạn nộp), Quiz (câu hỏi trắc nghiệm), Poll (thăm dò ý kiến). Học sinh nộp bài tập, trao đổi qua phần bình luận (Comment).
  • Canva: Nền tảng thiết kế đồ họa trực tuyến. Tác giả hướng dẫn đăng ký tài khoản qua mục Giáo dục, sử dụng tính năng Create a design để tạo các sản phẩm: Infographics (Đồ họa thông tin), Poster (Áp phích), Resumes, và đặc biệt là thiết kế thẻ nhớ nhân vật lịch sử (flashcards). Giáo viên và học sinh tùy biến bằng các công cụ: Mẫu tham khảo, Thành phần (đồ họa, biểu đồ, icon), Văn bản (tổ hợp font chữ), Nền, Nội dung tải lên từ máy tính cá nhân.
  • Kahoot!: Hỗ trợ tạo các bộ câu hỏi kiểm tra, khảo sát trực tuyến nhanh.

Dựa trên các nền tảng này, tác giả đề xuất 3 nhóm biện pháp sư phạm:

  1. Rèn luyện kĩ năng tự học: Giáo viên giao hệ thống câu hỏi, tài liệu số hóa, video bài giảng lên Edmodo/Padlet kèm mốc thời gian hoàn thành. Học sinh tự đọc sách giáo khoa, ghi chép kiến thức cơ bản và làm bài tập chuẩn bị trước khi đến lớp.
  2. Rèn luyện kĩ năng sử dụng CNTT: Hướng dẫn học sinh đăng nhập, thao tác trên web, gửi bài tập trực tuyến và sử dụng phần mềm Canva để thiết kế thẻ nhớ nhân vật lịch sử (như các sản phẩm thiết kế nhân vật của nhóm học sinh lớp 11A2 Trường THPT Lương Tài).
  3. Rèn luyện kĩ năng hợp tác: Tổ chức cho học sinh làm việc nhóm ở nhà thông qua mạng xã hội học tập và điều hành các hoạt động tranh luận, thảo luận chuyên sâu, thuyết trình sản phẩm nhóm tại lớp học trực tiếp (minh họa qua sản phẩm học tập của học sinh lớp 10D8 Trường THPT Lương Tài).

Phần thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại Trường THPT Lương Tài (Bắc Ninh). Tác giả tổ chức dạy học thực nghiệm theo mô hình lớp học đảo ngược, so sánh với lớp đối chứng dạy theo phương pháp truyền thống, sau đó thực hiện khảo sát ý kiến và cho học sinh làm bài kiểm tra 15 phút để thống kê, so sánh kết quả học tập giữa hai nhóm lớp.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể phản ánh qua số liệu thực tế trong văn bản:

  • Kết quả thực nghiệm sư phạm: Việc áp dụng mô hình lớp học đảo ngược tại Trường THPT Lương Tài đã mang lại chuyển biến rõ rệt. Kết quả bài kiểm tra 15 phút của nhóm lớp thực nghiệm có tỷ lệ điểm khá, giỏi cao hơn rõ rệt so với nhóm lớp đối chứng; tỷ lệ điểm trung bình và dưới trung bình giảm mạnh (được thể hiện qua Bảng 2.1, Bảng 2.2 và Biểu đồ 2.1 trong khóa luận). Học sinh lớp thực nghiệm thể hiện sự chủ động nắm bắt kiến thức cơ bản trước giờ lên lớp, tích cực tham gia thảo luận nhóm và thành thạo thao tác công nghệ.
  • Hệ thống giải pháp và kiến nghị: Tác giả xây dựng quy trình triển khai bài giảng đảo ngược chi tiết qua 3 bước; hướng dẫn cách thức kết hợp các công cụ Padlet, Edmodo và Canva vào từng khâu dạy học môn Lịch sử; kiến nghị ban giám hiệu nhà trường cần tăng cường đầu tư trang thiết bị CNTT, mở rộng kết nối mạng Internet và tổ chức các buổi tập huấn chuyên môn để giáo viên làm quen với các nền tảng công nghệ giáo dục.
  • Đóng góp của đề tài: Tác giả tự xác định công trình có các đóng góp cơ bản:
    1. Khẳng định vai trò, ý nghĩa và sự cần thiết của việc sử dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học lịch sử ở trường THPT thời kỳ đổi mới.
    2. Đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng nhận thức của giáo viên và nhu cầu của học sinh THPT đối với mô hình lớp học đảo ngược qua địa bàn Hà Nội và Bắc Ninh.
    3. Đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm gắn liền với việc rèn luyện đồng thời 3 kỹ năng then chốt cho học sinh: kỹ năng tự học, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và kỹ năng hợp tác.
    4. Kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất thông qua tiến trình thực nghiệm sư phạm trực tiếp tại trường phổ thông.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Phạm vi khảo sát thực trạng mới chỉ thực hiện trên cỡ mẫu 20 giáo viên và 110 học sinh tại khu vực Hà Nội và Bắc Ninh, chưa bao quát được các vùng miền có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hơn.
    • Địa bàn thực nghiệm sư phạm còn hẹp, tập trung chủ yếu tại một trường phổ thông (Trường THPT Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh).
    • Nội dung chuyên môn mới chỉ dừng lại ở phần Lịch sử thế giới cận đại lớp 10 chương trình chuẩn, chưa bao quát toàn bộ chương trình lịch sử cấp THPT.
    • Mô hình gặp rào cản lớn từ yếu tố khách quan: 72,7% học sinh chịu áp lực bài tập lớn từ các môn học khác và 52,7% cơ sở vật chất trường học chưa đồng bộ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng nghiên cứu áp dụng mô hình lớp học đảo ngược sang các phần kiến thức khác như Lịch sử Việt Nam hoặc chương trình Lịch sử lớp 11 và lớp 12.
    • Nghiên cứu tích hợp thêm các công cụ kiểm tra đánh giá tự động và các hệ thống quản lý học tập trực tuyến (LMS) thế hệ mới để giảm tải thời gian quản lý cho giáo viên.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Sư phạm Lịch sử, Giáo dục học tại các trường đại học sư phạm tham khảo phương pháp luận nghiên cứu và quy trình thiết kế bài học kết hợp.
  • Giáo viên môn Lịch sử và giáo viên các môn Khoa học xã hội tại các trường THPT đang tìm kiếm giải pháp đổi mới phương pháp giảng dạy theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.
  • Cán bộ quản lý giáo dục phổ thông trong việc định hướng bồi dưỡng kỹ năng công nghệ thông tin và triển khai dạy học trực tuyến.

Nội dung có giá trị ứng dụng cao nhất của văn bản là phần hướng dẫn chi tiết quy trình tạo tài khoản, thiết kế nhiệm vụ và quản trị lớp học trên các nền tảng Padlet, Edmodo, Canva, cùng các giải pháp khắc phục rào cản tự học của học sinh trong môn Lịch sử.

Câu hỏi thường gặp

1. Giáo viên THPT tham gia khảo sát trong khóa luận có nhận thức như thế nào về mô hình lớp học đảo ngược?
Toàn bộ 100% (20/20) giáo viên THPT được khảo sát đều chưa từng nghe nói hoặc hiểu sai về bản chất của mô hình. Trong đó, 13 người hiểu nhầm mô hình là sự thay đổi về mục tiêu/mục đích hướng tới thực hành thực tế; 6 người cho rằng đó là sự thay đổi vai trò giữa giáo viên và học sinh; 1 người hiểu nhầm là sự thay đổi về địa điểm học tập. Dù vậy, 100% giáo viên đều mong muốn được áp dụng mô hình vào giảng dạy nếu có điều kiện.

2. Tỷ lệ học sinh THPT mong muốn học theo mô hình lớp học đảo ngược là bao nhiêu và khó khăn lớn nhất của các em là gì?
Có tới 97,3% trong tổng số 110 học sinh được điều tra mong muốn giáo viên áp dụng mô hình lớp học đảo ngược vào bài dạy. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất mà học sinh gặp phải là áp lực bài tập từ các môn học khác (chiếm 72,7%) và khả năng tự học của bản thân còn hạn chế (chiếm 60,9%).

3. Tác giả đề xuất những phần mềm và ứng dụng công nghệ nào để hỗ trợ tổ chức lớp học đảo ngược?
Tác giả hướng dẫn sử dụng 4 công cụ công nghệ cụ thể gồm: Padlet (bức tường cộng tác số hóa để đăng nhiệm vụ và tương tác), Edmodo (hệ thống quản lý học tập và mạng xã hội học thuật để giao bài tập, câu hỏi trắc nghiệm, thảo luận), Canva (công cụ thiết kế đồ họa trực tuyến phục vụ thiết kế thẻ nhớ nhân vật lịch sử, poster, infographic) và Kahoot! (phần mềm hỗ trợ tạo câu hỏi kiểm tra nhanh).

4. Khóa luận đề xuất các biện pháp cụ thể nhằm rèn luyện những kỹ năng nào cho học sinh?
Tác giả đề xuất các biện pháp sư phạm nhằm rèn luyện 3 nhóm kỹ năng cốt lõi cho học sinh THPT: (1) Kỹ năng tự học thông qua hệ thống nhiệm vụ số hóa trên web trước giờ lên lớp; (2) Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin thông qua thao tác trên Edmodo, Padlet và thiết kế thẻ nhớ trên Canva; (3) Kỹ năng hợp tác thông qua làm việc nhóm trực tuyến và thảo luận, tranh biện tại lớp học.

5. Thực nghiệm sư phạm của đề tài được tiến hành tại đâu và nhằm mục đích gì?
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại Trường THPT Lương Tài (tỉnh Bắc Ninh) trên học sinh các lớp 10D8 và 11A2. Mục đích thực nghiệm là kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược đã đề xuất, thông qua so sánh kết quả bài kiểm tra 15 phút và mức độ hứng thú học tập giữa nhóm lớp thực nghiệm với nhóm lớp đối chứng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Trang là công trình nghiên cứu bài bản về lý luận và thực tiễn việc ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học phần Lịch sử thế giới cận đại lớp 10. Bằng các số liệu khảo sát thực tế và dữ liệu thực nghiệm sư phạm tại Trường THPT Lương Tài (Bắc Ninh), đề tài đã chứng minh tính khả thi của việc chuyển đổi tiến trình dạy học nhằm phát triển kỹ năng tự học, hợp tác và ứng dụng công nghệ cho học sinh. Nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng cao cho giáo viên phổ thông và sinh viên sư phạm trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học lịch sử hiện nay.