PHƢƠNG PHÁP GIẢNG DẠY THƠ ĐƢỜNG THEO ĐẶC TRƢNG LOẠI THỂ Phần I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Giảng dạy tác phẩm văn chƣơng trong nhà trƣờng theo đặc trƣng loại thể là vấn đề có cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn đà đúc kết thành lý luận. Năm 1970, nhóm tác giả do ông Trần Thanh Đạm đứng đầu đã công bố đề tài khoa học này qua cuốn sách" Vấn đề giảng dạy tác phẩm theo loại thể” Tác giả đã chỉ rõ: "Nhà văn sáng tác theo loại thể thì người đọc cũng cảm thụ theo loại thể và người dạy cũng giảng theo loại thể. Nói một cách khác, phương thức cấu tạo hình tượng mà tác giả đã sử dụng khi sáng tác qui định phương thức cảm thụ hình tượng đó của người đọc và cũng từ đó qui định phương thức giảng dạy của chúng ta". Đây là luận điểm có tính nguyên tắc phổ biến.
Dựa trên luận điểm đó, tôi đã nghiên cứu phƣơng pháp giảng dạy thơ Đƣờng theo đặc trƣng loại thể từ vài năm qua. Thơ Đƣờng Trung Quốc là mảng văn học nƣớc ngoài nằm trong chƣơng trình lớp 9 và lớp 10 phổ thông, bổ túc. Tuy có ít bài nhƣng chỗ đứng của nó không thể bỏ qua. Vì "Thơ Đường là một thành tựu xuất sắc của nền văn học cổ Trung Hoa, đồng thời cũng là một hiện tượng đặc biệt trong lịch sử văn học thế giới"(*) Trong quá trình giao lƣu văn hóa giữa hai dân tộc, hàng nghìn năm qua, nhân dân ta đã tiếp nhận thơ Đƣờng Trung Quốc nhƣ một món ăn tinh thần bổ ích, Thơ Đƣờng chữ Hán đã đƣợc đọc theo âm Việt, dịch ra tiếng Việt.
Nhiều ngƣời thuộc thơ Đƣờng, yêu thơ Đƣờng và sáng tác thơ Đƣờng, để lại những áng (*) Văn học 10 PTTH. 1 thơ hay cho nền văn học nƣớc nhà. Nhƣ vậy, trong nền văn học Việt Nam, thơ Đƣờng đã có mặt, có hình thức riêng, cùng tồn tại với các thể loại văn học khác Trong nhiều thế kỷ qua. Việc tìm ra phƣơng pháp giảng dạy theo đặc trƣng loại thể thơ Đƣờng không chỉ đáp ứng với một số bài thơ Đƣòng Trung Quốc trong chƣơng trình: Ý nghĩa thực tiễn của vấn đề mở ra phạm vi rộng, nhằm dạy tốt những bài thơ Đƣờng chữ Hán nói chung và cả những bài thơ Đƣờng Nôm của các tác giả xƣa nay có trong chƣơng trình văn học của trƣờng phổ thông và bổ túc.
Thơ Đƣờng hay nhƣng dạy thơ Đƣờng không dễ. Đó là một ngƣỡng cửa chuyên môn khó vƣợt qua. Cuốn sách "cẩm nang" do nhóm tác giả Trần Thanh Đạm biên soạn, chúng tôi chƣa có may mắn đƣợc đọc (*). Từ nhiều năm nay, các cấp chuyên môn ngành và những nhà nghiên cƣu cũng chƣa đặt chân đến vùng đất bỏ ngỏ này.
Nhiều năm đứng lớp, dạy văn trƣờng BTTH, mỗi lần đụng đến bài thơ Đƣờng, tôi cảm thấy ngại ngùng nhƣng vẫn cứ phải làm cái việc bất đắc dĩ. Dạy xong thì không bằng lòn với kết qủa. Giáo án mỗi năm mỗi sửa. Mãi đến khi đƣợc đọc những tài liệu về thi pháp thơ Đƣờng 1(**) tôi mới tìm ra cánh cửa, mở lời vào phƣơng pháp giảng dạy thơ Đƣờng theo đặc trƣng loại thể.
Những gì trình bày dƣới đây chỉ là công việc phải làm và đã làm của ngƣời giáo viên dạy văn chƣơng trong nhà trƣờng chúng ta. (*) Cuốn sách: "Dạy học giảng văn ở trƣờng PTTH" của tác giả Nguyễn Đức Ân do nhà xuất bản Đồng Tháp phát hành năm 1997 có giới thiệu chuyên đề "Giảng dạy văn học theo loại thể" của nhóm tác giả Trần Thanh Đạm. (**) 1Tài liệu về thi pháp thơ Đƣờng: - "Hình thức Thơ ca cổ điển Trung Quốc "tác giả PTS. Hồ Sĩ Hiệp" Đại học Quốc Gia TP.
Hô Chí Minh, Trƣờng Đại học lƣu hành nội bộ 1997. - "Thi pháp thơ Đƣờng" của PTS Nguyễn Thị Bích Hải. Nhà xuất bản Thuận Hóa - Huế 1995. 2 Phần II ĐỐI TƢỢNG ÁP DỤNG I.
THỐNG KÊ SỐ LƢỢNG: Năm học 1996 - 1997 và 1997 - 1998: Thành phần HV Số lƣợng Độ tuổi Lớp 10 Tổng số Nữ 18 25 26 30 31 40 Cán bộ 12 3 / 1 11 Công nhân l6 5 2 13 1 Nhà sƣi 6 3 / 6 / Nữ tu sĩ 7 7 3 4 / Học sinh cũ 40 24 40 / / Tống số 81 42 45 24 12 II. PHÂN TÍCH : - Đối tƣợng áp dụng phƣơng pháp giảng dạy thơ Đƣòng theo đặc trƣng loại thể là những học viên cán bộ, công nhân, những thanh niên nông thôn sau khi học xong PTCS về sản xuất ở địa phƣơng mấy năm và một số nhà sù, nữ tu sĩ. Nói chung, họ là những học viên lớn tuổi vừa trực tiếp công tác, lao động sản xuất và làm việc đạo vừa đi học. - Thực tế từ 5 năm lại đây, số học viên độ tuổi 31 đến 40 ngày càng giảm, ngƣợc lại, học viên độ tuổi từ 18 đến 25 tăng nhanh và đang trở thành đối tƣợng chính trong lớp học.
Học viên ở độ tuổi 18 đến 25 tăng; là một chuyển biến khách quan có lợi để nhà trƣờng xây dựng củng cố nề nếp học tập, có những yêu cầu cao hơn về chất lƣợng dạy và học. Trong điều kiện đó, phƣơng pháp giảng dạy thơ Đƣờng 3 theo đặc trƣng loại thể đƣợc áp dụng là một thuận lợi. Mặc dù đƣợc Ban giám đốc Trung tâm GDTX khuyến khích, tạo điều kiện và các bạn dồng nghiệp trong tổ hỗ trợ, tôi vẫn thấy việc dò dẫm đi vào phƣơng pháp giảng dạy thơ Đƣờng theo đặc trƣng loại thể là một thu thách quá sức. đầy khó khăn.
Tinh thần của tôi là vừa học hỏi trang bị lý thuyết vừa vận dụng vào thực tế giảng dạy, làm đến đâu xem xét lại đến đấy để rút tỉa kinh nghiệm đặc biệt là chú trọng những thu hoạch bổ ích cho mình. Phần III CÁC PHƢƠNG PHÁP SỬ DỤNG Thơ Đƣờng Trung Quốc đƣợc các giới nghiên cứu phê bình văn học xƣa nay đánh giá là một công trình nghệ thuật sáng tạo độc đáo. Bƣớc vào giảng dạy thơ Đƣờng phải tiếp cận với rất nhiều vấn đề. Riêng về thế loại, đã có một hệ thống đa dạng về hình thức.
Ở đây không dám bàn đến tất cả những thể loại sáng tác vào đời Đƣờng Trung Quốc mà chỉ nói tới những thể thơ cách luật ngũ ngôn hoặc thất ngôn bát cú, tuyệt cú hoặc bài luật cũng có nhiều vấn đề. Thể thất ngôn bát cú luật thi đƣợc coi là dạng cơ bản, vì từ đó có thể suy ra tất cả các dạng khác của thơ Đƣờng. Do đó đi vào phƣơng pháp giảng dạy thơ Đƣờng theo đặc trƣng loại thể, trƣớc hết và chủ yếu là tìm hiểu ở những bài thất ngôn bát cú luật thi. TRANG BỊ CHO HỌC SINH MỘT CHÚT VỐN LIẾNG ĐỂ HỌC THƠ ĐƢỜNG: 1.
Thơ Đƣờng luật theo qui phạm có ba dạng chính: a. Thơ bát cú: - Thất ngôn bát cú (cả bài tám câu, mỗi câu bảy chữ) - Ngũ ngôn bát cú (Cả bài tám câu, mỗi cáu năm chữ). Thơ tuyệt cú: - Thất ngôn tuyệt cú (cả bài bốn câu, mỗi câu bảy chữ). - Ngũ ngôn tuyệt cú (cả bài bốn câu, mỗi câu bốn chừ).
Thơ bài luật: Dạng kéo dài của thơ Đƣờng luật. Cả bài gồm mƣời câu trở lên, thƣờng lấy số vần chẵn chục, tên bài thơ ghi rõ "thập vận", hoặc "nhị thập vận". Bố cục truyền thống của bài thơ Đƣờng là đề, thực, luận, kết: a. Ở bài tuyệt cú (Tứ tuyệt): - Đề: câu 1 - Thực: câu 2 - Luận: câu 3 - Kết: câu 4 b.
Ở bài bát cú: - Đề: câu 1 và 2 - Thực: câu 3 và 4 - Luận: câu 5 và 6 - Kết: câu 7 và 8 c. Nhiệm vụ của đề, thực, luận, kết: - "Đề" có nhiệm vụ mở ý cho cả bài thơ. Ở bài bát cú, câu thứ nhất là "phá đề" thực hiện nhiệm vụ của "đề"; câu thứ hai là "thừa đề" tiếp ý của "phá đề" để chuyển vào thân bài. Bút pháp thơ Đƣờng thƣờng "phá đề" theo lối "khai môn kiến sơn" (mỏ cửa thấy núi), tức là nói thẳng vào sự việc.
- "Thực", còn gọi là thích thực hay cặp trạng để giải thích rõ ý của đầu bài. Các cụ xƣa nói "Thảo xà hôi tuyến, bất túc bất ly" nghĩa là rắn cỏ, đƣờng tro, chẳng tới sát mà cũng chẳng rời xa. "Thực" nghĩa là đƣa ra những hình ảnh 5 thực để phát triển ý thơ cho "đề". - "Luận" là nói rõ, là khai thác mở rộng ý của "đề" và "thực" - "Kết" là kết thúc ý toàn bài thơ, cần làm nổi bật tứ thơ, dụng ý của bài thơ, thái độ tƣ tƣởng, tình cảm của tác giả.
Bố cục bài thơ tuyệt cú có quan hệ gần gũi với bài bát cú luật thi: "Tuyệt cú" là một thể thơ có nguồn gốc và đời sống riêng, nhƣng từ khi có luật thi đời Đƣờng, thì nó trở nên rất gần gũi với kiểu bài bát cú. Bố cục của nó giống nhƣ đƣợc "cắt" từ bài bát cú ra. Dạng thứ nhất: Cắt lấy bốn câu trên. Trƣờng hợp này hai câu đuổi đổi nhau.
Dạng thứ hai: Cắt lấy bón câu đuổi. Trƣờng hợp này hai câu trên đối nhau. Dạng thứ ba: Cắt lấy bốn câu giữa. Trƣờng hợp này cả bốn câu phải đối nhau từng đôi môt d.
Dạng thứ tư: Cắt lấy hai câu đầu và hai câu cuối. Trƣờng họp này không đối. Sơ đồ niêm, luật, vần của bài bát cú: Minh họa qua bài "Đăng cao" của Đỗ Phủ Ký hiệu : a/ Đòn cân thanh điệu; (T) thanh trắc, (B) thanh bằng b/ Niêm là chất dính về thanh điệu giữa các liên thơ. 6 c/ Mỗi cặp câu: l với 2; 3 với 4; 5 với 6 và 7 với 8 là những liên thơ.
ý liên kết với nhau. Bài bát cú luật thi có 5 vần gieo ở tiếng cuối các câu 1; 2; 4; 6 và 8. Bài tứ tuyệt có 3 vần, gieo ở cuối câu 1, 2 và 4. Đó là hệ thống vần chính cách, chƣa kể phá cách.
SƠ ĐỒ VỀ NIÊM, LUẬT, VẦN CỦA THƠ ĐƢỜNG. Thi nhãn (còn gọi là nhãn tự) Theo pháp tự của thơ cổ thể, câu thơ ngũ ngôn, lấy chữ thứ ba làm cơ nữu; câu thơ thất ngôn, lấy chữ thứ năm làm cơ nữu. Đó là những chữ hay nhất khéo nhất trong câu thơ, hội tụ những tình cảm, vẻ đẹp của ý thơ. Trong một bài bát cú hay tuyệt cú có thể có một đến hai chữ cơ nữu, tập trung ý tình, tạo nên cái thần của bài thơ, những chữ đó đƣợc gọi là "thi nhãn" hay "nhãn tự".
Trƣờng hợp đặc biệt, "thi nhãn" (nhãn tự) không nằm ở vị trí cơ nữu, có thể nằm ở chữ cuối cùng của bài thơ để gây ấn tƣợng mạnh.