ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam đƣợc thiên nhiên ƣu đãi về nguồn tài nguyên thiên nhiên, là một trong những nƣớc có khu hệ động, thực vật đa dạng trên thế giới, chỉ tính riêng năm 2013 các nhà nghiên cứu động vật học của Việt Nam và quốc tế đã công bố 8 loài Thằn lằn mới cho khoa học với các mẫu vật thu ở Việt Nam. Trong những tháng đầu năm 2014 số lƣợng loài thằn lằn mới cho khoa học đã lên tới 4 loài. Mặc dù có nhiều nỗ lực và đã đạt đƣợc một số kết quả quan trọng, song công tác nghiên cứu, khai thác và bảo vệ bò sát nói chung và thằn lằn nói riêng ở Việt Nam vẫn đang gặp nhiều thách thức to lớn. Trong những năm gần đây, độ che phủ rừng tăng lên liên tục song rừng và sinh cảnh tự nhiên vẫn tiếp tục bị suy thoái và chia cắt.
Tình trạng khai thác và buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã vẫn tiếp diễn, đặc biệt là bò sát trong đó có các loài thuộc phân bộ Thằn lằn. Thằn lằn cá sấu (Shinisaurus crocodilurus Ahl, 1930) là loài duy nhất trong giống đơn loài Shinisaurus. Là một loài sống bán thủy sinh ở các khu rừng nhiệt đới lá rộng thƣờng xanh, có xu hƣớng nghỉ vào ban đêm trên các cành cây, phiến đá của các suối đá nơi có thảm thực vật dày đặc. Ban đầu, Thằn lằn cá sấu đƣợc phát hiện có phân bố trong các vùng rừng có thời tiết ôn hòa ở vùng Hồ Nam, Quảng Tây, Quý Châu ở Trung Quốc (Huang và cộng sự, 2008, Zhao và cộng sự, 1999).
Đến năm 2003, loài đƣợc ghi nhận ở Việt Nam tại khu vực dãy núi Tây Yên Tử, tất cả đều có sự khác biệt về mặt địa lý với các quần thể ở Trung Quốc đã biết (Le & Ziegler, 2003). Hiện nay, trƣớc tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng và chuyển đổi mục đích sử dụng đất, môi trƣờng sống của Thằn lằn cá sấu đang dần bị thu hẹp và đe dọa nghiêm trọng, làm cho quần thể hoang dã của loài đang trên bờ vực tuyệt chủng. Không chỉ vậy, nạn buôn bán động vật hoang dã cũng là một mối đe dọa rất lớn đối với loài. Năm 2017, sách Đỏ Thế giới (IUCN) đã xếp hạng loài ở mức độ nguy cấp (EN - Endangered) dựa trên tình trạng phân mảnh của 1 vùng phân bố và sự suy giảm môi trƣờng sống của loài đồng thời Công ƣớc CITES cũng đƣa loài vào Phụ lục I (2017).
Nhân nuôi bán hoang dã là một biện pháp bảo tồn đƣợc rất nhiều nƣớc trên thế giới đã và đang áp dụng. Ở Việt Nam, những năm gần đây đã tiến hành nhân nuôi thành công nhiều loài động vật quý, hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng cụ thể nhƣ Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus), Rùa núi vàng (Indotestudo elongata). Tuy nhiên, các mô hình nhân nuôi vẫn còn hạn chế, điều kiện nhân nuôi gặp nhiều khó khăn nên đem lại hiệu quả bảo tồn chƣa cao, chƣa áp dụng và mở rộng đƣợc các mô hình rộng rãi. Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh là nơi đầu tiên nhân nuôi thành công loài Thằn lằn cá sấu.
Chính vì vậy, tôi đã thực hiện đề tài: “Tìm hiểu mô hình kỹ thuật nhân nuôi loài Thằn lằn cá sấu (Shinisaurus crocodilurus vietnamensis Ahl, 1930) tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh, tỉnh Vĩnh phúc” nhằm mở rộng phạm vi nhân nuôi phục vụ cho công tác bảo tồn nguồn gen, bảo vệ loài trƣớc nguy cơ tuyệt chủng. 2 PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số nghiên cứu về loài Thằn lằn cá sấu (Shinisaurus crocodilurus) 1. Trên thế giới Thằn lằn cá sấu trung quốc (Shinisaurus crocodilurus) đƣợc phát hiện vào năm 1928, đã chìm vào quên lãng trong 23 năm.
Giáo sƣ Shin, thuộc Đại học Sun Yat-sen, đã phát hiện loài Thằn lằn cá sấu trung quốc ở vùng Quế Lâm thuộc vùng núi của tỉnh Quảng Tây (Kwangsi, 1950). Năm 1952, nhà bác học ngƣời Đức Ernst Ahl đã mô tả Thằn lằn cá sấu nhƣ một loài mới, họ Thằn lằn cá sấu (Shinisauridae) đã đƣợc hình thành trong thời gian này (Ernst Ahl và cộng sự, 1952). Từ năm 1978, sáu cuộc khảo sát đã đƣợc thực hiện tại Trung Quốc, ghi nhận sự suy giảm nhanh chóng của quần thể Shinisaurus từ 6.000 cá thể trong năm 1978 xuống 950 cá thể trong năm 2008 (Huang và cộng sự, 2008). Một nghiên cứu khác cho thấy loài này thích nghi với điều kiện rừng lá rộng thƣờng xanh và rừng tre nhƣng không xuất hiện ở rừng cây lá kim, cây bụi và đồng cỏ (Wu và cộng sự, 2007).
Tại Trung Quốc, môi trƣờng sống còn bao gồm núi đá vôi (Zhang, 1991; Zhu và cộng sự, 2002). Độ cao loài sinh sống là từ 200 đến 1500 m ở Trung Quốc và từ 400 đến 800 m ở Việt Nam (Huang và cộng sự, 2008, Le & Ziegler, 2003, Zhao và cộng sự, 1999). Năm 2008, Huang và cộng sự đã tóm tắt các thông tin sẵn có về tình trạng các quần thể và xu hƣớng đối với các tiểu quần thể loài Thằn lằn cá sấu ở Trung Quốc, bao gồm dữ liệu từ các cuộc điều tra của các tác giả tiến hành tại các địa phƣơng từ trƣớc đó. Khảo sát của Huang và cộng sự đã không ghi nhận đƣợc bất kỳ quần thể sót lại ở Quảng Tây, loài này không xuất hiện trong hơn 10 năm tại tỉnh Hunan (Huang và cộng sự, 2008).
Một nghiên cứu khác cho thấy Thằn lằn cá sấu bị ảnh hƣởng bởi các yếu tố sinh thái nhƣ: Chiều dài và chiều rộng của suối, vận tốc nƣớc nhanh hay chậm, thảm thực vật ven bờ suối với độ che phủ trên 60%, khoảng cách với con 3 ngƣời (trên 500 m). Trong đó, các nhân tố: Độ sâu nƣớc, loại suối và độ dốc không ảnh hƣởng đến môi trƣờng sống của Thằn lằn cá sấu (Shinisaurus crocodilurus) (Ning và cộng sự, 2009). Ở Việt Nam Một nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng Thằn lằn cá sấu (Shinisaurus crocodilurus) bao gồm ít nhất hai phân loài riêng biệt, đại diện cho các đơn vị bảo tồn riêng biệt đó là phân loài Thằn lằn cá sấu và phân loài Thằn lằn cá sấu việt nam. Các cá thể Thằn lằn cá sấu ở Việt Nam chính thức đƣợc gọi tên Shinisaurus crocodilurus vietnamensis Ahl, 1930 (van Schingen và cộng sự, 2016).
Ở Việt Nam, Thằn lằn cá sấu đƣợc tìm thấy đầu tiên tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử thuộc tỉnh Bắc Giang và KBTTN Yên Tử của tỉnh Quảng Ninh (Hecht, 2010, Le & Ziegler, 2003). Sau đó phát hiện thêm sự xuất hiện Thằn lằn cá sấu Shinisaurus crocodilurus ở hai suối (Suối Tuyến I và II) trong sáu suối thuộc khu vực Tây Yên Tử (Hecht, 2010). Một nghiên cứu khác, đã xác định thêm một quần thể Thằn lằn cá sấu (Shinisaurus crocodilurus) khác tại khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thƣợng ở phía đông của núi Yên Tử, tỉnh Quảng Ninh (van Schingen và cộng sự, 2013). Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng việc buôn bán động vật sống có tác động rất bất lợi đối với loài.
Tuy chƣa có nhiều thông tin về việc sử dụng Thằn lằn cá sấu trong thuốc y học cổ truyền ở nhiều nƣớc nhƣng đây vẫn đƣợc đánh giá là một mối đe dọa ở mức độ cao đối với loài chỉ đứng sau buôn bán động vật hoang dã trái phép (van Schingen và cộng sự, 2015). Một số mô hình nhân nuôi Thằn lằn cá sấu Sự suy giảm nghiêm trọng quần thể Thằn lằn cá sấu trong những năm qua đã dẫn đến việc nhấn mạnh vào khâu quản lý số lƣợng quần thể, các chƣơng trình bảo tồn tại chỗ và đặc biệt là tiến hành thử nghiệm nuôi nhốt để nhân nuôi, bảo vệ nguồn gen và bảo tồn loài. Từ đó, nhiều mô hình nhân nuôi đã đƣợc tiến hành thành công: Nghiên cứu của Uyeda đã đƣa ra mô hình nhân nuôi và sinh sản Thằn lằn cá sấu ở sở thú Woodlad, Washington, Mỹ. Mô hình nhân nuôi này đƣợc đặt hoàn toàn trong nhà với 15 cá thể Thằn lằn cá sấu.
Ngoài ra, nghiên cứu chỉ ra các nhân tố ảnh hƣởng đến chu kỳ sống, tốc độ sinh trƣởng, thời gian sinh sản của Thằn lằn cá sấu trong điều kiện nuôi nhốt là nhiệt độ, độ ẩm, cách bố trí sinh cảnh trong chuồng (Uyeda, 2011). Ở Việt Nam, Trạm đa dạng sinh học Mê Linh là nơi duy nhất nhân nuôi thành công Thằn lằn cá sấu (Shinisaurus crocodilurus vietnamensis Ahl, 1930). Một số kết quả bƣớc đầu trong thử nghiệm nuôi Thằn lằn cá tại Trạm đa dạng sinh học Mê Linh đã chỉ ra rằng trong điều kiện nuôi nhốt thức ăn ƣa thích của Thằn lằn cá sấu là Giun đất và Dế, chúng không thích nòng nọc của Ếch cây mép trắng. Thằn lằn cá sấu hoạt động mạnh và ăn nhiều thức ăn từ tháng 3 đến tháng 10, khi nhiệt độ trên 20oC; giảm hoạt động trong các tháng mùa đông vì đây cũng là thời điểm trú đông của loài.
Trong điều kiện nuôi nhốt Thằn lằn cá sấu đã giao phối và sinh sản thành công tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh (Trần Đại Thắng và cộng sự, 2013). Đặc điểm sinh học và sinh thái loài Thằn lằn cá sấu Thằn lằn cá sấu (Shinisaurus crocodilurus Ahl, 1930) thuộc họ Thằn lằn cá sấu (Shinisauridae), Bộ có vảy (Squamata) (Ahl và cộng sự, 1952). Đặc điểm nhận dạng cá thể trƣởng thành: Chiều dài thân khoảng 150 - 160mm, chiều dài đuôi khoảng 171 - 210mm. Đầu ngắn, hàm trên vát.
Vùng má, bên cổ và vùng bụng màu trắng đục hay vàng sáng, thƣờng có những đốm đen. Từ mắt tỏa ra những tia màu đen mảnh. Thân có nhiều nốt sần nhỏ, phần đuôi có 5 hai hàng gai nhỏ giống nhƣ đuôi cá sấu. Chi có các vuốt sắc nhọn.
Lƣng màu xám nâu, đôi khi có những đốm sáng màu. Màu sắc thay đổi theo giới tính. Những con đực thƣờng có nhiều màu sắc hơn các con cái. Sự khác nhau thể hiện rõ nhất ở mùa sinh sản, con đực thƣờng có màu đỏ tƣơi nhƣ cà rốt ở vùng má và vùng cổ, con cái thì thƣờng có màu vàng sáng (Đặng Huy Phƣơng, 2013).
Đặc điểm sinh thái: Thằn lằn cá sấu đƣợc tìm thấy ở độ cao từ 400 – 800m ở Khu bảo tồn Tây Yên Tử. Chúng sống tập trung ở những suối dốc có dòng chảy mạnh, đáy đá, hai bên suối là rừng nguyên sinh còn tốt và thƣờng tập trung ở quanh dƣới chân các thác nƣớc thƣờng là các vùng nƣớc to và sâu. Chúng thƣờng phơi nắng hay nằm ngủ trên các cành cây cạnh chân thác nƣớc. Khi động và phát hiện có kẻ thù chúng có thể lặn xuống nƣớc để lẩn trốn.
Thằn lằn cá sấu hoạt động mạnh từ tháng 4 đến tháng 9.