ĐẶT VẤN ĐỀ Ở Bạc Liêu từ ước đến say người chấn nuồi gầu, bò chỉ sử dụng các giống cỏ ở địa phương và rơm khô làm nguồn thức ăn; việc trồng và sử dụng ø cổ cao sản vẫn còn mới lạ. Đồng thời cũng chưa ai đi sâu nghiên ø tái sinh, năng suất. sản lượng của cỏ. cũng như sử dụng cỏ trồng cho bò ăn.
để đánh giá hiệu quả của nó. Việc nuôi giống bò vàng Việt Nam vài năm gần đây đã bắt đầu mở rộng. đã cò một số trang trại bò qui mô đàn trên 50 con, nhưng việc theo dõi khả năng thích nghĩ, tình hình địch bệnh, khả năng sinh trưởng, sinh sẩn của bò. cũng như đánh giá hiệu quả chăn nuôi bò một cách có hệ thống chưa được đề cập.
Phân bò thường chưa được sử dụng, chỉ một số ít hộ sử dụng bón cho rau màu, cây ăn trái. Việc tan dung phân bò nuôi tràn Quế( một giống trùn cao sản) hoàn toàn mới mẻ với người chăn nuôi ở Bạc Liêu. Vì vậy việc tận dụng nguồn phân bò khá lớn để nuôi trùn vừa với mục đích xử lý chất thải bảo vệ môi trường, vừa tạo nguồn phân hữu cơ vi sinh có giá trị dinh dưêrz co, lại có nguồn trùn làm thức ăn bổ sung có hàm lượng đạm cao, giàu khoáng vi lượng cho gà, tôm, cá là vấn để đáng quan tâm nghiên cứu. Từ yêu cầu thực tế trên, chúng tôi đề xuất thực hiện để tài: Xây dung mô hình kinh tế tổng hợp nuôi bò - gà - trùn.
Mục tiêu của để tài là: Xây dựng mô hình kinh tế tổng hợp, kết hợp chặt chẽ giữa việc trồng một số giống cỏ cao sản, tận dụng rơm khô, bãi chăn thả sau vụ lúa để nuôi bò thịt sinh sản theo phương thức bán chăn thả. Phân bò dùng nuôi trùn Quế, lấy trùn làm thức ăn cho gà thả vườn ( giống gà hướng trứng mới — gà Kabir) và nuôi cá. Nước túi ủ tưới cho cỏ để làm thức ăn cho bò và tạo nguồn thức ăn thủy sinh nuôi cá. Đông thời khảo sát khả năng thích nghi, khả năng sinh trưởng, phát triển và khả năng sinh sản của bò, gà và trùn Quế; cũng như theo dõi các chỉ tiêu kinh tế, hạch toán hiệu quả mô hình qua đó làm cơ sở khuyến cáo nhân rộng mô hình ra sản xuất đại trà, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế và đa dạng hóa giống cây trồng, vật nuôi của tỉnh.
PHẲNH KẾT QUÁ NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC. Ở tất cả những nước kể cả ôn đới và nhiệt đới có nghề chăn nuôi bò sữa phát triển như: Ức. Hà lan, Thái Lan, Ấn Độ .việc nghiên cứu về các giống cỏ cao sản và nghiên cứu về sinh thái đồng cỏ đã được nghiên cứu từ những năm 1960 và hiện nay càng ngày càng được quan tâm và nghiên cứu sâu hơn. Họ đã tạo ra được những giống cỏ và bộ giống cổ hỗn hợp có năng suất và chất lượng rất cao đáp ứng nhu cầu chăn nuôi tiên tiến.
Ở Việt Nam việc nghiên cứu về đồng cỏ và các giống cổ cao sản cũng đã được nghiên cứu từ những năm 1980; sau một thời gian các nông trường chăn nuôi bò sữa kém hiệu quả thu hẹp lại. thì việc nghiên cứu về các giống cỏ cũng bị hạn chế. Những năm gần day đàn bò sữa đang được phát triển lại, thì việc nghiên cứu và nhập nội một số giống cổ cao sản cũng được Viện Chăn Nuôi Quốc Gia và các tỉnh quan tâm. Hiện nay đã nhập nội một số giống cỏ như: cổ Ruzi, cổ Andro, có Sả, có Stylo, cổ Basilisk, có Sỉ Muang, cổ Yanero; đặc biệt bộ giống cổ hỗn hợp gồm.
6 :tống là: Villomix, Aztec, Cardilo, Signal, Jarra, Callide. Năng suất các giếng cổ này rất cao biến động từ 150 - 200 tấn/ha. Cổ Voi (King Grass) là loại cổ đứng đầu các giống cỏ cao sản, đã được nhập vào Việt Nam từ những năm 1970 năng suất có thể đạt 300 tấn/ha. Cũng như giống cỏ, giống bò cũng được nhiều nước nghiên cứu, nhất là bò sữa và bò hướng thịt cao sản; trong đó đứng đầu là Hà Lan, Úc, Anh, Thụy Điển, Thái Lan, Ấn Độ.
Hiện nay nhiều nước, nhiều vùng lãnh thổ đã có những công ty, trang trại, tập đoàn chuyên kinh doanh thịt bò, tạo thành những liên hiệp Nông - Công nghiệp hiện đại từ chăn nuôi - vỗ béo - giết mổ - chế biến - tiêu thụ sản phẩm để đáp ứng sức mua ngày càng tăng của hàng tỷ người trên thế giới. Thịt bò hiện nay được coi là loại “ Thịt đỏ ”. Nghĩa là một loại thực phẩm cao cấp nó có tới 20% đạm, 10% mỡ, 1% khoáng. Đã tạo ra những giống bò thịt có năng suất cao, tỉ lệ thịt xẻ 60 - 70%, thịt lọc 40 - 50%.
Một số giống bò hướng ti-;t như: Bò Charolais, bò Santa Gertrudis, bò Simmental, bò Limousin, bò Hereford, bò Aberdeen Angus, bò Shorthorn, bò Brangus, bò Chacuba.; một số trong những giống bò này đã và đang được nhập vào Việt Nam. II-Giống gà Kabir. Việc nuôi gà công nghiện trên thế siới đã được quan tâm từ những năm 1960. các nước phát triển đã tạo ra ngành cnăn nuôi gà công nghiệp phát triển rất mạnh mẽ.
Họ đã nghiên cứu tạo ra những giống gà chuyên trứng như: Leghor, Isabrown, Hesexbrowrn, Goldline, Hyline. và những giống gà hướng thịt như: A4, Avian, Brownick, Sasso; ngoài ra còn lai tạo, tạo ra một số giống gà thả vườn như: Tam Hoàng, Lương Phượng, Kabir. Các giống gà này đã được nhập vào Việt Nam những năm gần đây và hiện nay đang được nhân rộng. Giống gà Kabir có nguồn gốc từ Essael, với những đặc điểm sau: - Lông mầu nâu đậm, da, chân, mỏ vàng: mào đơn kém phát triển.
- Năng suất trứng 195trứng/ con/ năm. -Trọng lượng trứng bình quân 5Š - 60 ør. -Tuổi rớt hột đầu tiên 2Ò tuần tuổi. -Thể trọng gà mái lúc rớt hột bình quân 1,7 1,8 kg.
IV-Giống trùn Quế. Trùn đất( giun đất) thuộc ngành giun đốt, trong lớp giun ít tơ. Hiện nay trên thế giới có khoảng 2. Ở Việt Nam theo tác giả Thái Trần Bái và Đỗ Văn Nhượng( 1985), ở Việt Nam có 6 họ Trùn, gồm 110 loài trùn đất; trong đó Trùn Quế( Perionyx excavatus) thuộc họ Megascolecidae, đây là loài trùn có khả năng thích nghi với phương thức nuôi công nghiệp đang được nuôi phổ biến trên thế giới.
Thành phần dinh dưỡng của trùn tươi ở Việt Nam như sau(Trần Đắc Ngưu và Trương Quốc Khánh - 1998): Nước 80,29%, protein thô 9,74%, béo thô 2,71%, xơ thô 0,11%, vật chất không có nitơ 5,61%, tro thô 1,08%, Ca xi 0,05%, Phot pho 0,31% ,Trùn Quế có 83,22% protein, trong đó có L7 amino axid, với 9 amino acid không thay thế được. Theo giáo sư Nguyễn Lân Dũng dùng trùn Quế tươi cho gà ăn với số lượng 10 - 15 con/ ngày cho một con gà là thích hợp nhất. PHAN II VAT LIEU VA DUNG CỤ KHẢO SÁT. 1-Vật liệu nghiên cứu a- Giống có: Gôm cô Voi, có Sỉ Muang và bộ giống cỏ hỗn hợp 6 giống sau: Villomix, Aztec, Cardillo, Signal, Jarra, Callide.
Dién tich moi hé 500m*. Cé voi trồng bằng hom, cỏ Ruzi và bộ cổ hỗn hợp gieo bằng hạt. Do điều kiện chúng tôi chỉ mua được một số giống cỏ trên. b- Giống bò: Giống bò Vàng Việt Nam, nguồn gốc mua của HTX nông nghiệp Tầm Phương, huyện Long Thành, tỉnh Trà Vinh.
Số lượng gồm 12 con( trong đó có 10 con bò cái, 2 bò đực). Lứa tuổi khoảng 10 - 11 thang tuổi, trọng lượng từ 100 — 120 kg/con. Gồm 2 nhóm bò: nhóm bò có màu lông vàng nhạt, cổ và chân thon, nho, thể vóc nhỏ( gọi là nhóm 1) và nhóm bò có màu lông vàng đậm, hay trắng xám, chân và cổ thô, lớn, là giống bò địa phương đã được lai tạo với bò Red Sind, thể vóc lớn hơn nhóm bò trên( gọi là nhóm 2). Điểm thí nghiệm ở xã Lộc Ninh( Hồng Dân) năm 2003 có mua bổ sung 01 bò đực LaiSind c- Giống gà: Giống gà Kabir thuần chủng, mua của Công Ty Giống Gia Cầm Miền Nam( Số 20, Nguyễn Thị Minh Khai, Quan I, Thi nh Phố Hồ Chí Minh); số lượng 600 con, gà 1 ngày tuổi, không tách trống, mái.
CÔNG THỨC KHẨU PHẦN THỨC ĂN CỦA GÀ rs Q TT_| Nguyên liệu(%) Gả thịt Gả đẻ — —` I_|Cámto 8 8 2_ | Cám mịn 11 9 3 |Tấm 50 44 4_ | Thức ăn con cò(viên) 18 24 5_ | Bột cálạt 10 10 6 | Bột xương 0,5 ¬ 1 7_ |Bộtsò 0,5 2 8 | Trùn tươi 2 2 Tổng cộng 100 100 TH g1, mm e- Giống Trùn Quế. Giống Trùn Quế mua của Công Ty Trang Trại, Gò Vấp, Thành Phố Hồ Chí Minh. : - Đụng cụ khảo sắt, + Cân dùng cân gà và trứng gà, cân cỏ: Là loại cân đồng hồ của Trung Quốc loại 20kg và loại 5kg. cân tiểu li.
+ Thước dây loại chuyên dụng: đo kích thước chuyển qua trọng lượng bò có qui đổi sẵn. + Thước nhựa 1m và thước dây: loại 2 m dùng đo chiều cao cây cỏ. + Chuéng chan nuôi gà và dụng cụ chăn nuôi: - Chuồng nuôi gà nền bằng đất, lót trấu dầy 5 cm, mái lợp bằng lá dừa nước, xung quanh quây bằng mê bồ. - Máng ăn,máng uống trong giai đoạn úm gà mua loại máng tròn ba mủ; giai đoạn gà lớn máng ăn đóng bằng số, loại mang dài.
Máng uống v sử dụng loại máng tròn loại 4 lít. - Thắp sáng cho gà bằng bóng đèn điện 100 w. +Tủ ấp trứng gà: Dùng loại tủ KCT loại qui mô 320 trứng/mẻ; vừa sử dụng đèn dầu, vừa sử dụng điện với hệ thống Rơle nhiệt tự động. + Chuông bò: Chuồng nền Bê tông lợp bằng lá dừa nước, xung quanh chuồng đóng khung bằng cây tre.
+ Ô nuôi Trùn Quế: 2 hình thức: nuôi trong bao sợi Nylon ( bao thức ăn gia súc) và nuôi trong ô. Ô làm bằng tấm lợp phẳng hoặc xây bằng gạch bể rộng 1 m, chiều đài tùy điều kiện của gia đình. ta PHẨNIV ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. _ 1-Hộ Ông Lý Hồng Hưng.
ấp Trà Ban I, Xã Châu Hưng, huyện Vĩnh Lợi 2-Hộ Ông Trần Hiệp Thuận. ấp Rạch Rắn, xã Long Điền, huyện Đông Hải. 3-Hộ Ông Sử An Bình, ấp Kênh Xáng. xã Lộc Ninh, huyện Hồng Dân.
1I-Phương pháp nghiên cứu 1-Phương pháp chia lô. + Bò: chia làm 3 lô mỗi lô 3 bò cái + 01 bò đực( riêng điểm xã Lộc Ninh, Hồng Dân: 4 bò cái +01 bò đực, do chủ hộ mua thêm). + Gà: chia làm 3 lô. mỗi lô 200 con nuôi đến khi đẻ trứng, loại bán bớt à trống, giữ lại với tỉ lệ I gà trống/ l0 gà mái.