LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong giai đoạn phát triển hiện nay của nền kinh tế Việt Nam, các doanh nghiệp phải đối mặt với sức ép cạnh tranh của các đơn vị kinh doanh cùng ngành nghề trong nước và các công ty có vốn đầu tư nước ngoài. Các doanh nghiệp Việt Nam cần phát huy một cách hiệu quả nhất các nguồn lực hiện có và tận dụng tối đa những ảnh hưởng tốt từ ngoại lực là các chính sách hỗ trợ của Nhà nước như các chính sách hỗ trợ về tín dụng, chính sách đầu tư cho các ngành trọng điểm. Tuy nhiên, việc phát huy các yếu tố nội lực vẫn là những giải pháp được đánh giá có hiệu quả hơn để doanh nghiệp có thể chủ động trong định hướng phát triển của mình.
Phát huy hiệu quả công tác quản trị trong doanh nghiệp như phát huy nguồn lực con người, phát huy nguồn chất xám là chìa khóa để có thể tiếp tục phát huy các nguồn lực vật chất trong doanh nghiệp. Để công tác quản trị doanh nghiệp đạt hiệu quả đặt ra đòi hỏi đối với doanh nghiệp là vận dụng tốt công cụ quản lý như thế nào? Công tác kế toán nói chung, kế toán quản trị nói riêng đóng vai trò trọng yếu trong cung cấp thông tin hữu ích cho nhà quản trị quản lý các yếu tố nguồn lực và đưa ra các quyết sách phù hợp nhất. Ngành sản xuất xi măng Việt Nam phát triển gắn liền với từng bước đi lên và tốc độ đô thị hóa rất nhanh của đất nước. Sau một thời gian tăng trưởng mạnh, từ năm 2010 đến nay, các doanh nghiệp SX xi măng Việt Nam đứng trước tình trạng cung vượt cầu.
Hàng loạt dây truyền, nhà máy mới chạy cầm chừng, thua lỗ, ngừng sản xuất bởi chi phí tăng cao, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được. Khó khăn của ngành xi măng bắt đầu vào thời điểm năm 2010. Xi măng Việt Nam có giá bán thấp nhất khu vực ASEAN luôn ở mức dưới 50 USD/tấn trong khi giá xi măng trung bình trong khu vực là 65-75 USD/tấn. Với nhiệm vụ bình ổn thị trường về giá và nguồn cung, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, từ năm 2008 đến nay giá xi măng chỉ tăng khoảng 30% trong khi giá than nhiên liệu chính để sản 2 xuất xi măng đã tăng gấp 4 lần, giá điện, xăng, dầu cũng điều chỉnh liên tục.
Cuối năm 2010, doanh nghiệp xi măng chịu thêm sức ép của việc tăng tỷ giá hối đoái giữa VNĐ và USD, lãi xuất ngân hàng tăng cao nên chi phí cấu thành nên giá thành của ngành xi măng tăng thêm 22-30%. Nguyên nhân cơ bản của việc sản lượng xi măng tiêu thụ giảm là do lạm phát tăng cao, đầu tư công từ những công tình hạ tầng, công sở đến những công trình dân dụng đều cắt giảm; thị trường bất động sản “đóng băng”, hàng loạt dự án, khu đô thị, nhà ở dừng khởi công, giãn tiến độ hoặc ngừng thi công… Do đó, các nhà máy xi măng hiện nay đang thực hiện sản xuất cầm chừng với 75-80% công suất thiết kế. Sản lượng tiêu thụ của các nhà máy chỉ đạt 85% công suất. Các doanh nghiệp SX xi măng với các dự án đầu tư mới phải lùi thời gian triển khai đến 2016 hoặc sẽ bị thua lỗ.
Đây là bài toán khó cho các doanh nghiệp SX xi măng Việt Nam cần vận động để tháo gỡ khó khăn với các giải pháp mang tính đồng bộ từ khâu sản xuất đến tiêu thụ. Quá trình này đòi hỏi các nhà quản trị kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh và ra quyết định phù hợp. Các doanh nghiệp sản xuất xi măng lớn như: Xi măng Bỉm Sơn; Xi măng Nghi Sơn; Xi măng Công Thanh; xi măng Hoàng Mai, xi măng Hoàng Thạch. liên tục áp dụng các sáng kiến kinh nghiệm và các tiến bộ trong kỹ thuật sản xuất để có thể giảm chi phí đầu vào đồng thời nâng cao chất lượng và sản lượng sản xuất.
Tuy nhiên, các đơn vị vẫn chưa khai thác được công cụ quản lý kinh tế để kiểm soát chi phí hữu hiệu là kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp mình. Câu hỏi đặt ra đối với các nhà quản lý là phải làm sao để phát huy được các nguồn lực hiện có, nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể tồn tại và phát triển được trong giai đoạn khó khăn này. Phát huy vai trò cung cấp thông tin của kế toán quản trị đối với quá trình ra quyết định của các nhà quản lý nội bộ trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng là một trong những giải pháp hiệu quả. Mặt khác, tác giả muốn phát triển ứng dụng của kế toán quản trị trong bối cảnh cụ thể của các doanh nghiệp sản xuất xi măng Việt Nam để từ đó phát triển lý thuyết (Các nhân tố tác động trong thiết kế mô hình kế toán quản trị) và lựa chọn mô hình hiện đại để vận dụng phù hợp với các doanh nghiệp sản xuất xi măng Việt Nam.
3 Từ những lý do trên đây, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng Việt Nam” làm đề tài luận án tiến sỹ của mình để có thể phát triển năng lực nghiên cứu khoa học đồng thời giúp cho ngành sản xuất xi măng phát triển hơn nữa trong công tác quản trị chi phí. Tổng quan đề tài nghiên cứu Kế toán quản trị chi phí là công cụ cung cấp thông tin phục vụ công tác quản trị chi phí trong các doanh nghiệp. Tại các quốc gia trên thế giới, các chuyên gia kế toán đã quan tâm và nghiên cứu về kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí nói riêng nhằm giải quyết những bài toán kinh tế khó khăn trong các doanh nghiệp. Một số lượng lớn các học giả đã và đang xây dựng quan điểm về Kế toán quản trị trong phạm vi chung như các công trình nghiên cứu của Hesford et al (2007), Ittner và Larcker (1998b), Otley et al (2007), Scapén và Brơmich (2001), Selto và Widener (2004), Shields (1997) và Young and Selto (1991).
Nhìn chung, những nghiên cứu đưa ra quan điểm tổng quát về kế toán quản trị. Cụ thể với nội dung kế toán quản trị chi phí đã có nhiều nhà nghiên cứu tại các nước châu Á và Châu Mỹ như John Blake, Oriol Amat & Philip Wraith (2008), “Developing a new national management accounting framework- the Spanish case” định hướng mô hình kế toán quản trị chi phí trong từng loại doanh nghiệp. Sự phát triển của các doanh nghiệp đòi hỏi thông tin cung cấp cho các nhà quản trị cần đáp ứng kịp thời. Về vai trò của quản trị chi phí và kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp, Nguyễn Ngọc Huyền (2000) đã trình bày và luận giải những vấn đề về chi phí kinh doanh, khẳng định phân tích và quản trị chi phí kinh doanh là công cụ không thể thiếu trong quản trị các doanh nghiệp công nghiệp.
Tác giả đã xây dựng phương pháp tính chi phí kinh doanh theo điểm dạng bảng và đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm triển khai công cụ tính chi phí kinh doanh ở các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng khi xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí cho một đơn vị đã được nhiều nhà khoa học thực hiện và đã chỉ ra các nhân 4 tố tác động.P (2003) cho rằng việc thiết kế hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí phụ thuộc vào đặc điểm riêng của từng doanh nghiệp và yêu cầu riêng của từng bộ phận trong hệ thống. Khi thiết kế hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí chịu ảnh hưởng của quy trình kỹ thuật, sơ đồ tổ chức, các bộ phận liên quan của hệ thống thông tin và sự tương tác giữa chúng trong doanh nghiệp. Trong một nghiên cứu khác về khả năng áp dụng hệ thống thông tin kế toán quản trị chi phí vào các nước đang phát triển, nhóm nghiên cứu gồm Michele Pomberg, Mamid Pourjalali, Shirley Daniel và Marinilka Barros (2012), nghiên cứu về điều kiện áp dụng các phương pháp quản trị chi phí hiện đại như phương pháp Activity- Based Cost (ABC), phương pháp Just in time (JIT) vào các bệnh viện Việt Nam.
Nghiên cứu đã thực hiện khảo sát tại 53 bệnh viện tại Hà Nội và 9 tỉnh lân cận đã đưa ra kết luận: Khi môi trường và các quy định (các chính sách của Nhà nước về y tế, những cải tổ về tổ chức của hệ thống y tế…) và nhu cầu thông tin về chi phí của các CFO đòi hỏi các bệnh viện Việt Nam cần phải chấp nhận các lý thuyết quản trị cao cấp. Tiếp nối nghiên cứu này, Simom Yu Kit Fung (2012) đã nghiên cứu về các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng việc vận dụng các phương pháp quản trị hiện đại tại các bệnh viện như tự do trong kinh doanh dịch vụ y tế, quyền chăm sóc sức khỏe và cơ chế tự chủ tài chính.Jawabreh (2012) khi nghiên cứu về vận dụng hệ thống kế toán quản trị chi phí vào các khách sạn ở Jodhpur – Ấn Độ thì nhân tố tác động trực tiếp là cơ sở vật chất để thực hiện kế toán, trình độ của nhân viên kế toán là hai nhân tố tác động trực tiếp. Thiết kế kế toán quản trị phù hợp với điều kiện cụ thể của các doanh nghiệp là chủ đề được quan tâm và giải quyết trong công trình nghiên cứu của Gerdin/Accounting, Organizations and Society 30 (2005)- “Management accounting system design in manufacturing departments: an empirical investigation using a multiple contingencies approach”. Để phân tích các nhân tố tác động bên trong doanh nghiệp đến lựa chọn mô hình kế toán quản trị tác giả đã khảo sát 126 doanh nghiệp thuộc các ngành nghề kinh doanh khác nhau trên thế giới và đã khẳng định được ảnh hưởng của hai nhân tố bên trong của doanh nghiệp tác động trực tiếp đến thiết kế kế toán quản trị là: Cấu trúc tổ chức (Bộ máy quản lý) và sự phụ thuộc 5 lẫn nhau giữa các phòng ban.
Các nghiên cứu trên đã chỉ ra các nhân tố tác động đến việc thiết kế hệ thống kế toán quản trị chi phí tại các doanh nghiệp bao gồm các nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Kiểm soát chi phí luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các cấp quản trị, các nhà quản trị cần có công cụ kiểm soát.