Chương 1: MỘT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE MÔ HÌNH TTHT VÀ TSHT 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài: 1. Báo chí Có rất nhiều khái niệm về báo chí, nhưng theo cuốn Từ điền Tiếng Việt do GS Hoàng Phê chủ biên, thì khái quát về báo chí là “báo và tạp chí” xuất bản định kỳ, xuất bản ấn phẩm định kỳ. Tại Luật Báo chí năm 2016, khái niệm báo chí là: “Sản phâm thông tin về các sự kiện, các vấn đề trong đời sống xã hội thé hiện băng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử” [Mục 1; Điều II: Giải thích từ ngữ].
16 Còn ở sách “Một số nội dung cơ bản về nghiệp vụ báo chí, xuất bản”, của tác giả Nguyễn Thị Trường Giang (NXB Thông tin và truyền thông năm 2013) nêu: Báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng truyền tải thông tin về các sự kiện, sự việc, hiện tượng đã và đang diễn ra trong hiện thực khách quan một cách nhanh chóng, chính xác và trung thực đến đông đảo công chúng nhăm tích cực hóa đời sống thực tiễn” [trang 36]. Riêng tác giả Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hằng viết trong sách Truyền thông — Lý thuyết và kỹ năng co bản, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội năm 2006 đưa ra khái niệm: “Báo chí hiện đại có thể được hiểu là những ấn phẩm xuất bản định kỳ (hoặc không định kỳ như báo điện tử) được sản xuất với khối lượng lớn, phát hành rộng rãi đến đông đảo dân cư (công chúng). Khái niệm báo chí theo nghĩa rộng được dùng dé chỉ các sản phâm phát hành thông qua các loại hình báo in, phát thanh, truyền hình và báo mạng điện tử” [trang 36]. Tòa soạn báo chí Cũng như bao chí, khái nệm về tòa soạn có rất nhiều quan niệm, cách hiểu khác nhau.
Do báo chí ra đời rất sớm tại các nước phương Tây nên họ xem tòa soạn như “nhà máy, xí nghiệp”, “chế biến” ra các tác phẩm báo chí như tin, bài, phóng sự. dé thu lợi nhuận về kinh tế và uy tín về chính trị, xã hội. Tại Việt Nam, khái niệm về tòa soạn cũng chưa có sự thong nhất cao. Nếu căn cứ vào Luật Báo chi năm 2016 thì khái niệm tòa soạn cũng chưa đề cập cụ thể, rõ ràng.
Theo đó, tại Điều 16, Luật Báo chí năm 2016 chỉ nêu: “Cơ quan báo chí là cơ quan ngôn luận của các cơ quan, tô chức quy định tại Điều 14 của luật này, thực hiện một số loại hình báo chí, có một hoặc một số sản phẩm bao chí theo quy định của luật này”. Vì vậy, có không ít ý kiến cho răng, tòa soạn là nơi sản xuât và phát hành báo chí. Trong tòa soạn có nhiêu vi 17 trí đảm nhận các nhiệm vụ khác nhau như Tổng, Phó tổng biên tập, Thư ký tòa soạn, biên tập viên, phóng viên, họa sĩ cho đến bô phận maketing, thương mại, phụ trách quảng cáo, in ấn và phát hành. Ý kiến khác lại cho rằng, tòa soạn báo chính là trụ sở làm việc của cơ quan báo chí, hai khai niệm đồng nghĩa nhưng khác nhau về cách gọi.
Tuy có những cách hiểu khác nhau nhưng tòa soạn báo chính là trụ sở làm việc của cơ quan báo chí đã được giới báo chí và công chúng báo chí thừa nhận hơn cả. Vì lý do này, trong bối cảnh hiện nay mới xuất hiện khái niệm toà soạn hội tụ, tòa soạn DPT dé hình thành co quan báo chí HT TT. Truyền thông Cũng đã có không ít quan niệm về truyền thông được diễn đạt khác nhau, trong đó các học giả quốc tế như John R. Hober cho rằng: Truyền thông là quá trình trao đổi tư duy hoặc ý tưởng hoặc bằng lời nói.
Còn nhà nghiên cứu người Anh, Dean C. Barnlund thì nhắn mạnh: Truyền thông là quá trình liên quan nhằm làm giảm độ không rõ để có thé có hành vi hiệu quả hơn. Ở gốc độ khác, GS truyền thông người Mỹ, Frank Dance khang định: Truyền thông là quá trình liên tục, qua đó chúng ta hiểu được người và làm cho người khác hiểu được chúng ta. Ở trong nước, hai tác giả Nguyễn Văn Dững và Đỗ Thị Thu Hăng đưa ra khái niệm trong sách Truyền thông — Lý thuyết và kỹ năng cơ bản (NXB Lý luận Hà Nội năm 2006): Truyền thông là quá trình liên tục trao đôi, chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng dé tạo nên sự liên kết lẫn nhau dé dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức.
Truyền thông ra đời và phát triển do nhu cầu khách quan của xã hội về thông tin, giao tiếp của loài người, đo trình độ và điều kiện kinh tế, xã hội cũng như sự phát triển của khoa học kỹ thuật [trang 14-15]. Còn tác giả Dương Xuân Sơn viết trong Giáo trình Ly luận báo chí 18 truyền thông, NXB Giáo dục năm 2015: Truyền thông là quá trình liên tục trao déi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng dé tạo nên sự liên kết lẫn nhau dé dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức [trang 7-9]. Từ những quan niệm trên, có thể hiểu: Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin giữa hai hay nhiều người dé tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Việc thay đổi nhận thức, điều chỉnh hành vi, thái độ phù với yêu cầu phát triển của nhóm hoặc cộng đồng hay xã hội và của cá nhân.
Qua đó cho thấy, truyền thông là khái niệm tương đối rộng, phản ánh quá trình trao đồi, tương tác thông tin của con người trong đời sống xã hội. Là sự liên kết xã hội và là động lực dé kích thích sự phát triển của xã hội. Khi nói về truyền thông thì ít nhất phải có từ 2 tác nhân trở lên tương tác thông tin qua lại lẫn nhau nhằm tạo ra hiệu ứng chung. Trong trường hợp đơn giản, thông tin truyền từ người này, gửi đến người kia (nhận).
Còn ở dạng phức tạp thì các thông tin được trao đổi, liên kết từ người gửi đến người nhận. Quá trình phát triển truyền thông là quá trình tạo khả năng để một hoặc nhiều người hiểu được những gì mà người truyền đạt, nắm đước nội dung, ý nghĩa của thông tin đó. Như vậy, có thé hiểu truyền thông là một quá trình diễn ra theo trình tự thời gian, không gian nhất định. Trong đó gồm không gian xác định hoặc không gian mở từ các yếu tố cần có như nguồn, thông điệp, kênh, đối tượng nhận, sự phản hôi.
Truyền thông hội tụ Trong tiếng Việt, “Hội tụ” là gặp nhau ở cùng một điểm. Khái niệm này được dùng nhiều trong các môn khoa học tự nhiên như Toán, Lý. Còn từ điển tiếng Anh, “Hội tụ” — Convergence có nghĩa là sự gặp nhau, sự kết hợp của hai hay nhiều thực thể khác nhau. Theo từ điển Oxford Dictionnary (trực tuyến) thì hội tụ là khi các chủ thể đến từ nhiều hướng khác nhau nhưng 19 chúng gặp nhau tại mội điểm hay một nơi.
Như vậy, có thể hiểu khái quát rằng, hội tụ là sự hướng tới một điểm chung, mục tiêu hoặc kết quả giữa hai ý tưởng hay tình huống khác nhau. Nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy, vào năm 1978, Nicholas Negroponte một Giáo sư về công nghệ truyền thông của Mỹ đã đưa ra khái niệm sơ khai về hội tụ. Đến năm 1983, GS Ithielde Sola Pool tại Học viện Công nghệ Mỹ (MIT) đưa ra khái niệm chính thức về HTTT. GS Pool cho răng, khi kỹ thuật số phát triển mạnh mẽ thì các loại hình truyền thông riêng lẻ sẽ hội tụ với nhau.
Nói cách khác, xu hướng TTHT là xu hướng không có ngăn cách mà có sự hòa quyện giữa các loại hình báo chí, đây là hình thức biểu hiện chung của HTTT.——— lnốn, f / : Điện ảnh ⁄ Xuất ban Í_ PT-THV \ ands, \ / fo \ | Điện ánH [Xuất bản ị | i ` | Congnghe | oe \ théng tin / SỐ. ra Công nghệ — _— thông tin am 19°78 Naan 30011 Mô hình HTTT của Nicholas Negroponte. McCrudden viết trong cuốn TTHT: “TTHT là sự giao thoa giữa mô hình truyền thông mới và truyền thông truyền thống”[trang 38]. Tác giả đã lấy internet làm hạt nhân và là phương tiện trụ cột nhất.
MeCrudden The = & INTERNET Tren điện tử =“ hin mS Phat thanh Mô hình TTHT của McCrudden. (Nguồn: Tạp chí Người lam báo) 20 Từ mô hình TTHT của McCrudden cho thấy, các phương tiện truyền thông mới và truyền thông truyền thong hoàn toàn có thé tương tác với nhau theo sự phát triển của KHCN, đặc biệt là công nghệ số. Vì vậy, báo in, truyền hình và phát thanh sẽ bị internet tắn công và buộc các loại hình báo chí này phải dựa vào internet để phát triển trong môi trường TTHT. Khi đó, công chúng sẽ tim thấy bat cứ thông tin nào đã đăng phát trên các loại hình báo chí đều sẽ có trên internet.
Từ yếu tố này, tác giả của sách “Báo chí hội tụ, viết và đưa tin thông qua phương tiện truyền thông mới”, Janet Kolodzy nêu khái niệm về TTHT, là một quá trình diễn ra liên tục, phát triển dựa trên sự kết hợp của 4 yếu tố: Nền tảng công nghiệp truyền thông, đối tượng, nội dung và công nghệ truyền thông. Còn PGS-TS Đinh Thị Thúy Hằng trong sách “Báo chí thế giới và xu hướng phát triển”, xuất bản năm 2008 đưa ra hai yếu tố gồm: Thứ nhất, CNTT đã đưa đến việc liệp hợp các hình báo chí khác nhau vào trong cùng một phương thức hoạt động. Các loại hình báo chí gồm báo in, truyền hình, phát thanh, phim ảnh được hết hợp, hội tụ với nhau để tạo ra các dịch vụ, sản phẩm đến người sử dụng. Thứ 2, sự tập trung sở hữu truyền thông đại chúng khi các công ty, đơn vị, tập đoàn báo chí, sở hữu nhiều loại hình báo chí khác nhau đẫn đến sự hội về báo chí và về kinh tế.
PGS-TS Nguyễn Thành Lợi đã nhấn mạnh về khái niệm TTHT theo hai nghĩa: Ở nghĩa hẹp, HT TT là sự tích hợp các loại hình báo chí dé tạo ra sự thay đổi về chất và hình thành một loạt phương tiện truyền thông mới như mạng xã hội, sách điện tử, blog. Ở nghĩa rộng, HTTT có phạm vi bao quát hơn, gồm việc kết hợp tất cả các phương tiện truyền trông và cả sự hội tụ về chức năng, đưa tin, quyền sở hữu, cơ cấu tổ chức của cơ quan báo chí truyền thông. Nói cách khác, TTHT là một quá trình phát triển mô hình tổ chức và 21 hoạt động của các cơ quan báo chí từ thâp đên cao.