mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm 16 Luận văn thạc sĩ Báo chí học biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả”.113] Như vậy, các quan niệm trên tương đối thống nhất với đề xuất trong từ điển Tiếng Việt về cách hiểu “chương trình”. Quan niệm của PGS.TS Dương Xuân Sơn là sự cụ thể hóa cách hiểu thứ hai về thuật ngữ “chương trình truyền hình” của GS.TS Tạ Ngọc Tấn. Từ các quan điểm, có thể hiểu Chương trình là toàn bộ những nội dung dự kiến hành động theo một trình tự nhất định và trong một thời gian nhất định. Chương trình là một loạt các hoạt động được thực hiện với sự hỗ trợ của các nguồn lực nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể cho các nhóm khách hàng, nhóm đối tượng đã được định sẵn.
Tác giả Trần Bảo Khánh trong cuốn Sản xuất các chương trình truyền hình viết “Chương trình truyền hình là kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công chúng” [18, tr 30] và “Chương trình tạo thành chu kỳ khép kín những mắt xích trong chuỗi giao tiếp” [18, tr 30]. Điều này có thể được lý giải là bởi CTTH được tiếp nhận bởi các đối tượng công chúng cụ thể. Cũng theo tác giả Trần Bảo Khánh, CTTH đề cập đến các vấn đề của đời sống xã hội không phải một cách ngẫu nhiên như vẫn diễn ra, mà nó thường truyền tải các thông tin từ ngày này sang ngày khác, nhằm phục vụ một công chúng xác định [18, tr 30]. Như vậy, Chương trình truyền hình là sản phẩm lao động của một tập thể các nhà báo và các cán bộ kỹ thuật dịch vụ.
Đồng thời đó cũng là quá trình giao tiếp truyền thông giữa những người làm truyền hình với công chúng xã hội. Những thông tin mà nó cung cấp sẽ góp phần làm sâu sắc thêm những tư tưởng, chủ đề và lâu dài sẽ hình thành thói quen trong tư duy và hành động của người tiếp nhận. Các tác phẩm tin, bài phát trên các kênh sóng truyền hình vì vậy phải được lựa chọn, sắp xếp hợp lý để khán giả có thể tiếp nhận chương trình một cách đầy đủ, hệ thống và có chiều sâu. Mở rộng ra, sự lựa chọn đó bao gồm cả lựa chọn về chủ đề, nội dung và phương pháp 17 Luận văn thạc sĩ Báo chí học thể hiện, phù hợp với tâm lý tiếp nhận của con người.
Và chính sự lựa chọn đó sẽ quy định danh mục chương trình được lên sóng trên các Đài truyền hình. Nội dung chuyên đề truyền hình Trong các tài liệu tham khảo, chưa có nhiều nghiên cứu cụ thể về CĐTH. Theo Từ điển tiếng Việt, “chuyên đề là vấn đề chuyên môn có giới hạn, được nghiên cứu riêng” [30, tr. Như vậy, khái niệm “chuyên đề” được hiểu bao gồm “chuyên” và “đề”.
Trong đó, “chuyên” là chuyên sâu, chuyên biệt; “đề” là vấn đề, đề tài, chủ đề. Từ phân tích trên cho thấy “chuyên đề” là vấn đề chuyên môn, chuyên biệt, chuyên sâu về một vấn đề, chủ đề hay đề tài nào đó, được biểu hiện thông qua nhiều góc độ, nhằm làm sâu, làm rõ bản chất, sự việc, hiện tượng được nêu ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, được các Đài chỉ đạo, tổ chức thực hiện phát định kỳ trên sóng truyền hình. Sự ra đời tất yếu của CĐTH nhìn từ hai góc độ. Thứ nhất, từ phía cơ quan báo chí truyền hình: CĐTH là khái niệm chỉ nhiệm vụ chuyên môn của nhà báo trong việc nắm bắt và phản ánh các chủ đề, lĩnh vực chuyên môn thực tiễn theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí.
Thứ hai, từ phía công chúng tiếp nhận: CĐTH là khái niệm dùng để chỉ cách thức cấu trúc thông tin về các mặt, các lĩnh vực, vấn đề thực tiễn mà Đài Truyền hình phản ánh phục vụ các nhóm đối tượng chuyên biệt. Dựa trên những khái niệm, có thể rút ra: Chuyên đề truyền hình là chuỗi tác phẩm truyền hình được phát sóng định kỳ, có nội dung chuyên sâu, chuyên biệt về một vấn đề, chủ đề hay đề tài nào đó, được phản ánh trên quan điểm, lập trường của cơ quan báo chí và hướng tới một đối tượng công chúng xác định. CĐTH là những chương trình phản ánh hiện thực khách quan những vấn đề mang tính thời sự. Nội dung chuyên đề không mang tính hư cấu mà phản ánh thực tiễn cuộc sống.
18 Luận văn thạc sĩ Báo chí học CĐTH gồm các đề tài, thể loại truyền hình được xâu chuỗi lại nhằm phản ánh, làm rõ về một hay nhiều vấn đề, sự kiện được khán giả quan tâm muốn tìm hiểu sâu. Về nội dung CĐTH, Từ điển tiếng Việt định nghĩa “Nội dung là mặt bên trong của sự vật cái được hình thức chứa đựng hoặc biểu hiện”. Có thể hiểu từ định nghĩa này, nội dung là những gì chứa đựng bên trong đối tượng hay phương tiện truyền thông làm ra và hướng đến người dùng. Kết hợp với nội dung một tác phẩm báo chí gồm nhiều yếu tố làm nên trong đó có đề tài, chủ đề và chi tiết, là những yếu tố góp phần đem thông tin đến cho công chúng được đề cập trong cuốn Tác phẩm báo chí của Phân viện Báo chí và Tuyên truyền.
Từ đó, có thể hiểu: Nội dung chuyên đề truyền hình đó là thông tin, thông điệp (đề tài, chủ đề, chi tiết) về sự kiện, sự việc nào đó được gửi đến công chúng qua loại hình truyền hình. Quản trị nội dung chuyên đề truyền hình Quản trị trong tiếng Anh có nghĩa là Administration. Theo Từ điển tiếng Việt, “Quản là trông coi, điều khiển”, “Trị là đưa vào khuôn khổ”, “Quản trị có nghĩa là quản lí, điều hành công việc hàng ngày” [29, tr. Nếu hiểu theo nghĩa này, quản trị là một khái niệm rất rộng, bao gồm ở nhiều lĩnh vực như quản trị quản trị hành chính (trong các tổ chức xã hội), quản trị kinh doanh (trong các tổ chức kinh tế)… Mary Parker Follett (1868-1933) Nhà lý thuyết quản lý Hoa Kỳ trong lý thuyết quản lý cổ điển đã cho rằng “quản trị là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua người khác”.
James Stoner (1935) - Giáo sư của Hệ thống quản lý tại Trường Quản trị Kinh doanh Gabelli của Đại học Fordham đồng thời là Chủ tịch James A.Stoner Fordham trong Lãnh đạo Chất lượng Toàn cầu và tác giả Stephen Robbins định nghĩa về quản trị: “Quản trị là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh 19 Luận văn thạc sĩ Báo chí học đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra”. Hà Văn Hội trong bài viết “Khái niệm và bản chất của quản trị” đăng trên trang Web quantri.vn thì “Quản trị là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của những người khác; quản trị là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức”. Theo bài viết “Quản trị là gì? Một nhà quản trị giỏi cần những gì?” của tác giả Nguyễn Văn Hùng, Viện Công nghệ quản trị Á Châu đăng trên trang web vuahocvualam.com thì “Quản trị là phối hợp hiệu quả các hoạt động của người cùng chung trong tổ chức. Đây là quá trình nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra bằng việc phối hợp nguồn lực của tổ chức.
Quản trị còn là quá trình các nhà quản trị hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra”. Tác giả Thu Hằng trong bài viết “Quản trị là gì? Phân biệt quản trị và quản lý”, quản trị là tiến trình thực hiện các hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác. Quản trị giúp tìm ra phương thức phù hợp để công việc hiệu quả cao nhất, chi phí ít nhất. Ba yếu tố điều kiện cơ bản của quản trị, đó là: Chủ thể quản trị: Là các nhân tố tạo ra các tác động quản trị, đối tượng quản trị tiếp.
Mục tiêu đặt ra cho chủ thể quản trị và đối tượng: Đây là căn cứ để chủ thể tạo ra các nhân tố tác động. Chủ thể quản trị gồm một hoặc nhiều người. Đối tượng là một tổ chức, một tập thể hoặc thiết bị máy móc. Nguồn lực: Nguồn lực giúp chủ thể quản trị khai thác trong quá trình quản trị.
Quản trị và quản lý là hai khái niệm dễ gây nhầm lẫn. Theo Từ điển Tiếng Việt, “Quản lý là trông coi và gìn giữ; là tổ chức và điều khiển các hoạt động của con người theo yêu cầu nhất định” [27, tr.Mác 20 Luận văn thạc sĩ Báo chí học thì “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động”. Luận điểm này của C.Mác có thể áp dụng với mọi hoạt động chung của con người trong xã hội. Theo tác giả Vũ Quang Hào thì khái niệm “Quản lý được hiểu là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện tác động của môi trường”.
Như vậy, quản lý là những tác động có mục tiêu, có kế hoạch, đòi hỏi phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định trong mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý. Hiệu quả của hoạt động quản lý phụ thuộc vào cơ cấu của tổ chức. Có thể rút ra: Quản trị và quản lý đều nói về công việc của người lãnh đạo khi vận hành một cơ cấu tổ chức nào đó. Quản trị là toàn bộ quá trình đưa ra các quyết định về chính sách, quy tắc, mục tiêu.
Đây là các hoạt động cấp cao. Quản lý là tiếp nhận, kết nối, thi hành điều phối để hướng tới mục tiêu của quản trị. Từ các khái niệm về “chuyên đề”, “nội dung chuyên đề truyền hình”, “quản trị”, tác giả rút ra khái niệm: Quản trị nội dung CĐTH là sự tác động có tổ chức, mục đích của những người làm công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức sản xuất các CĐTH. Quản trị nội dung CĐTH là thông qua lực lượng phóng viên, biên tập viên, quay phim, đạo diễn, kỹ thuật dựng, phát thanh viên… để làm ra thành phẩm các chuyên đề phát trên sóng truyền hình, không chỉ đáp ứng nhu cầu thông tin mà còn giúp khán giả có thêm kiến thức từ những nội dung chuyên sâu.
Chủ thể của quản trị CĐTH là người quản lý, chỉ đạo, tổ chức sản xuất các chuyên đề.