CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT ÁP DỤNG MÔ HÌNH HỢP ĐỒNG BT ĐỂ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TƯ NHÂN ĐẦU TƯ VÀO HẠ TẦNG GIAO THÔNG 1.1 Khái niệm hạ tầng giao thông Thuật ngữ cơ sở hạ tầng được sử dụng lần đầu tiên trong lĩnh vực quân sự. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai nó được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau như: giao thông, kiến trúc, xây dựng… Đó là những cơ sở vật chất kỹ thuật được hình thành theo một “kết cấu” nhất định và đóng vai trò “nền tảng” cho các hoạt động diễn ra trong đó. Với ý nghĩa đó thuật ngữ “ cơ sở hạ tầng” được mở rộng ra cả các lĩnh vực hoạt động có tính chất xã hội để chỉ các cơ sở trường học, bệnh viện, rạp hát, văn hoá. phục vụ cho các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá… Hoạt động sản xuất vật chất là sự kết hợp sức lao động của con người với tư liệu sản xuất theo một công nghệ nhất định nhằm tạo ra được sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của con người và cho xã hội.
Đối với những công nghệ sản xuất tiên tiến có mức độ chuyên môn hoá, hiện đại hoá cao thì sức lao động trực tiếp của con người được giảm bớt và thay vào đó là kỹ năng quản lý, vận hành, giám sát quá trình hoạt động của công nghệ cũng như các kỹ năng bảo trì, bảo dưỡng. Trong tư liệu sản xuất có một bộ phận cũng tham gia vào quá trình này với tư cách là cơ sở, phương tiện chung hoặc làm nền tảng mà nhờ đó các hoạt sản xuất và dịch vụ, thương mại được thực hiện. Bộ phận này được hiểu là CSHT. Sau đây là một số khái niệm về CSHT: Theo quan điểm triết học: CSHT là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định.
CSHT của một xã hội cụ thể bao gồm quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội cũ và quan hệ sản xuất mầm mống của xã hội tương lai trong đó quan hệ sản xuất thống trị bao giờ cũng giữ vai trò chủ đạo chi phối các quan hệ sản xuất khác. Nó quy định xu hướng chung của đời sống kinh tế xã hội. Bởi vậy CSHT của một xã hội cụ thể được đặc trưng bởi quan hệ sản xuất thống trị trong xã hội đó. Tuy vậy, quan hệ 14 sản xuất tàn dư của xã hội cũ và quan hệ sản xuất của xã hội mầm mống cũng có những vai trò nhất định1.
Từ điển tiếng Anh Oxford định nghĩa CSHT: “cơ sở hạ tầng là một thuật ngữ tổng hợp để chỉ những bộ phận kết cấu, nền tảng cho việc phát triển nền kinh tế”. Ngân hàng Thế giới đưa ra cách định nghĩa CSHT bằng việc chỉ ra những lĩnh vực liên quan và cho rằng những tài sản vốn để hình thành những lĩnh vực này được xem là CSHT. Theo EPAC (Economic Planning and Advisory Commission - Hội đồng Kế hoạch và Tư vấn kinh tế) CSHT bao gồm “những tài sản cố định nhằm cung cấp các dịch vụ cơ bản trong một khoảng thời gian dài và trong thời gian đó Chính phủ đóng vai trò quan trọng thông qua một, một số hoặc tất cả các chức năng như kế hoạch, thiết kế, cấp vốn, xây dựng, vận hành và quản lý bằng pháp luật”. Theo quan điểm của một số chuyên gia Nhật Bản cho rằng: “Cơ sở hạ tầng là nền tảng mang tính hệ thống duy trì toàn bộ đời sống kinh tế quốc dân và cho hoạt động sản xuất, là tài sản có tính công cộng mà không thể đảm bảo cung cấp đủ bằng cơ chế thị trường”.
Từ các quan điểm của các nhà kinh tế về CSHT nêu trên, có thể rút ra một số nhận xét sau: Thứ nhất, xét trên phương diện hình thái, CSHT được biểu hiện là những tài sản hữu hình như hệ thống đường xá, cầu cống, bến cảng, hệ thống thuỷ lợi, các công trình bệnh viện, trường học, bưu chính viễn thông, lực lượng lao động có tri thức. Dựa trên cơ sở đó, các hoạt động kinh tế - văn hoá - xã hội được duy trì và phát triển. Thứ hai, xét trên góc độ kinh tế hàng hoá thì dịch vụ CSHT được coi là một loại hàng hoá công cộng. Loại hàng hoá này phục vụ cho lợi ích của toàn xã hội.
Thứ ba, xét trên phương diện đầu tư, CSHT chính là kết quả, sản phẩm của quá trình đầu tư được tích luỹ, gom góp qua nhiều thế hệ. Nó là một bộ phận giá trị tiết kiệm quốc gia, được đầu tư đáp ứng yêu cầu, mục tiêu phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội của đất nước. Từ sự phân tích trên có thể đi đến nhận định tổng quát: CSHT được hiểu là toàn bộ những điều kiện vật chất, kỹ thuật, cơ chế hoạt động, thiết chế xã hội được 1 Giáo trình triết học Mác - Lênin – NXB chính trị quốc gia tháng 8 năm 2006, trang 296, 297. 15 trang bị các yếu tố vật chất và môi trường phục vụ cho hoạt động sản xuất và đời sống con người.
CSHT vừa có yếu tố vật chất, vừa có yếu tố phi vật chất và nó chính là sản phẩm của quá trình đầu tư làm nền tảng cho sự phát triển toàn diện của một xã hội. CSHT GT bao gồm toàn bộ điều kiện vật chất kỹ thuật như: Hệ thống cầu, đường bộ, các công trình, thiết bị phụ trợ, các trạm nghỉ đường bộ và thể chế chính sách quản lý cũng như môi trường hoạt động gắn với GT để đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH. Chính vì vậy, CSHT GT rất đa dạng, gồm nhiều bộ phận khác nhau, mang cả 2 hình thái vật chất và hình thái phi vật chất. Theo quy định tại Điều 3 Luật Xây Dựng hiện hành của Việt Nam về Giải thích từ ngữ : “Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật gồm công trình giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn, nghĩa trang và công trình khác”.
Và các giải thích từ ngữ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ được quy định tại Điều 3 Luật Giao thông đường bộ hiện hành cũng thể hiện: “Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ gồm công trình đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ và các công trình phụ trợ khác trên đường bộ phục vụ giao thông và hành lang an toàn đường bộ” Như vậy, khái niệm về CSHT GT của Việt Nam cũng khá tương đồng so với các cơ sở lý luận trên thế giới hiện nay.2 Khái niệm huy động vốn vào đầu tư công 1.1 Vốn Thứ nhất, vốn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản. Điều này có nghĩa là vốn phải đại diện cho một lượng giá trị thực của tài sản hữu hình và vô hình (TLSX, đất đai, nguyên vật liệu, thông tin. Một lượng tiền được phát hành khống vào lưu thông, không có giá trị đảm bảo hay các khoản nợ không có khả năng thanh toán cũng không thể được gọi là vốn. Thứ hai, vốn phải gắn với chủ thể sở hữu nhất định, không có khái niệm vốn vô chủ.
Vì vậy, ở đâu không xác định đúng chủ sở hữu vốn, tài sản thì ở đó việc sử dụng vốn sẽ lãng phí, kém hiệu quả. 16 Thứ ba, trong nền kinh tế thị trường, vốn phải được quan niệm là hàng hóa đặc biệt. Khác với những hàng hóa thông thường, hàng hóa vốn khi bán đi không mất quyền sở hữu mà chỉ bán quyền sử dụng. Lãi suất chính là giá phải trả cho quyền được sử dụng vốn.
Nói một cách khác giá trị sử dụng của vốn là để sinh lời. Thứ tư, vốn có giá trị về mặt thời gian. Ở tại các thời điểm khác nhau thì giá trị đồng vốn cũng khác nhau. Đồng tiền càng dàn trải theo thời gian thì nó càng bị mất giá, độ rủi ro càng cao.
Vì vậy, khi thẩm định hay xác định hiệu quả của một dự án đầu tư, người ta phải đưa các khoản thu và chi về cùng một thời điểm để so sánh, đánh giá. Thứ năm, vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định, đủ sức để đầu tư cho một dự án kinh doanh. Thứ sáu, vốn phải vận động. Vốn là tiền nhưng chưa hẳn tiền là vốn, tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn.
Để tiền biến thành vốn thì đồng tiền đó phải được vận động và sinh lời. Từ những đặc trưng trên đây, theo nghĩa rộng có thể hiểu vốn là toàn bộ của cải vật chất do lao động của con người sáng tạo ra được tích luỹ lại sau một thời kỳ nhất định; là biểu hiện bằng tiền của tất các nguồn lực đã bỏ ra để đầu tư, các nguồn lực có thể là của cải vật chất, sức lao động, tài nguyên thiên nhiên đã được khai thác sử dụng và các tài sản vật chất khác. Xét về mặt hình thức biểu hiện, vốn có thể tồn tại dưới dạng hữu hình hoặc vô hình. Vốn hiểu theo nghĩa hẹp là biểu hiện bằng tiền của các nguồn lực của mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp và mỗi cá nhân.2 Huy động vốn Được hiểu là một chủ thể đứng ra kêu gọi các chủ thể khác góp vốn vào các kế hoạch, dự án của mình.
Ví dụ, trong lĩnh vực ngân hàng thương mại có thể hiểu đó là những công cụ, cách thức và phương pháp, và chương trình cụ thể nhằm thu hút sự chú ý của các cá nhân, các tổ chức và từ đó gửi tiền vào ngân hàng. Trên cơ sở hai bên đều có lợi. Hoạt động huy động vốn của các công ty, thương nhân có tính chất tương tự: hai bên đều tính đến lợi nhuận.3 Huy động vốn đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông Huy động vốn đầu tư công nói chung và đầu tư công vào lĩnh vực hạ tầng giao thông nói riêng, khác với đầu tư thương mại: nhà nước không đặt ra mục tiêu lợi nhuận; nhưng phía nhà đầu tư tư nhân – chủ thể góp vốn lại cần được thoả mãn lợi nhuận thương mại. Hoạt động đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông – vốn dĩ là hoạt động đầu tư công - ở nước ta hiện dựa vào nhiều nguồn khác nhau.
Nguồn vốn này xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau, nhiều phương thức khác nhau. Trong đó có những kênh như phát hành trái phiếu chính phủ, vay vốn ODA, huy động vốn tư nhân qua phương thức PPP.