MỞ ĐẦU Việt Nam có lợi thế phát triển thủy sản nhờ tính đa dạng của các kiểu loại sinh cảnh và các thủy vực. Nghề thủy sản cũng là nghề truyền thống ở các vùng nông thôn, gắn với sinh kế của người dân. Đến nay mặc dù thủy sản đã trở thành một trong 10 ngành kinh tế xuất khẩu đứng đầu ở nước ta, nhưng về bản chất vẫn là một nghề cá nhỏ (small-scale fisheries), trước kia còn gọi là “nghề cá nhân dân”. Bởi vậy, phương thức quản lý nghề cá có sự tham gia của người dân địa phương (participatory management), quản lý dựa vào cộng đồng (community-based management) và đồng quản lý (ĐQL, co-management) đã được quan tâm áp dụng.
Các phương thức quản lý nói trên đã được áp dụng trong lĩnh vực quản lý thủy sản tại Việt Nam từ những năm 90 của thế kỷ XX [2]. Từ đó đến nay đã có một số nghiên cứu của các Viện nghiên cứu thuộc Bộ Thủy sản trước đây về các vấn đề này. Trong những năm qua, dưới sự chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), sự nỗ lực của các cơ quan nghiên cứu và sự tài trợ của các tổ chức quốc tế đã có nhiều mô hình quản lý theo các phương thức khác nhau nói trên được nghiên cứu, thử nghiệm trong các lĩnh vực sản xuất của ngành thủy sản (khai thác và bảo vệ nguồn lợi, nuôi trồng thủy sản, chế biến thủy sản) trên các vùng sinh thái và ở các địa phương khác nhau trong cả nước. Có thể thấy rằng, việc triển khai các mô hình đồng quản lý bước đầu đã đem lại lợi ích tích cực: tạo cơ hội mới về việc làm, huy động nguồn lực, khả năng chưa sử dụng của cộng đồng; nâng cao nhận thức và trách nhiệm đối với việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại địa phương, và bước đầu liên kết được quyền và lợi của cộng đồng địa phương.
Đối với ngành thủy sản, đây là nhiệm vụ quan trọng trong tổ chức lại sản xuất, bảo vệ nguồn lợi theo hướng bền vững, đẩy mạnh xã hội hóa, thu hút các tổ chức xã hội và cộng đồng ngư dân tham gia khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn lợi bền vững, hiệu quả, góp phần cải thiện sinh kế, tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho cộng đồng ngư dân và góp phần giữ vững an ninh, quốc phòng,…Quyết định 1690/QĐ-TTg ngày 16 tháng 9 năm 2010 của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển ngành thủy sản Việt Nam đến 2020 đã xác định rõ phải xây dựng “Đề án phát triển quản lý nghề cá cộng đồng”. Khoa Môi trường 1 Trường ĐH Khoa học Tự nhiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Đỗ Thị Huyền Trang - K19 CHMT Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc áp dụng đồng quản lý vẫn còn tồn tại các hạn chế như kém ổn định và chưa phát huy tác động tích cực khi dự án kết thúc. Mặt khác còn thiếu các cơ chế, chính sách đảm bảo cho người dân được tham gia đầy đủ, chủ động và hiệu quả vào quá trình quản lý sản xuất kinh doanh, quản lý môi trường và nguồn lợi thủy sản. Vì thế, khả năng nhân mô hình ra diện rộng gặp nhiều khó khăn.
Trong khuôn khổ của luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Quản lý môi trường, tôi chọn địa điểm vùng nuôi ngao tại xã Giao Xuân, Giao Thủy, Nam Định. Đây là một trong 5 xã vùng đệm của Vườn Quốc Gia (VQG) Xuân Thủy có hoạt động nuôi ngao tập trung, chiếm khoảng trên 50% diện tích nuôi ngao trong toàn huyện. Với đặc điểm là xã vùng đệm của VQG, Giao Xuân có nhiều vấn đề trong việc kết hợp các hoạt động phát triển với hoạt động bảo tồn. Đáp ứng nhu cầu đó, với sự hỗ trợ của Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng (MCD), cuối năm 2009 tổ hợp tác nuôi ngao bền vững ra đời với phương thức sản xuất thân thiện với môi trường.
Tháng 8 năm 2011, tổ hợp tác đã gia nhập trở thành hội viên của Hội nhuyễn thể huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định và có những đóng góp đáng kể trong hoạt động của hội này. Nhìn chung, đồng quản lý khi được áp dụng đã đạt được những thành công nhất định trong đó phải kể đến tình trạng con giống được cải thiện, xây dựng được thương hiệu Ngao sạch Giao Thủy và quan trọng là vấn đề môi trường, mâu thuẫn/xung đột lợi ích được cải thiện đáng kể. Luận văn “Hoàn thiện mô hình đồng quản lý môi trƣờng trong vùng nuôi ngao tại xã Giao Xuân, Giao Thủy, Nam Định” với mục tiêu đánh giá thực trạng và hiệu quả áp dụng phương thức ĐQL vùng nuôi ngao; rút ra những bài học kinh nghiệm trong áp dụng đồng quản lý để bảo vệ môi trường vùng nuôi ngao tại xã Giao Xuân, Giao Thủy, Nam Định. Từ đó mạnh dạn đưa ra những đề xuất giải pháp hoàn thiện mô hình đồng quản lý để có thể áp dụng đồng quản lý trong bảo vệ môi trường vùng nuôi ngao theo hướng bền vững.
Khoa Môi trường 2 Trường ĐH Khoa học Tự nhiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Đỗ Thị Huyền Trang - K19 CHMT CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Cơ sở khoa học áp dụng đồng quản lý 1. Một số khái niệm và quan niệm cơ bản a) Khái niệm đồng quản lý nghề cá nhỏ - Cộng đồng được hiểu là toàn thể những người sống thành một xã hội, trong cùng một khu vực địa lý nhất định, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối. Thuật ngữ “cộng đồng” xuất phát từ sự đa dạng các mối quan tâm của các nhóm người khác nhau.
Cộng đồng có thể được định nghĩa theo ranh giới nguồn lợi hoặc chính trị, xã hội như cộng đồng của những cá nhân cùng chung mối quan tâm. Cộng đồng địa lý thường là một tổ chức chính trị làng xã. - Thuật ngữ ĐQL là một khái niệm đã được biết đến khoảng 1/4 thế kỷ trước và gần đây trở thành một trong những vấn đề được quan tâm nhiều nhất trong lĩnh vực nghề cá [2]. Nó đã xuất hiện ở hệ thống nghề cá các nước như: Tây Ban Nha, Pháp, Nhật Bản, Inđônexia, hệ thống quản lý nghề cá Lofoten ở Nauy, hệ thống Panchayat của Ấn Độ.
Đến nay nó đã có ở hầu hết các nước trên thế giới, cả các nước phát triển và đang phát triển. - Khái niệm ĐQL lần đầu tiên được Kearney (1984) nhắc đến với một ý nghĩa sơ sài về sự hợp tác trong quản lý nguồn lợi cá trích tại vùng biển Canada. Nhiều nhà nghiên cứu, trong đó nổi bật là Jentoft (1989) và Pinkerton (1989) đã phát triển khái niệm này dưới góc độ xã hội học và thể chế. Khung phân tích và những hướng dẫn thiết lập ĐQL được Oakerson (1992) và Tổ chức các nước phát triển OECD (1996) xây dựng.
Phân loại ĐQL đã được Sen và Raakjaer Nielsen (1996) giới thiệu. Khái niệm ĐQL đã được sử dụng như là một cách thiết lập cơ chế về quản lý nguồn lợi, mà không có một khuôn mẫu chung cho tất cả các trường hợp cụ thể. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về ĐQL trong các kết quả nghiên cứu, triển khai mô hình của các nhà khoa học ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Theo đó, ĐQL được hiểu là sự chia sẻ trách nhiệm quản lý giữa các cơ quan Nhà nước và người sử dụng nguồn lợi (cộng đồng) thông qua các hình thức hợp tác.
Khoa Môi trường 3 Trường ĐH Khoa học Tự nhiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Đỗ Thị Huyền Trang - K19 CHMT Ngân hàng Thế giới định nghĩa ĐQL là “sự chia sẻ trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ giữa các bên tham gia, cụ thể, đó là cộng đồng địa phương và Nhà nước: là một cách phi tập trung hóa quá trình ra quyết định với sự bình đẳng giữa các bên” (The World Bank, 1999) [2]. Ngoài hai thực thể chính là những người trực tiếp sử dụng nguồn lợi và Nhà nước, các nhóm người khác như các nhà khoa học, hội nghề nghiệp,…cũng có thể đóng vai trò nhất định trong ĐQL. ĐQL khác với quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng (QLDVCĐ-community-based fisheries management) bởi Nhà nước vẫn giữ vai trò quan trọng trong quá trình thiết lập và thực thi các quy định. ĐQL nghề cá có thể được hiểu như là phương pháp tham gia, nơi mà Chính phủ và người sử dụng nguồn lợi thuỷ sản chia sẻ trách nhiệm và quyền hạn để quản lý nghề cá quốc gia hoặc nghề cá trong một vùng, dựa trên sự hợp tác giữa hai bên và với các bên liên quan khác [8].
Theo nghĩa rộng hơn, ĐQL là một quá trình hợp tác, tham gia vào việc ra quyết định giữa người sử dụng nguồn lợi, chính quyền các cấp, cơ quan nghiên cứu và các bên tham gia khác hay là sự hợp tác, tham gia, chia sẻ, đại diện. ĐQL là cơ sở để giảm quá trình ra quyết định theo nguyên tắc áp đặt, là cơ sở giải quyết xung đột lợi ích (bao gồm cả lợi ích môi trường) thông qua quá trình tham gia, là cơ sở để phát triển và sử dụng bền vững nguồn lợi. b) Phương thức quản lý nghề cá nhỏ Dựa vào mức độ chia sẻ quyền ra quyết định, hoạt động quản lý nghề cá được đặc trưng bởi các phương thức quản lý nghề cá khác nhau gồm: (i) Quản lý dựa vào chính quyền, (ii) Đồng quản lý, (iii) Quản lý mở, tự do hay không có sự quản lý và (iv) Quản lý dựa vào cộng đồng (Hình 1) [2]. Khoa Môi trường 4 Trường ĐH Khoa học Tự nhiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Đỗ Thị Huyền Trang - K19 CHMT 1 2 Quản lý dựa vào chính phủ Đồng quản lý Quản lý dựa vào Chính phủ 3 4 Quản lý mở, tự do Quản lý dựa vào cộng đồng 0 Quản lý dựa vào cộng đồng Hình 1.
Hệ thống quản lý nghề cá Theo Jentoft (1989) đặc điểm cơ bản của hệ thống quản lý nghề cá là: khởi xướng, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát, quyền tự quản và sự tham gia, mà chi tiết được thể hiện trong bảng 1 [2].