Tổng quan luận án

Công trình "Nghiên cứu và xây dựng mô hình định nghĩa các từ đồng nghĩa trong từ điển" của nghiên cứu sinh Phạm Anh Tú được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2016), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Lý Toàn Thắng, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học (mã số 62.40).

Theo tác giả trình bày, Từ điển học tại Việt Nam vẫn ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển. Cho đến thế kỷ XX, các công trình từ điển trong nước hầu hết được biên soạn dựa trên kinh nghiệm và năng lực ngôn ngữ cá nhân của tác giả. Người sử dụng từ điển vẫn gặp phải những hạn chế như: mối quan hệ giữa đối tượng sử dụng và hệ thống bảng từ chưa được chú ý đầy đủ, thiếu tiêu chí lựa chọn bảng từ phù hợp, tính hệ thống trong việc lập bảng từ và định nghĩa chưa được bảo đảm.

Từ cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, nghiên cứu lý thuyết Từ điển học mới thực sự bắt đầu với các bài viết trên tạp chí Ngôn ngữ (số 2, năm 1969) nhằm chuẩn bị lý luận cho cuốn Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, tiếp đó là công trình "Một số vấn đề từ điển học (qua việc biên soạn quyển Từ điển tiếng Việt)" của Hoàng Phê và Nguyễn Ngọc Trâm. Tuy nhiên, các nghiên cứu từ điển học ở Việt Nam còn ít, phần lớn tập trung vào từ điển giải thích (như từ điển tường giải, từ điển phương ngữ, từ điển thành ngữ), trong khi từ điển đồng nghĩa chưa được chú trọng đúng mức.

Tác giả luận án sử dụng thuật ngữ "từ điển đồng nghĩa" thay vì "từ điển từ đồng nghĩa", bởi tên gọi "từ điển đồng nghĩa" có phạm vi bao quát hơn, cho phép đưa cả các hình vị và cụm từ cố định đồng nghĩa vào từ điển. Khảo sát của luận án cho thấy từ năm 1951 đến thời điểm nghiên cứu, tại Việt Nam có khoảng 12 cuốn từ điển đồng nghĩa được xuất bản. Tác giả tiếp cận được 9 cuốn, trong đó 7 cuốn là từ điển đồng nghĩa kết hợp trái nghĩa dành cho học sinh, chỉ có 1 cuốn chuyên về đồng nghĩa là Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt của Nguyễn Văn Tu (1982). Các mô hình định nghĩa truyền thống (cấu trúc vi mô) trong các từ điển này mới chỉ tập trung vào ngữ nghĩa, ít quan tâm đến mặt ngữ pháp và ngữ dụng. Từ khoảng trống đó, luận án đặt ra yêu cầu xây dựng một mô hình định nghĩa kiểu mới cung cấp tri thức tích hợp cả ba bình diện: ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng.

Mục đích nghiên cứu: Đề xuất mô hình định nghĩa kiểu mới cho các dãy từ đồng nghĩa trong từ điển đồng nghĩa tiếng Việt phục vụ công tác biên soạn từ điển và góp phần phát triển lý thuyết Từ điển học tại Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu mô hình định nghĩa trong từ điển đồng nghĩa trên thế giới và ở Việt Nam.
  2. Xác định cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu liên quan đến đề tài.
  3. Khảo sát, đánh giá mô hình định nghĩa truyền thống ở một số từ điển đồng nghĩa tiếng Việt và tiếng nước ngoài (tiếng Anh, tiếng Pháp).
  4. Trình bày mô hình định nghĩa kiểu mới cho từ điển đồng nghĩa tiếng Nga của Apresjan Ju. D. (Апресян Ю.Д.).
  5. Xây dựng mô hình định nghĩa kiểu mới cho từ điển đồng nghĩa tiếng Việt dựa trên mô hình của Apresjan Ju. D.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Mô hình định nghĩa các đơn vị trong từ điển đồng nghĩa (cấu trúc vi mô).
  • Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn ở các đơn vị đồng nghĩa từ vựng (thực từ) trong tiếng Việt. Luận án không nghiên cứu đồng nghĩa ngữ pháp, đồng nghĩa thành ngữ; không xây dựng mô hình cho từ điển đồng nghĩa tiếng nước ngoài hay từ điển tường giải.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại lịch sử biên soạn từ điển đồng nghĩa trên thế giới và ở Việt Nam:

Trên thế giới:

  • Cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, các cuốn từ điển đồng nghĩa đầu tiên xuất hiện: cuốn Thử nghiệm từ điển đồng nghĩa Nga của Fônvizin D. I. (1783); tại Anh có từ điển của John Trusler (1766), Hester Lynch Piozzi (1794); tại Pháp có Từ điển từ đồng nghĩa cỡ lớn của Lafaye B. (1858); tại Đức có từ điển của Mayer J. (1841) và Sanders D. (1852).
  • Về cấu trúc vi mô của các từ điển tiếng Pháp: Chazaud H. trong Dictionnaire de synonymes et contraires sử dụng mô hình 3 thành phần (từ trung tâm, từ loại - giống, dãy từ đồng nghĩa), không có định nghĩa khu biệt hay ví dụ; Bailly R. trong Dictionnaire des synonymes de la langue française sử dụng mô hình gồm từ đồng nghĩa, lời định nghĩa khu biệt và ví dụ; Genouvrier M. trong Dictionnaire des synonymes xây dựng mô hình gồm từ đầu mục, ví dụ theo từng nghĩa và các từ đồng nghĩa tương ứng kèm phong cách sử dụng.
  • Về cấu trúc vi mô của các từ điển tiếng Anh: Urdang L. trong The Oxford thesaurus: an A-Z dictionary of synonyms đưa ra mô hình 4 thành phần (từ đầu mục/từ trung tâm, từ loại, dãy đồng nghĩa, ví dụ); Gove P. B. trong Webster's new dictionary of synonyms áp dụng mô hình 5 thành phần (từ trung tâm, dãy đồng nghĩa, lời định nghĩa chung và khu biệt theo phân tích thành tố, ví dụ trích dẫn nguồn, thông tin thêm như từ trái nghĩa Ant, từ tương phản Con, từ tương tự Ana); Lea D. trong Oxford learner’s thesaurus: a dictionary of synonyms áp dụng mô hình gồm từ đầu mục, từ loại, phiên âm, dãy từ, mẫu kết hợp cú pháp (patterns and collocations), lời định nghĩa, ví dụ, từ trái nghĩa (OPP) và phần chú ý cách dùng.
  • Tại Nga: Apresjan Ju. D. và cộng sự (2004) xuất bản cuốn Novyj ob#jasnitel’nyj slovar’ sinonimov Russkogo jazyka (Từ điển tường giải kiểu mới các từ đồng nghĩa tiếng Nga), áp dụng lý thuyết Từ điển học hệ thống của Trường phái Nghĩa học Moskva với mô hình định nghĩa 9 vùng thông tin tích hợp ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng.
Tác giả / Từ điển Năm Số thành phần chính trong mô hình Đặc điểm cấu trúc vi mô
Chazaud H. (Dictionnaire de synonymes et contraires) - 3 thành phần Từ trung tâm, từ loại/giống, dãy đồng nghĩa; không có định nghĩa khu biệt và ví dụ.
Bailly R. (Dictionnaire des synonymes de la langue française) - 3 thành phần Từ đồng nghĩa, lời định nghĩa khu biệt theo từ trung tâm, ví dụ minh họa.
Genouvrier M. (Dictionnaire des synonymes) - 3 thành phần Từ đầu mục, ví dụ theo nghĩa, từ đồng nghĩa kèm chú thích phong cách; không có lời định nghĩa.
Urdang L. (The Oxford thesaurus) 1991 4 thành phần Từ đầu mục, từ loại, dãy đồng nghĩa, ví dụ cho từ trung tâm; không giải nghĩa từng từ.
Gove P. B. (Webster's new dictionary of synonyms) 1984 5 thành phần Từ trung tâm, dãy từ, lời định nghĩa chung và riêng, ví dụ trích dẫn, từ liên quan (Ant, Con, Ana).
Lea D. (Oxford learner’s thesaurus) 2008 6 thành phần Mục từ, từ loại/phiên âm, dãy từ, khuôn mẫu kết hợp ngữ, định nghĩa/ví dụ, chú thích cách dùng.
Apresjan Ju. D. và cộng sự 2004 9 vùng thông tin Mô hình kiểu mới tích hợp ngữ nghĩa, ngữ pháp, ngữ dụng dựa trên chân dung từ điển học.

Ở Việt Nam:

  • Năm 1951, cuốn Việt ngữ tinh nghĩa từ điển của Long Điền Nguyễn Văn Minh được xem là công trình từ điển đồng nghĩa đầu tiên.
  • Dương Kỳ Đức và Vũ Quang Hào (Từ điển trái nghĩa – đồng nghĩa tiếng Việt dành cho học sinh) sử dụng mô hình 3 thành phần: từ trung tâm, dãy đồng nghĩa, ví dụ; không cung cấp lời định nghĩa.
  • Nguyễn Văn Tu (1982, Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt) áp dụng mô hình 5 thành phần: từ trung tâm, dãy đồng nghĩa, lời chú, lời định nghĩa và ví dụ minh họa (chủ yếu trích từ văn học). Tác giả đề xuất 4 cách định nghĩa: miêu tả nghĩa từng từ; định nghĩa hỗn hợp lấy từ trung tâm làm cơ sở; miêu tả cụ thể hành vi/đối tượng; định nghĩa khái quát.
  • Các từ điển học sinh của nhóm Nguyễn Quốc Khánh – Trần Trọng Dương – Đình Phúc – Minh Châu (2006), Nguyễn Hoàng, Mai Bình – Ngọc Lam, Bùi Việt Phương – Đỗ Anh Vũ – Ánh Ngọc đều áp dụng mô hình 5 thành phần tương tự như Nguyễn Văn Tu.
  • Nguyễn Đức Tồn (2006, Từ đồng nghĩa tiếng Việt) tổng kết lý luận, phân loại từ cùng nghĩa và gần nghĩa, đề xuất kết hợp hai phương pháp giải thích truyền thống và áp dụng biên soạn theo trường nghĩa đối với các tiểu trường đồng nghĩa dài.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Các mô hình từ điển đồng nghĩa hiện hành tại Việt Nam mới chỉ dừng lại ở cấu trúc 3 hoặc 5 thành phần, chủ yếu phản ánh nét nghĩa biểu vật/biểu niệm cơ bản, thiếu sự miêu tả có hệ thống về đặc điểm ngữ pháp (kết cấu cú pháp, khả năng kết hợp) và đặc trưng ngữ dụng. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách tiếp thu mô hình kiểu mới của Apresjan Ju. D. để xây dựng một khung định nghĩa tích hợp cho tiếng Việt.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Luận án vận dụng các khái niệm và khung phân tích sau:

  1. Cấu trúc từ điển: Phân biệt cấu trúc vĩ mô (macrostructure - cấu trúc toàn bộ bảng từ) và cấu trúc vi mô (microstructure - cấu trúc thông tin trong một mục từ, tương đương với mô hình định nghĩa).
  2. Quan niệm về nghĩa của từ: Luận án điểm lại hai khuynh hướng chính:
    • Coi nghĩa là bản thể (Budagov R. A., Reznikov L. O.) — bị phê phán bởi Nowell-Smith, Wittgenstein L., Nguyễn Thiện Giáp vì đồng nhất nghĩa với đối tượng thực tế.
    • Coi nghĩa là quan hệ hoặc hiện tượng tâm lý, tinh thần (Barkhudarov L. S., Stevenson Ch., Potepnhia A., Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Phê, Nguyễn Đức Tồn).
    • Luận án tiếp thu định nghĩa của Nguyễn Đức Tồn: Nghĩa của từ là toàn bộ sự hiểu biết cùng cảm xúc kèm theo xuất hiện trong trí óc người bản ngữ về sự vật, hiện tượng, hành động, tính chất, quan hệ mà từ biểu thị khi tiếp nhận từ đó.
  3. Hiện tượng đồng nghĩa và định nghĩa từ đồng nghĩa:
    • Theo García-Hernández (1997), hiện tượng đồng nghĩa là mối quan hệ giữa nội dung và các cách biểu đạt có thể có của nó, vừa thuộc lĩnh vực nghĩa vừa thuộc lĩnh vực chỉ định (quan hệ định danh).
    • Tiếp thu quan niệm của Nguyễn Đức Tồn (2006): Hai đơn vị từ vựng là đồng nghĩa khi có vỏ ngữ âm khác nhau, biểu thị biểu vật hoặc/và biểu niệm giống nhau; được phân thành:
      • Từ cùng nghĩa: Xuất hiện trong kết cấu "A là B" và đảo lại "B là A" mà không cần chỉnh lý thêm bớt nét nghĩa (trường hợp đặc biệt là từ đồng nghĩa tuyệt đối).
      • Từ gần nghĩa: Xuất hiện trong kết cấu "A là B" và "B là A" nhưng cần có sự chỉnh lý thêm bớt nét nghĩa (gồm đồng nghĩa ý niệm và đồng nghĩa ý niệm - phong cách).
    • Ba trường hợp đồng nghĩa từ vựng được khảo sát: đồng nghĩa ở nghĩa cơ bản - nghĩa cơ bản; nghĩa cơ bản - nghĩa phái sinh; nghĩa phái sinh - nghĩa phái sinh. Luận án chỉ nghiên cứu đồng nghĩa ngôn ngữ, không nghiên cứu đồng nghĩa lâm thời.
  4. Hai phương pháp giải thích truyền thống:
    • Phương pháp 1: Giải thích cặn kẽ từ trung tâm, sau đó dùng từ trung tâm giải thích các từ khác trong dãy kèm nét nghĩa khu biệt, phong cách, phạm vi sử dụng, đặc điểm kết hợp.
    • Phương pháp 2: Dùng phân tích thành tố, nêu phần nghĩa chung (thừa số chung) cho toàn dãy, sau đó kết hợp phần nghĩa chung với các nét nghĩa khu biệt để giải thích từng đơn vị.
  5. Phương pháp khu biệt ngữ nghĩa và lý thuyết ngữ cảnh trống:
    • Vận dụng phương pháp lập ô trống của Sorokin Ju. A. và phương pháp xác lập ngữ cảnh trống của Nguyễn Đức Tồn với 3 loại ngữ cảnh trống: (i) chỉ ra sắc thái khác nhau của cùng một ý nghĩa; (ii) chỉ ra nghĩa chuyển chỉ có ở từ này mà không có ở từ kia; (iii) chỉ ra khả năng kết hợp từ vựng - ngữ nghĩa khác nhau.
  6. Lý thuyết Từ điển học hệ thống của Trường phái Nghĩa học Moskva:
    • Nguyên lý miêu tả tích hợp ngôn ngữ.
    • Khái niệm "chân dung từ điển học" (lexicographic portrait) của Apresjan Ju. D.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và phân tích văn bản:

  • Phương pháp miêu tả: Miêu tả các thuộc tính ngôn ngữ của từng từ đồng nghĩa trong dãy; kết hợp thủ pháp tích hợp để xây dựng chân dung từ điển học.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh cấu trúc vi mô của từ điển tiếng Việt với từ điển tiếng nước ngoài (Anh, Pháp, Nga); đối chiếu mô hình truyền thống với mô hình kiểu mới.
  • Phương pháp phân tích thành tố nghĩa: Phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của các từ trong dãy để nhận diện thành tố trung tâm, thành tố ngoại vi và các nét nghĩa khu biệt.
  • Thủ pháp tích hợp: Kết hợp các thuộc tính ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng trong một khung miêu tả thống nhất.

Nguồn tư liệu: Các dãy từ đồng nghĩa tiêu biểu được trích xuất từ 12 cuốn từ điển đồng nghĩa tiếng Việt xuất bản từ năm 1951 đến 2016 và các cuốn từ điển đồng nghĩa tiếng Anh (Oxford, Webster), tiếng Pháp (Bailly, Genouvrier, Chazaud), tiếng Nga (Apresjan).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết

Chương 1 có cấu trúc từ trang 7 đến trang 53, thực hiện hai nội dung chính: tổng quan lịch sử nghiên cứu từ điển đồng nghĩa và xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết.

Chương này khái quát các giai đoạn phát triển từ điển đồng nghĩa trên thế giới (Nga, Pháp, Anh, Đức, Mỹ) và tại Việt Nam từ năm 1951. Tác giả phân tích cụ thể cấu trúc vi mô trong các từ điển tiêu biểu của Chazaud H., Bailly R., Genouvrier M., Urdang L., Gove P. B., Lea D., Apresjan Ju. D., Long Điền Nguyễn Văn Minh, Dương Kỳ Đức – Vũ Quang Hào, Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Đức Tồn và các nhóm biên soạn từ điển học sinh.

Về mặt lý thuyết, chương làm rõ bản chất của nghĩa từ thông qua việc đối chiếu quan điểm bản thể và quan điểm quan hệ, xác lập quan niệm nghĩa là hiện tượng tâm lý - tinh thần theo Nguyễn Đức Tồn. Tác giả phân định ranh giới giữa hiện tượng đồng nghĩa và từ đồng nghĩa, phân loại từ cùng nghĩa và từ gần nghĩa, phân tích ba dạng đồng nghĩa từ vựng và chỉ rõ phạm vi nghiên cứu là đồng nghĩa ngôn ngữ. Chương 1 cũng trình bày chi tiết hai phương pháp định nghĩa truyền thống, đánh giá ưu điểm và hạn chế của từng phương pháp, đồng thời xác lập cơ sở phương pháp luận của lý thuyết ngữ cảnh trống và lý thuyết Từ điển học hệ thống của Trường phái Nghĩa học Moskva.

Chương 2: Nghiên cứu mô hình định nghĩa truyền thống của từ điển đồng nghĩa

Chương 2 có cấu trúc từ trang 54 đến trang 93, tập trung khảo sát thực trạng cấu trúc vi mô của các từ điển đồng nghĩa truyền thống trong và ngoài nước.

Tác giả phân tích các thành phần cấu tạo mục từ trong các cuốn từ điển tiếng Pháp (Dictionnaire de synonymes et contraires, Dictionnaire des synonymes de la langue française, Dictionnaire des synonymes), từ điển tiếng Anh (The Oxford thesaurus, Webster's new dictionary of synonyms, Oxford learner’s thesaurus) và từ điển tiếng Việt (Từ điển từ đồng nghĩa tiếng Việt của Nguyễn Văn Tu, các từ điển đồng nghĩa - trái nghĩa học sinh).

Khảo sát của chương chỉ ra hai dạng mô hình truyền thống chủ yếu tại Việt Nam:

  1. Mô hình 3 thành phần: Từ trung tâm, dãy đồng nghĩa, ví dụ minh họa (như từ điển của Dương Kỳ Đức – Vũ Quang Hào).
  2. Mô hình 5 thành phần: Từ trung tâm, dãy đồng nghĩa, lời chú, lời định nghĩa, ví dụ minh họa (như từ điển của Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Quốc Khánh, Bùi Việt Phương).

Chương 2 đánh giá: Ưu điểm của mô hình truyền thống là cung cấp nhanh các từ thay thế và chỉ ra nét nghĩa cơ bản cùng ngữ cảnh qua ví dụ trích dẫn. Hạn chế cốt lõi là tính đơn tuyến ngữ nghĩa, thiếu thông tin về khả năng kết hợp cú pháp, hạn chế kết hợp từ vựng và các tham số ngữ dụng cụ thể.

Chương 3: Xây dựng mô hình định nghĩa kiểu mới cho từ điển đồng nghĩa tiếng Việt

Chương 3 có cấu trúc từ trang 95 đến trang 145, trình bày chi tiết việc chuyển giao và xây dựng mô hình định nghĩa kiểu mới cho tiếng Việt.

Tác giả giới thiệu cấu trúc mô hình định nghĩa kiểu mới của Apresjan Ju. D. trong từ điển tiếng Nga gồm 9 vùng thông tin:

Vùng thông tin Tên gọi vùng Nội dung miêu tả
1 Mở đầu Từ đầu mục, các từ trong dãy đồng nghĩa, thông tin phong cách cơ bản.
2 Lời dẫn Xác định nghĩa chung của cả dãy, phạm vi bao quát của khái niệm.
3 Ý nghĩa Miêu tả chi tiết ngữ nghĩa từng từ, phân tích nét nghĩa khu biệt.
4 Các chú giải Chú giải về ngữ dụng, sắc thái biểu cảm, thái độ người nói.
5 Các hình thái Đặc điểm ngữ pháp, biến thể hình thái học của đơn vị từ vựng.
6 Các kết cấu Khung cấu trúc cú pháp mà từ có thể tham gia.
7 Khả năng tổ hợp Khả năng kết hợp từ vựng - ngữ nghĩa, các hạn chế kết hợp.
8 Các thí dụ minh họa Các ví dụ trích dẫn thực tế minh họa cách sử dụng từ.
9 Cẩm nang Chỉ dẫn so sánh với các dãy đồng nghĩa lân cận, lưu ý tránh nhầm lẫn.

Trên cơ sở 9 vùng thông tin của Apresjan, tác giả luận án điều chỉnh để đề xuất mô hình định nghĩa kiểu mới phù hợp với đặc trưng loại hình của tiếng Việt (ngôn ngữ không biến đổi hình thái). Mô hình đề xuất tập trung làm rõ 3 bình diện: ngữ nghĩa (nghĩa chung, nghĩa khu biệt), ngữ pháp (kết cấu cú pháp, khả năng kết hợp tổ hợp) và ngữ dụng (sắc thái tu từ, hoàn cảnh giao tiếp). Cuối chương, tác giả tiến hành biên soạn thử nghiệm một dãy từ đồng nghĩa tiếng Việt tiêu biểu để minh chứng tính ứng dụng của mô hình.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Là công trình chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về mô hình định nghĩa (cấu trúc vi mô) trong từ điển đồng nghĩa tiếng Việt dựa trên nguồn tư liệu đối chiếu từ điển tiếng nước ngoài (Nga, Anh, Pháp) và tiếng Việt.
  • Giới thiệu và vận dụng lý thuyết Từ điển học hệ thống của Trường phái Nghĩa học Moskva cùng khái niệm "chân dung từ điển học" của Apresjan Ju. D. vào việc nghiên cứu từ điển học tại Việt Nam.
  • Xác lập khung lý thuyết tích hợp ba bình diện ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng trong việc miêu tả các đơn vị đồng nghĩa tiếng Việt.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Đưa ra khung mô hình định nghĩa kiểu mới gồm các vùng thông tin chi tiết, giúp các nhà biên soạn từ điển khắc phục hạn chế của mô hình truyền thống để biên soạn các cuốn từ điển đồng nghĩa tiếng Việt hiện đại.
  • Cung cấp mô hình mục từ thử nghiệm làm tài liệu tham khảo trực tiếp cho công tác biên soạn từ điển học sinh, từ điển tường giải và từ điển học tiếng.
  • Kết quả nghiên cứu phục vụ thiết thực cho việc giảng dạy, học tập tiếng Việt trong nhà trường, hỗ trợ dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ và chuẩn hóa việc sử dụng từ ngữ tiếng Việt.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Vận dụng linh hoạt hai phương pháp định nghĩa truyền thống (giải thích theo từ trung tâm và phân tích thừa số chung) kết hợp phương pháp phân tích tiểu trường khi biên soạn các dãy đồng nghĩa phức tạp.
  • Cần mở rộng cấu trúc vi mô của từ điển đồng nghĩa tiếng Việt sang các vùng thông tin về kết cấu cú pháp và khả năng tổ hợp từ vựng thay vì chỉ giải nghĩa từ đơn thuần.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Luận án chỉ giới hạn khảo sát ở các đơn vị đồng nghĩa từ vựng thuộc lớp thực từ tiếng Việt.
  • Chưa mở rộng nghiên cứu sang hiện tượng đồng nghĩa ngữ pháp (đồng nghĩa cú pháp) và đồng nghĩa thành ngữ.
  • Chưa khảo sát và xây dựng mô hình định nghĩa đồng nghĩa trong từ điển tường giải hay từ điển tiếng nước ngoài.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang mô hình định nghĩa cho các cụm từ cố định, thành ngữ đồng nghĩa và hư từ đồng nghĩa trong tiếng Việt.
  • Ứng dụng mô hình 9 vùng thông tin để biên soạn một cuốn từ điển đồng nghĩa tiếng Việt hoàn chỉnh ở quy mô lớn.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng sau:

  • Nhà nghiên cứu Từ điển học và biên soạn từ điển: Tham khảo khung cấu trúc vi mô tích hợp, kỹ thuật xử lý mục từ đồng nghĩa và phương pháp chuyển giao mô hình từ điển học hiện đại.
  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Ngôn ngữ học: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu về Ngữ nghĩa học từ vựng, lý thuyết Trường phái Nghĩa học Moskva, khái niệm chân dung từ điển học và phương pháp xác lập ngữ cảnh trống.
  • Giáo viên Ngữ văn và người dạy tiếng Việt cho người nước ngoài: Tham khảo phương pháp phân biệt các nét nghĩa khu biệt, khả năng kết hợp cú pháp và sắc thái ngữ dụng của các từ gần nghĩa trong tiếng Việt.

Các phần có giá trị tham khảo cao gồm: Chương 1 (tổng thuật lý thuyết nghĩa của từ và phân loại đồng nghĩa), Chương 2 (khảo sát đối chiếu cấu trúc mục từ của các từ điển quốc tế) và Chương 3 (bảng 9 vùng thông tin và mục từ biên soạn thử nghiệm).


Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt khái niệm "từ điển đồng nghĩa" và "từ điển từ đồng nghĩa" như thế nào?
Luận án chỉ rõ khái niệm "từ điển từ đồng nghĩa" có phạm vi hẹp vì mặc định chỉ thu thập các từ đơn lẻ. Trong khi đó, thuật ngữ "từ điển đồng nghĩa" bao quát hơn, cho phép thu thập cả các hình vị và cụm từ cố định đồng nghĩa vào từ điển.

2. Hai phương pháp định nghĩa truyền thống trong từ điển đồng nghĩa được luận án tổng kết là gì?
Phương pháp thứ nhất là giải thích cặn kẽ từ trung tâm, sau đó dùng từ trung tâm để giải thích các từ khác trong dãy kèm nét nghĩa khu biệt, phong cách và kết hợp. Phương pháp thứ hai là dùng phân tích thành tố để nêu phần nghĩa chung cho cả dãy, sau đó kết hợp phần nghĩa chung với các nét nghĩa khu biệt để giải thích từng đơn vị.

3. Mô hình định nghĩa kiểu mới của Apresjan Ju. D. gồm những vùng thông tin nào?
Mô hình gồm 9 vùng thông tin: (1) Mở đầu, (2) Lời dẫn, (3) Ý nghĩa, (4) Các chú giải, (5) Các hình thái, (6) Các kết cấu, (7) Khả năng tổ hợp, (8) Các thí dụ minh họa, (9) Cẩm nang.

4. Luận án tiếp thu quan điểm phân loại từ đồng nghĩa của tác giả nào?
Luận án tiếp thu quan điểm của Nguyễn Đức Tồn, phân chia từ đồng nghĩa thành "từ cùng nghĩa" (xuất hiện trong kết cấu thuận nghịch "A là B" / "B là A" không cần chỉnh lý nét nghĩa) và "từ gần nghĩa" (xuất hiện trong kết cấu "A là B" / "B là A" cần chỉnh lý thêm bớt nét nghĩa).

5. Luận án khảo sát bao nhiêu cuốn từ điển đồng nghĩa tại Việt Nam?
Tính từ năm 1951 đến thời điểm nghiên cứu, có khoảng 12 cuốn từ điển đồng nghĩa được xuất bản tại Việt Nam; tác giả có điều kiện tiếp xúc và khảo sát trực tiếp 9 cuốn, trong đó 7 cuốn là từ điển đồng nghĩa kết hợp trái nghĩa dành cho học sinh.


Kết luận

Luận án "Nghiên cứu và xây dựng mô hình định nghĩa các từ đồng nghĩa trong từ điển" của Phạm Anh Tú đã hệ thống hóa lịch sử và lý thuyết biên soạn từ điển đồng nghĩa tại Việt Nam và trên thế giới. Công trình đã phân tích những hạn chế về tính đơn tuyến ngữ nghĩa của các mô hình truyền thống, từ đó tiếp thu lý thuyết Từ điển học hệ thống của Trường phái Nghĩa học Moskva để đề xuất mô hình định nghĩa kiểu mới gồm các vùng thông tin tích hợp ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng cho tiếng Việt. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở phương pháp luận và mô hình thực nghiệm có giá trị ứng dụng cho công tác biên soạn từ điển học và giảng dạy ngôn ngữ.