Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác xã hội đối với giảm nghèo bền vững Chương 2. Đánh giá các hoạt động của mô hình công tác xã hội trong phát triển cộng đồng đối với việc giảm nghèo bền vững tại xã Đồng Sơn, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh Chương 3. Giải pháp của mô hình công tác xã hội đối với giảm nghèo bền vũng ở xã Đồng Sơn, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Khái niệm công cụ 1. Khái niệm về nghèo, nghèo đa chiều, giảm nghèo bền vững 1. Khái niệm về nghèo Hiện nay có nhiều quan niệm về nghèo được các quốc gia thừa nhận.
Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế Xã hội Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao rằng: nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục được xã hội thừa nhận [8, tr. Trong Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội, tổ chức tại Copenhagen ở Đan Mạch năm 1995 đã đưa định nghĩa cụ thể hơn về nghèo là tất cả những ai mà có thu nhập thấp hơn dưới 1USD mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại [8, tr. Ngoài ra, cũng có quan niện khác về nghèo mang tính kinh điển và triết lý của chuyên gia hàng đầu của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), ông Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ, đoạt giải Nobel Kinh tế năm 1998: để tồn tại, con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu; dưới mức tối thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn [8, tr. Trong tám mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của tổ chức quốc tế Liên Hợp quốc (UN) thông qua năm 2007, mục tiêu đầu tiên đó là triệt để loại trừ tình trạng nghèo và thiếu ăn.
Theo đó, nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn [11].
Hòa bình và an ninh sẽ có nhiều khả năng trở thành hiện thực hơn khi con người thoát khỏi nghèo đói, cũng như được tiếp cận với giáo dục, các dịch vụ chăm sóc sức khỏa có chất lượng và có cơ hội bình đẳng. Ở nước ta, căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội và mức thu nhập của nhân dân, khái niệm nghèo được hiểu là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện [8]. Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả với quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.
Tóm lại, theo tác giả của luận văn, khái niệm nghèo được hiểu là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế-xã hội và phong tục tập quán của địa phương 1. Khái niệm nghèo đa chiều Giống như quá trình phát triển, nghèo đói là một khái niệm đa chiều. Trong cùng một thời điểm, người nghèo có thể phải đối mặt với nhiều bất lợi khác nhau, có thể là những khó khăn trong khám chữa bệnh, học hành, nhà ở, đất đai, nước sạch hoặc điện thắp sáng. Sử dụng một tiêu chí thu nhập (hay chi tiêu) không đủ để nắm bắt được tình trạng nghèo thực tế của người dân.
Đánh giá nghèo cần được tiếp cận rộng hơn từ chiều cạnh phát triển toàn diện con người. Đo lường nghèo đa chiều ngày càng được quan tâm rộng rãi trên thế giới. Điển hình là Báo cáo Phát triển con người của UNDP năm 2010 đã sử dụng chỉ số nghèo đa chiều-MPI để bổ sung cho cách đo lường nghèo đơn chiều theo thu nhập/chi tiêu. MPI được tính toán cho 104 quốc gia dựa trên ba chiều là giáo dục, y tế và mức sống, gồm mười chỉ tiêu phụ gắn với các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ của Liên Hợp quốc [7].
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đối với Việt Nam, khái niệm nghèo đa chiều được đề cập chính thức trong đường lối, chủ trương của Đảng từ năm 2013 tại Nghị quyết số 15-NQ/TW Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020, cách tiếp cận nghèo đa chiều cũng dựa trên cách tiếp cận của thế giới nhưng có những điểm cần lưu ý trong quá trình vận dụng để đánh giá, đo lường nghèo đa chiều. Thời gian qua, chuẩn nghèo, tỷ lệ nghèo và xác định đối tượng nghèo ở Việt Nam hoàn toàn dựa vào các tiêu chí thu nhập, trong đó chuẩn nghèo được xác định theo phương pháp “chi phí cho các nhu cầu cơ bản”. Các nhu cầu cơ bản bao gồm chi cho nhu cầu tối thiểu về lương thực/thực phẩm và chi cho những nhu cầu phi lương thực/thực phẩm thiết yếu (giáo dục, y tế, nhà ở. Cách tiếp cận theo thu nhập này không phù hợp với tính đa chiều của nghèo đói, bởi vì: Thứ nhất, một số nhu cầu cơ bản của con người không thể quy ra tiền (như tham gia xã hội, an ninh, vị thế xã hội, v.) hoặc không thể mua được bằng tiền (tiếp cận giao thông, thị trường, đường xá và các loại cơ sở hạ tầng khác, an ninh, môi trường, một số dịch vụ y tế/giáo dục công v.
Thứ hai, với các hộ có có thu nhập trên chuẩn nghèo thì trong một số trường hợp thu nhập đó sẽ không được chi tiêu cho những nhu cầu tối thiểu; vì những lý do như không tiếp cận được dịch vụ tại nơi sinh sống, hoặc thay vì chi tiêu cho giáo dục hoặc y tế, thu nhập có thể bị chi cho thuốc lá, bia rượu và các mục đích khác. Đặc biệt, khi Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình thấp vào năm 2010 với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa và di cư rất nhanh, phương pháp này càng bộc lộ nhiều hạn chế. Như vậy, nghèo đa chiều là cách tiếp cận mới nhằm hạn chế việc bỏ sót những đối tượng tuy không nghèo về thu nhập nhưng lại nghèo về các chiều cạnh khác. Thay vì xem xét nghèo thu nhập, những ai không được khám chữa bệnh, không được đến trường, không được tiếp cận thông tin cũng được xác định là nghèo.
Cái nghèo gắn liền với sự thiếu thốn thu nhập/chi tiêu mà còn là việc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản khác. Bên cạnh đó, cụm từ “xóa đói giảm nghèo”, “xóa đói giáp hạt” trước đây được thay bằng “giảm nghèo bền vững [12]. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm giảm nghèo, giảm nghèo bền vững Giảm nghèo là tổng thể các hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm thực hiện mục đích hỗ trợ những điều kiện cơ bản (như ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh, tiếp xúc văn hóa, xã hội.) để cho người nghèo có thể tồn tại và phát triển để dần đạt đến mức trung bình như các thành viên khác trong cộng đồng [15].
Như vậy, giảm nghèo không chỉ là đủ ăn, đủ nhu cầu tối thiểu, giảm nghèo còn được hiểu rộng hơn là sử dụng tài sản để tạo ra thu nhập, phương thức kiếm sống hoặc tồn tại, bảo đảm chi những lúc khó khăn, cải thiện khả năng thành công của cá nhân, chuẩn bị cho thế hệ sau, thúc đẩy việc thành lập kế hoạch và đầu tư dài hạn cho tương lai, tạo ra ích lợi cho cá nhân trong suy nghĩ và hành động tập thể để đạt được các tài sản khác. Giảm nghèo bền vững là một trong những biện pháp cơ bản để đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta. Giảm nghèo bền vững là một trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011-2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông tôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư [36, tr. Đây là nội dung xuyên suốt để Đảng ta kiên quyết, kiên trì thực hiện công tác xóa đói, giảm nghèo.
Tại Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, tư tưởng: “Công bằng xã hội thể hiện ở cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất, lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, cũng như ở điều kiện phát triển năng lực của mọi thành viên trong cộng đồng” [36, tr.24], đã trở thành căn cứ lý luận để Đảng ta lãnh đạo công cuộc xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Đến Đại hội X, Đảng khẳng định: “càng đi vào kinh tế thị trường, càng phải chăm lo tốt hơn phúc lợi xã hội, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, phát triển giáo dục, văn hóa, chăm sóc sức khỏe nhân dân” [35, tr. Đây chính là quyết tâm, là lời hứa của Đảng Cộng sản Việt Nam với nhân dân về mục tiêu của Đảng.