phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận án đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cở sở lí luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2. Sử dụng mô hình dạy học kết hợp trong dạy học môn Sinh lý ngƣời và động vật cho sinh viên ngành Sƣ phạm Sinh học ở các trƣờng đại học. Thực nghiệm sƣ phạm luan an 8 PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Tổng quan về tình hình nghiên cứu và sử dụng mô hình dạy học kết hợp trên thế giới và tại Việt Nam 1. Trên thế giới CNTT là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc đổi mới hình thức, phƣơng pháp dạy học và việc sử dụng công nghệ kỹ thuật số kết hợp với dạy học giáp mặt đang ngày càng phổ biến trên thế giới. Barr và Tagg (1995) [34] và Buckley (2002) [36] đã ghi nhận một mô hình giáo dục đại học mới – DHKH; tuy nhiên để thực hiện đƣợc môi trƣờng học tập kết hợp, cần phải nhận thức đƣợc những lợi ích và thách thức, sẵn sàng để giải quyết những vấn đề này. Qua nghiên cứu tổng quan các công trình tiêu biểu trên thế giới tập trung vào những lợi ích gắn liền với những thách thức khi sử dụng mô hình DHKH, chúng tôi đã khái quát thành sáu vấn đề chính nhƣ sau: Mô hình DHKH linh hoạt về không gian và thời gian học tập: Thời gian học đƣợc thay đổi cho phù hợp với điều kiện và khả năng học của cá nhân ngƣời học.
Ngƣời học có thể chủ động lựa chọn thời gian và thời điểm học tập bất cứ khi nào và ở đâu với các thiết bị di động có thể kết nối internet nhƣ smart phone, máy tính, ipad. Theo các nghiên cứu của Aycock, Garnham, & Kaleta (2002) [68]; Dziuban, Hartman, & Moskal (2004) [72]; King & Hildreth (2001)[48]; Leh (2002) [49]; Martyn (2003) [51]; trƣờng Đại học Wisconsin (2005) [79]; Young (2002) [63] … thì mô hình DHKH tạo cho SV khả năng lựa chọn thời điểm học tốt nhất, môi trƣờng học tập phù hợp và quản lý lịch trình học tập phù hợp với lối sống của nhiều SV. Theo Aycock, Garnham, & Kaleta, (2002), thời gian linh hoạt là rất quan trọng đối với SV, nó giá trị hơn bất kỳ khó khăn công nghệ mà họ có thể gặp phải [68]. Từ quan điểm một nhóm SV khác, "Tôi mất hứng thú trong lớp học, nhƣng tỉ lệ trực tuyến/ giáp mặt = 50/50 là phù hợp - nó giúp cho tôi trong kiểm tra và cũng luan an 9 mang lại cho tôi sự tự do"(Young, 2002, p.
A33) có thể chỉ ra DHKH cải thiện động lực học và giúp quản lý thời gian [63]. Trong nghiên cứu của Aycock, Garnham, & Kaleta (2002) [68]; Riffell & Sibley (2003) [55]; Mô hình DHKH tạo thuận lợi sử dụng PPDH tích cực: Tổ hợp các PPDH tích cực phù hợp với nội dung dạy, tƣơng thích với từng đối tƣợng học và khả năng học của ngƣời học đồng thời tăng cơ hội để ngƣời học đƣợc hỗ trợ từ giáo viên và các ngƣời học khác. Với các tổ hợp đa phƣơng tiện kết hợp với các câu hỏi GV đã thiết kế, SV sẽ tự tìm tòi và chiếm lĩnh đƣợc kiến thức mới. Các hoạt động trên diễn đàn trực tiếp (phòng chat) hay diễn đàn tin tức của lớp học trực tuyến và hoạt động thảo luận trên lớp học giáp mặt giúp cho các SV trung bình và yếu phát triển cơ hội theo kịp các bạn trong lớp.
Đồng thời thông qua qua phòng chat, GV có cơ hội quan tâm, hƣớng dẫn ngƣời học. Qua phân tích ý kiến của SV thì GV đƣa ra đƣợc hạn chế của từng SV so với bạn, kết hợp với chuẩn kiến thức thì SV có thể tự nâng mình lên để theo kịp bạn. Theo nghiên cứu của Đại học Wisconsin (2005) [79], SV tự tổ chức và quản lý thời gian cũng nhƣ các kỹ năng cần thiết để thành công trong khóa học kết hợp. Nhiều SV ghi nhận môi trƣờng DHKH là cần thiết, họ trở nên tích cực tham gia học tập hơn thay vì thụ động tiếp nhận thông tin từ bài giảng.
Mô hình DHKH tối ƣu hóa việc sử dụng đa phƣơng tiện và tăng tính chuyên nghiệp của GV: Trong dạy học theo mô hình DHKH, tổ hợp đa phƣơng tiện hỗ trợ cho nhau, kênh hình tĩnh hỗ trợ cho kênh hình động. Nhƣ vậy, đã khai thác tối ƣu những ƣu điểm từ các phƣơng tiện khác nhau. Ngƣời GV phải thực hiện hàng loạt các công việc một cách chuyên nghiệp: Cấu trúc hóa logic nội dung dạy học, thiết kế phƣơng tiện dạy học ở dạng kỹ thuật số, thiết kế bài giảng đa phƣơng tiện, xây dựng website học trực tuyến để tải bài giảng lên mạng. Trên website, GV có thể thƣờng xuyên theo dõi, hƣớng dẫn ngƣời học trong quá trình học thông qua phòng chatroom và có những đánh giá dựa vào kết quả bài kiểm tra trực tuyến để có các điều chỉnh phù hợp.
Ngoài ra, các bài giảng của GV sử dụng trong mô hình DHKH có thể chỉnh sửa linh hoạt để sử dụng lâu dài và các tài nguyên học tập trên website học trực tuyến có thể đƣợc sử dụng nhiều mục đích khác nhau. Điều tra về hiệu quả luan an 10 của học tập của mô hình DHKH có nghiên cứu của Chang Zhu và Edmond Kagambe (2017) [39]. Các tác giả đã điều tra hiệu quả của mô hình DHKH thông qua phân tích mối quan hệ giữa đặc điểm của SV (thái độ và tự điều chỉnh) và các tính năng thiết kế mô hình DHKH (chất lƣợng công nghệ, công cụ trực tuyến và hỗ trợ trực tiếp) với kết quả học tập. Nó nhằm xác định các yếu tố dự đoán quan trọng về hiệu quả mô hình DHKH lấy đặc điểm của SV (thái độ và tự điều chỉnh) và đặc điểm thiết kế mô hình DHKH nhƣ các biến độc lập và kết quả học tập dƣới dạng biến phụ thuộc.
Một cuộc khảo sát đƣợc tiến hành trên 238 ngƣời để thu thập dữ liệu về đặc điểm của SV, các tính năng thiết kế mô hình DHKH và kết quả học tập. Nhiều kết quả phân tích hồi quy cho thấy các đặc điểm thiết kế mô hình DHKH và đặc điểm của SV đã dự đoán sự hài lòng của SV về kết quả học tập. Mô hình DHKH thuận lợi phát triển năng lực tự học cho ngƣời học: Qua hoạt động tự học có hƣớng dẫn, ngƣời học tích cực tham gia vào hoạt động học trên lớp "thật" và trên lớp học "ảo". Ngoài có đƣợc kiến thức về chuyên môn, ngƣời học còn đƣợc rèn luyện và phát triển các năng lực.
Gồm các năng lực nhƣ năng lực tự học trực tuyến, năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực giao tiếp, năng lực CNTT & TT cũng nhƣ các năng lực chuyên biệt của môn học. Theo Aycock, Garnham, & Kaleta (2002) [68]; King & Hildreth (2001) [48]; Đại học Wisconsin (2005) [79] nghiên cứu thấy rằng, SV có đƣợc các kỹ năng máy tính hữu ích từ các khóa học kết hợp mà chúng sẽ giúp ích cho họ trong công việc. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Haytko (2001) [45]; Leh (2002) [49] thì các SV cho biết họ cảm thấy bị áp lực và lo lắng nếu họ thiếu kỹ năng công nghệ. Nhƣ vậy, nếu SV tham gia các lớp học kết hợp các thì sẽ dần dần đƣợc nâng cao kĩ năng CNTT.
Mô hình DHKH giúp giảm chi phí và nâng cao hiệu quả dạy học: Khi sử dụng mô hình DHKH làm giảm chi phí đào tạo trực tiếp, đặc biệt là cho các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp và các trƣờng đại học, nhƣ chi phí đi lại, ăn ở, tài liệu học tập (dạng bản in)…; đồng thời sẽ cải thiện việc giảng dạy cho các lớp đông. Theo Utts, Sommer, Acredolo, Maher, và Matthews (2003) các SV cảm thấy khóa học kết hợp hiệu quả công việc cao hơn các khóa học giáp mặt (face to face) [80]. luan an 11 Nghiên cứu của Osguthope & Graham (2003) đã chỉ ra sáu lí do để chọn thiết kế hoặc sử dụng một hệ thống DHKH, bao gồm: (1) sự phong phú của tính sƣ phạm, (2) thuận lợi cho sự hiểu biết, (3) sự tƣơng tác xã hội, (4) cơ quan cá nhân, (5) chi phí hiệu quả, (6) dễ dàng sửa đổi [44]. Kết quả nghiên cứu của Graham, Allen & Ure (2003) cho thấy, đa số ngƣời dân chọn mô hình DHKH vì ba lí do chính: (1) hoàn thiện tính sƣ phạm (2) tăng tính truy cập và sự linh hoạt (3) giảm chi phí [44].
Nhƣ vậy, hai công trình nghiên cứu trên đều nêu lên ƣu điểm giảm chi phí khi sử dụng mô hình DHKH. Trƣờng Đại học New Mexico đã thiết kế lại môn “Tâm lý học” cho 2250 SV của họ bằng việc áp dụng mô hình DHKH. Theo đó, tỷ lệ thi rớt môn giảm xuống 42%, các SV đạt điểm C trở lên lại tăng từ 60% lên 71% nhờ mô hình học tập này (Whitelook, 2004) [66]. Trƣờng Brigham Young đã sử dụng mô hình DHKH cho 3400 SV năm nhất cho khóa học viết báo.
Các giờ học thí điểm ban đầu cho thấy các bài viết của SV học theo mô hình này có chất lƣợng hơn rất nhiều các bài báo của SV học theo hình thức học giáp mặt (face to face). Nó còn tiết kiệm đến 41% chi phí giảng dạy cho nhà trƣờng (Whitelook, 2004) [66]. Để đánh giá tổng hợp hiệu quả của mô hình DHKH, có nghiên cứu của nhóm tác giả gồm Means, Toyama, Murphy, Bakia, Jones (2010) [52]. Có 46 nghiên cứu thực nghiệm trong bối cảnh phổ thông và đại học tại Mỹ đã đƣợc nhóm tác giả tổng hợp và đƣa ra kết luận rằng, mô hình DHKH mang lại hiệu quả học tập.
Có sự khác biệt lớn về kết quả học tập của ngƣời học khi so sánh giữa mô hình DHKH và dạy học theo kiểu giáp mặt. Kết quả này là do mô hình DHKH đã tạo ra đƣợc môi trƣờng học thực học sâu (deep learning), học có ý nghĩa (meaningful learning) cũng nhƣ phát triển tƣ duy phê phán và hình thức học cấp cao, nó cũng tạo ra môi trƣờng làm việc độc lập và tự kiểm soát việc học nhƣ Garrison và Kanuka (2004) [42] đã khẳng định. Từ những năm 2000, nhiều nƣớc trên thế giới nhƣ ở Bắc Mỹ, Tây Âu, Châu Á và Châu Đại Dƣơng (Úc và New Zealand) đã xuất hiện mô hình DHKH [33]. Việc ứng dụng mô hình DHKH trong giáo dục đã đƣợc triển khai rộng rãi trên thế giới và đạt đƣợc những hiệu quả nổi bật, minh chứng bởi nghiên cứu của các tác giả trên khắp thế giới.
luan an 12 Tại Hoa Kỳ, 80% các trƣờng đại học ứng dụng mô hình DHKH trong đào tạo.